- Số 632 - Thứ Sáu - Ngày 22.02.2008

 

----------Tu Éch Di Dan----------

Những người tu hành cũng thế, khi tu thân chưa đạt, thì dù có mặc áo cà sa lâu năm lên tới chức sắc cao như đại đức, thượng tọa, huề thượng... hay làm linh mục cũng có nhiều sai phạm nghiệm trọng, gây tổn thương không nhỏ cho uy danh của đạo giáo. Người tu và người thường không khác nhau về mặt cuộc sống, ai cũng ăn, uống, ngủ... không khác gì định luật Trời Đất: sinh lão bịnh tử trong triết học Phật Giáo. Người thường và người tu đều có những nhu cầu về thân xác, từ đó có khả năng sinh ra những hệ lụy thường tình như: hỷ, nộ, ái, ố, tham, sân, si. Những người nào bất kể là vị xuất gia, tu học cao hay những người thường trong cuộc sống, nếu có căn bản gốc vững chắc về đạo làm người, thì họ ít bị vấp phải những sai phạm nêu trên. Trái lại những người tu mà thiếu căn bản đạo làm người, hay bị vấp ngã vào những nhu cầu thông thường của cuộc sống, lý do là họ vẫn còn mang trong người cái xác phàm tục, có nhiều khuyết điểm, dễ bị vi trùng xâm nhập và cũng dể bị những điều xấu tiêm nhiễm vào trí óc do cuộc sống xã hội đầy cám dỗ. Thi Hào Nguyễn Du công nhận:
Thiện căn bởi tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Đọc kinh cầu nguyện là điều đương nhiên của mọi tôn giáo, nhưng không phải chỉ đọc kinh suông là đủ để giải thoát hay đủ tiêu chuẩn để lên thiên đàng sau khi thân xác trở về với cát bụi. Đó là điều mà một số người vẫn lầm tưởng, chỉ biết tu riêng cho mình mà quên đi nhiều người chung quanh, không màng tới dân tộc, thế giới, nhân loại. Đức Giáo Hoàng, ngoài việc đọc kinh thánh cầu nguyện cho hòa bình thế giới, Ngài còn thực hành tôn chỉ của đức toàn năng với mục đích tạo cho thế giới hòa bình, mang tình thương Thiên Chúa khắp cùng nhân loại. Ngài đã hành đạo tích cực với kết quả là tận diệt loài quỷ đỏ vô thần nơi quên hương Ba Lan, đẩy lùi chủ nghĩa vô thần, mang tình thương hòa bình tới mọi người. Huề thượng Thích Huyền Quang, Quảng Độ, thượng tọa Tuệ Sĩ, Trí Siêu... linh mục Nguyễn Văn Lý cũng đọc kinh cầu nguyện như bao nhiêu tu sĩ khác. Nhưng các vị ấy còn hành đạo tích cực: đấu tranh lấy lại quyền tự do tôn giáo, tự do hành đạo mà bọn quỷ Đỏ Cộng Sản đã tước đoạt, dùng những kẻ lợi dụng tôn giáo để làm công cụ cho quỷ đỏ qua việc thành lập các giáo hội nhà nước: lấy đảng trị đạo, dùng đạo phục vụ đảng vô thần.
Đọc kinh cầu nguyện cho hòa bình thế giới, quốc thái dân an... ngay cả việc cầu nguyện cho đảng Cộng Sản tiêu tan cũng không làm cho quỷ bị tận diệt. Trái lại chúng còn vui mừng khi thấy người ta chỉ đọc kinh suông trong thanh tâm trường an lạc, không màng tới việc đấu tranh, tuy nhiên vừa đọc kinh vừa đấu tranh hành đạo chắc chắn làm cho quỷ khiếp sợ và sụp đổ. Hành đạo rất cần thiết trong mọi hoàn cảnh, nhất là vào thời kỳ pháp nạn, ma quái lộng hành, rất cần những bậc tu hành ra tay hành đạo, sát cánh với tín đồ toàn dân sớm giải ách Cộng Sản, mang lại an lạc, thái bình tình thương cho mọi người. Người đi tu với nguyên vọng đầu tiên là giải thoát cho bản thân thoát khỏi cảnh trầm luân khổ ải trên thế gian, còn việc hành đạo cứu nguy cho dân tộc, cứu khổ, cứu nạn cho hơn 80 triệu người là một công đức to tát, vừa cứu mình, cứu đạo, cứu đời, cứu nước. Điều nầy đã được Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, vị sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo gởi gấm lời khuyên tu hành cho tín đồ:
Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Đền xong nợ nước thù nhà,
Thiền môn trở gót, Phật Đà Nam Mô.
Căn bản đạo đức bản thân vô cùng cần thiết trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nắm vững nguyên tắc ấy, nên trong suốt cuộc đời ăn nhậu, Tư Ếch ít khi bị thảm bại trên chiến trường, nhờ ăn nhậu có trình độ cao mà bà Uyên, một phụ nữ khó tánh lớn tuổi phải lòng chỉ sau cái lần gặp gở đầu tiên đầy lưu luyến tại nhà Út Vàng, để rồi tình nguyện đi theo nâng khăn sửa túi cho hết cuộc đời còn lại.
Con Yến có nhiệm vụ đưa vợ chồng Tư Ếch về nhà, săn sóc và lo tất cả mọi vấn đề vật chất. Khi thấy người dượng của mình đã bị thấm mệt nên nó dành ưu tiên băng sau cho Tư Ếch nằm, còn bà Uyên ngồi ghế trước. Là dân chơi có nhiều kinh nghiệm, từng lăn lóc giang hồ từ tuổi vị thành niên cho đến khi gối mỏi chân chùng, nên Tư Ếch cố gắng giữ bình tĩnh điều chỉnh hơi thở cho hơi rượu ra bớt, vận dụng trí óc kiểm soát lời nói để con cháu không khinh khi. Đây không phải là lần đầu tiên bị say, mà nhiều lần cũng đã nằm đo ván, được bạn bè, thân nhân mang xác về chăm sóc.
Hiu hiu gió thổi đầu non,
Những thằng ăn nhậu
là con Ngọc Hoàng.
Ngọc Hoàng ngự giữa ngai vàng,
Thấy con uống rượu hai hàng lệ rơi.
Tưởng rằng con uống con chơi,
Nào dè con uống, con rơi xuống sình.
Dù đang choáng men say vì đã lỡ uống nhiều loại rượu cùng một lúc, nhưng Tư Ếch vẫn còn nhớ tới bài ca của một người bạn nhậu ở Việt Nam thời thanh niên: Trong xóm có một người bạn cùng trang lứa là Hai Hùng con bà giáo Sáu Châu, ông già nó chết yểu lúc nó mới 3 tuổi. Tư Ếch kết bạn ăn nhậu từ thời còn là cậu con trai 15 tuổi, cả hai sớm từ giã tuổi hoa niên để bước vào cuộc đời đi làm mướn. Hai Hùng cưới vợ sớm 17 tuổi lên chức cha, nhưng tánh ham chơi ăn nhậu xả láng, khiến vợ con khổ sở. Nhậu khét tiếng, thường cho chó ăn chè bất kể nơi đâu, không phân biệt nhà mình hay nhà khách, bợm nhậu đặt hỗn danh là Hai Hèm. Do nhậu quá nhiều từ nhỏ, chính Tư Ếch còn phải đầu hàng bởi cái tánh liều mạng, khi nhập trận bất kể trời trăng mây nước, cứ mang ly cối rót đầy rượu đế thách thức người khác. Tới khi tuổi bước vào hàng ba thì cơ thể bệ rạc, đôi mắt lúc nào cũng lừ đừ. Đáng sợ nhất là Hai Hèm còn lấy rượu chan vô cơm, ngồi ăn tỉnh bơ. Thằng bạn nối khố khi say thường đọc bài thơ nầy, tự hào là dân nhậu thuộc dòng dõi trên trời. Nhiều lần cũng bước lạng quạng té mương, có lần nằm luôn mấy tiếng đồng hồ, bị trúng gió tưởng chết. May là nhờ vợ nó đi tìm, thấy chồng nằm mê man, la hoảng réo bà con cạo gió cắt lể mới tỉnh lại.
Sau năm 1975, tình trạng kinh tế khó khăn dân chúng bị đánh tư sản, đổi tiền nhiều đợt, việc làm hạn chế. Bị thất nghiệp dài dài, cơm không đủ ăn gia đình nheo nhóc, nhưng Hai Hèm không thể bỏ được rượu, có lẽ con sâu rượu đã nằm ứng trực trong bao tử trường kỳ mai phục. Mỗi ngày phải có ít nhất là một xị đế mới khỏe, nếu không là cơ thể vật vưỡng, chóng mặt, ói mửa. Tình trạng nầy càng gây phiền toái cho vợ con, nhưng không thể làm gì khác hơn, tội nghiệp con vợ nó nhiều lúc phải nhịn gạo để mua rượu cho chồng, đồ đạc trong nhà được mang ra bán hết. Một hôm không có rượu uống, Hai Hèm bị con men hành nằm lăn lộn nên không thể đi làm công tác thủy lợi do xã phát động. Sau đó bị kêu lên làm việc, trong lúc không kiểm soát được đầu óc, nó cãi lộn tay đôi với cán bộ, đánh luôn Công An xã. Bị bắt còng giải vô trại tù cải tạo vì tội phản động, chống phá chính sách lao động của nhà nước. Bị tù ba tháng thì qua đời do kiệt sức vợ con khóc dữ lắm, nhà không có tiền để mua hòm chôn. Thời may thằng Hai gởi tiền về, Tư Ếch giúp đỡ tặng 100 đô la để lo đám táng. Trong cơn say, những kỷ niệm vui buồn hiện tới, khiến Tư Ếch chảy nước mắt khi nhớ vụ Hai Hèm năm xưa, một người bạn xấu số đã vĩnh viễn ra đi về đất mẹ, bỏ lại sau lưng những ngày xưa thân ái, từng ngồi bên nhau chung một bàn cụng ly, nâng chém trong những lúc có chút tiền trong tay, hay tình cờ bắt được con rắn hổ đất vĩ đại, con kỳ đà, trăn... Làm sao quên được những ngày còn thơ ấy, quê hương Việt Nam đẹp quá, nơi sinh ra chứa chan bao tình người, kỷ niệm. Nhưng giờ đây tất cả đều bị hủy hoại sau ngày Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam, gieo đại họa cho hàng triệu người, gia đình ly tán bạn bè kẻ mất người còn lưu lạc khắp nơi. Nhưng may mắn mới được lưu lạc ở xứ người như Tư Ếch, còn những ai còn kẹt lại Việt Nam, cuộc sống khốn đốn.
Những suy nghĩ miên man, mờ ảo hiện ra trong đầu, chợt đến rồi đi như người sống trong ảo mộng. Người say có những cảm giác lâng lâng ấy. Bỗng cánh cửa sau bật mở, giọng người vợ chắp nối vang lên:
- Tới nhà rồi, anh vô nghỉ.
Tư Ếch biết chắc là tiếng vợ mình, nhưng toàn thân như khối thịt bất khiển dụng, cố gắng ngồi dậy mà không được, miệng cố nói:
- Để anh xuống.
Bà Uyên đứng chờ vài phút cũng không thấy cục cựa, đoán biết chuyện gì xảy ra nên đưa tay kéo chân lôi ra. Tư Ếch mơ màng:
- Tới nhà chưa em? Cho anh lên giường.
Bà Uyên dìu chồng ra khỏi xe, hình ảnh giống như người nữ cứu thương trên chiến trường năm nào, vượt vòng lửa đạn để cõng người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, mang về hậu phương chữa trị. Những bước dìu nhẹ nhàng của vợ, được Yến phụ giúp nên thân thể người say được đặt ngay trên bộ ghế salon trong phòng khách, vì hai người đàn bà yếu đuối không thể đưa lên lầu. Vốn có nhiều kinh nghiệm, Uyên lấy nước ấm đắp vào trán và đồng thời pha ly chanh nóng cho uống.
Thời gian lạng lẽ trôi qua, cơn say chí tử cũng là lúc bao nhiêu giấc mộng chập chờn chợt đến, Tư Ếch thấy mình đang ở lứa tuổi thanh niên, tung tăng trên cánh đồng lúa chín, vung tay hái gặt những bụi lúa mộng vàng. Rồi mùa xuân tang tóc 1975 xảy tới như cơn ác mộng, nước mắt chảy ròng ròng trước cảnh người vợ hiền là má thằng Hai bị du kích bắn chết thi thể đầy máu, đứng nhìn mà lòng uất hận, nhưng không dám lên tiếng vì sợ bị chụp mũ là phản động, tù cải tạo kế bên...
Thấy mình được bảo lãnh, miệt mài khói lửa với bà Chín Ú trong những ngày cuối cùng của mối tình già, nhiều lần cùng nằm bên nhau thề quyết xông pha đưa nhau về nguyên thủy loài người, lòng cảm thấy hối hận vì nỡ lòng phụ bạc người tình già nặng ký sau khi tìm được mối tình mới. Ngày ra phi trường rộn rịp như được sống lại lần nữa, gặp ông Tây kế bên nói chuyện bập bẹ tiếng Anh như con nít mới học nói. Gặp luôn con đầm Julia vợ đầu tiên của thằng Hai, tức giận khi thấy nó trổ mòi ngoại tình, ôm hôn và cắn môi thằng Tây Martin trước mặt cha con Tư Ếch mà không biết thẹn. Rồi hai hàng nước mắt tuôn tràn khi nhớ tới đứa cháu nội lai: đầu gà đít vị, nửa Úc nửa Việt đang ôm lấy vai mình, kêu bằng: Grand father nghe thân thương làm sao, nhưng ngăt là nó không biết nói tiếng Việt, lòng buồn bã con cháu mất gốc. Bỗng thấy bà Hạnh hiện ra, gặp nhau trên đường phố mà tưởng như xa lạ, quên hết những ngày tháng hạnh phúc tràn đầy trong tình nghĩa vợ chồng. Tư Ếch giận xám mạt khi bà Hạnh cả gan dám dẫn một người đàn ông lạ, tới giới thiệu là người chồng mới bảo lãnh từ Việt Nam qua, nhìn kỹ thì ra là thằng Bảy Nghêu, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Huyện. Tức giận la lớn:
- Tao tố cáo mầy là cán bộ Cộng Sản ở đây cho bà con biết, mầy đã giết nhiều người, thân nhân qua đây đưa ra tòa án xử, ở tù nghe...
Trong giấc mơ chập chờn qua men rượu tác động mãnh liệt mà Tư Ếch còn nhớ tới luật pháp ở nước tự do, trong đó có cả tòa án quốc tế là: không dung tha bất cứ những kẻ nào gây ra tội ác chống lại nhân loại như giết người hàng loạt, điển hình là những người cầm đầu trong chế độ Quốc Xã Hitler. Nhìn thấy thằng Chủ tịch Huyện qua được nước tư theo đơn bảo lãnh mà tức lộn gan lên đầu, thế nào cũng tố cáo nó. Với bao tội ác trong vụ tết Mậu Thận, Việt Cộng giết và chôn sống hơn 4 ngàn người ở Huế, riêng thằng chủ tịch huyện nầy cũng đã giết nhiều người trong trận đó, nó đốt nhà nhiều người dân trước khi rút lui, lúc đó Bảy Nghêu làm chỉ huy huyện đội. Sau ngày 30.4, nó trở về làm chủ tịch huyện, ăn cướp nhà dân lấy xe, tàu, vàng, hiếp dâm mấy phụ nữ trong huyện mà nạn nhân không dám tố cáo, la lên vì sợ bị chụp mũ là phản cách mạng, nói xấu cán bộ nồng cốt nhà nước ưu việt... Tội ác tày trời nầy làm sao quên được, Tư Ếch tự trách mình sao ngu quá, bảo lãnh làm chi con Hạnh, nó bỏ mình ngang hông còn về Việt Nam rước cán bộ Việt Cộng qua đây chọc tức.
Bao nhiêu hình ảnh quay cuồng trong cơn say chí tử, thỉnh thoảng la lớn nói chuyện như đang đối diện với người trước mặt. Bà Uyên và con Yến cố gắng chăm sóc cho người say, sợ lớn tuổi mà say quá dễ đi theo ông theo bà, về bên kia thế giới đoàn tụ với tổ là Lưu Linh. Vừa đắp nước nóng cho uống chanh nóng mà không thấy Tư Ếch mở mắt, mà còn nói chuyện rì rầm như mắc đàng dưới, thỉnh thoảng la lớn, cười cười... làm cho Yến hơi lo:
- Có sao không dì?
Bà Uyên là người có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề đối phó với người say rượu, nên lắc đầu trấn an:
- Không sao đâu cháu, để ổng nằm nghĩ từ từ tỉnh lại thôi. Bữa nay ảnh hứng uống dữ quá, khiến anh Ba phải đầu hàng.
Yến chưa hết lo:
- Nhưng mà cháu thấy Dượng la sảng như người bị sốt cao, sợ quá.
Nói tới đây, nó bèn chạy tới học tủ đựng thuốc lấy cái nhiệt kế ra đút vô miệng Tư Ếch, một lúc sau yên tâm:
- Không có sốt cao, chắc không sao đâu.
Bà Uyên xác nhận:
- Dì biết chuyện nầy không nguy hiểm, tại ổng hăng máu uống một lúc ba bốn thứ rượu nó vật chết là thường. Dì sợ nhứt là uống lộn xộn, dễ chết lắm.
Quay sang hỏi Yến:
- Cháu có khi nào thấy thằng Đức đi nhậu say như vậy không?
Yến lắc đầu:
- Từ ngày biết ảnh ở trên tàu, sau nầy làm quen đám cưới, cháu chưa bao giờ thấy ảnh say. Ảnh không thích uống rượu, cả nhà cũng không ai nhậu. Người Tàu mà, họ chỉ lo làm ăn không chơi như người Việt mình, tuy vậy nhưng ở nhà cũng có rượu, bia đãi khách. Cháu đâu có cấm ảnh uống rượu đâu tại ảnh uống không được. Có lần đi đám cưới, ảnh uống có một chai bia mà mặt đỏ gay cháu phải lái xe, sợ cảnh sát bắt là bị phạt nặng.
Bà Uyên góp ý:
- Như vậy là cháu có phước lớn mới gặp thằng Đức không biết uống rượu. Người Tàu cũng có nhiều người uống rượu thầy chạy luôn. Sau năm 1975, nhiều người Tàu cũng tập nhậu để quên ngày tháng, của cải bị đánh tư sản sạch. Họ còn phải biết nhậu để tiếp xúc với cán bộ công an biên phòng, chạy chọt lo vượt biên, đăng ký tìm tự do.

(xem tiếp kỳ sau)

 

 

 

 

 

 


——————