- Số 633 - Thứ Sáu - Ngày 29.02.2008

 

• Tội ác: Albert De Salvo, tên thắt cổ giết người liên hoàn

 

Vũ Hải

Người dân Boston sống trong nỗi kinh hoàng. Năm bà già bị ám sát: cả năm người đều bị thắt cổ chết tại nhà riêng theo cùng một phương pháp. Rõ ràng là có một tên giết người hàng loạt đang tung hoành trong thành phố! Và quả nhiên, cùng với thời gian, hàng chục phụ nữ khác lần lượt bị thảm tử với chiếc nơ trên cổ, ký hiệu đặc biệt của tên sát thủ liên hoàn thành Boston!
***
Vào đêm 11 tháng 6 năm 1962, ông Juris Slesers, 25 tuổi, đi lên cầu thang chung cư nơi má anh đang trú ngụ và gõ cửa phòng bà. Chung cư tọa lạc trên đường Gainsborough St, ở thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Jurist đã hứa với mẹ tối nay sẽ đến đưa bà đi dự lễ tại nhà thờ Latvian Lutheran Church ở vùng Roxbury gần đấy. Bà Slessers, 55 tuổi, hai mươi năm trước đã đào thoát khỏi xứ Latvia, lúc đó đang bị cộng sản Liên Sô chiếm đóng. Trong ba tháng qua, kể từ khi thằng con trai dọn nhà ra ở riêng, bà đã sống thui thủi một mình trong căn phòng nhỏ, trên từng lầu ba của chung cư.
Gõ cửa mãi không thấy động tịnh gì, nghĩ là mẹ mới chạy ra phố mua đồ, Juris liền ngồi ở bậc thang trước cửa chung cư, kiên nhẫn chờ đợi. Đợi hơn ba tiếng đồng hồ mà vẫn không thấy tăm dạng mẹ, Jurist bắt đầu cảm thấy lo. Anh đi ngược trở lên lầu, gõ cửa rầm rầm và réo gọi mẹ. Vẫn không có tiếng trả lời, anh liền tông cửa vào phòng.
Jurist vào phòng khách và phòng ngủ tìm mẹ, nhưng không thấy, cả hai căn phòng dường như bị lục lạo một cách cẩu thả, đồ đạc vất bừa bãi. Bấy giờ anh mới tiến về hướng phòng tắm và phát hiện ra bà Anna Slesers nằm dưới sàn, ngoài cửa phòng tắm. Bà chỉ mặc một cái áo khoác dài, không thắt dây lưng, vạt áo bung ra, để lộ thân hình trần truồng. Chân trái bà duỗi thẳng, chân phải co lại, để hở phần thân dưới. Có một người nào đó đã dùng dây lưng của chính bà Slesers, quấn nhiều vòng, xiết chặt cổ bà. Hai đầu dây còn dư được thắt thành một cái nơ nằm dưới cằm nạn nhân. Rõ ràng bà đã chết khá lâu.
Chỉ trong vòng vài phút sau cú điện thoại của Jurist, cảnh sát đã có mặt tại hiện trường. Sĩ quan biệt phái James Mellon cầm đầu nhóm điều tra án mạng. Mặc dù không có vật gì bị mất cắp, Mellon kết luận ngay, rõ ràng đây là một vụ giết người tàn nhẫn. Bà Slesers đã bị hiếp và thắt cổ cho đến khi tắt thở. Mới đầu, Mellon giả định rằng, có một tên đạo chích đột nhập vào phòng định ăn trộm, nhưng khi bắt gặp bà Slesers ăn mặc hở hang, y nổi thú tính, liền hiếp bà, sau đó sợ bị nhận diện, liền giết người diệt khẩu.
Cảnh sát tiến hành cuộc điều tra vụ án thật tỉ mỉ: đến gõ cửa nhà lân cận hỏi thăm từng người một; phỏng vấn tất cả bạn bè, bà con, thân quyến nạn nhân; câu lưu một số người từng có thành tích bất hảo để thẩm vấn. Tuy nhiên, vụ án không tiến triển được chút nào, và chẳng bao lâu sau, đã chìm vào quên lãng. Vào thời ấy, mỗi tuần có một vụ án mạng xảy ra tại thành phố Boston. Việc đều tra vụ án bà Slessers đã không hề tìm ra một manh mối gì đáng nghi, vì vậy cảnh sát đành phải thú nhận, rất khó lòng tìm ra hung thủ.
Hai tuần sau, vào lúc năm giờ chiều ngày 30 tháng 6 năm 1963, bà Nina Nichols, 68 tuổi, đã hồi hưu cư ngụ ở số 140 Commonwealth Avenue, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ. Bà mới về vùng quê nghỉ mát và viếng thăm bè bạn mấy ngày qua. Vừa về đến nhà, bà Nichols liền gọi điện đến cho chị là bà Marguerite Steadman, báo cho chị biết mình sẽ ghé qua nhà chị ăn cơm tối vào khoảng sáu giờ ngày hôm nay. Hai chị em tán chuyện gẫu qua đường dây điện thoại được một lúc thì bà Nichols xin lỗi: "Chị ơi, em phải cúp máy ngay, vì có ai đang nhấn chuông kêu cửa. Em sẽ gọi lại sau. OK".
Nhưng bà Nichols đã không gọi lại và đồng thời không hề đến ăn cơm tối tại nhà chị như đã hứa. Đợi từ sáu giờ tối đến bảy giờ tối vẫn không thấy bóng em, bà Marguerite bắt đầu hơi lo lo, liền nhờ ông chồng là luật sư Chester Steadman điện thoại cho em mình hỏi thăm xem sao. Chuông điện thoại réo mãi mà không có ai nhấc máy. Chờ thêm nửa tiếng đồng hồ nữa vẫn không thấy có động tĩnh gì, hai vợ chồng bắt đầu lo sợ, chắc có chuyện chẳng lành gì đã xảy ra. Bà Nichols nổi tiếng là người làm việc có phương pháp, tính tình tỉ mỉ, ngăn nắp và rất đúng hẹn. Có lẽ Nichols bị bệnh bất ngờ chăng? Người già tuổi đã lục tuần sức khoẻ đâu còn như xưa nữa? Để cho nhanh, ông Steadman liền điện đến nhờ người gác cửa là ông Thomas Bruce, yêu cầu đến gõ cửa phòng em dâu mình hỏi thăm xem.
Bruce đi lên lầu, gõ cửa, thấy không ai trả lời, liền dùng chìa khóa phụ mở cửa, định vào xem thử. Nhưng cuối cùng Bruce không hề đặt chân vào phòng. Những gì ông nhìn thấy từ cửa phòng là đủ lắm rồi, không cần bước vào chi nữa. Rõ ràng căn phòng đã bị trộm đến viếng: ngăn kéo bị lôi ra, quần áo, đồ đạc nằm la liệt khắp nơi.
Từ chỗ mình đứng, Bruce có thể nhìn thẳng vào phòng ngủ ở ngay phía trước, và trên sàn là thân thể trần truồng của bà Nichols. Vòng quanh cổ bà, bị cột chặt đến nỗi cứa vào thịt rướm máu, là một đôi vớ nylon dài. Hai đầu vớ được thắt lại thành hình cái nơ ở dưới cằm.
Sau khi được thông báo, tức khắc trung úy thám tử Edward Sherry và bác sĩ Michael Luongo đã có mặt tại hiện trường. Hai người kết luận ngay, vụ án này và vụ án bà Slesers giống nhau như hệt. Cả hai nạn nhân đều bị cưỡng dâm, bị thắt cổ chết, cơ thể trần truồng và tên sát nhân để lại một chữ ký đặc biệt: cái nơ dưới cằm xác chết. Không có dấu hiệu gì chứng tỏ cửa phòng bị cậy phá, như vậy hiển nhiên nạn nhân đã mời khách vào, không ngờ rước luôn tử thần vào cửa. Tuy đồ đạc trong phòng đều bị xục xạo tứ tung nhưng không có gì bị lấy đi, mặc dù có nhiều đồ quý và dễ lấy như vòng vàng, nữ trang và máy chụp hình nằm trên bàn.
Vì những lý do trên, cảnh sát kết luận: tên sát nhân ngay từ đầu không hề có ý định trộm đạo hay cướp của. Hắn lục soát tứ tung chỉ với mục đích muốn đánh lạc hướng cảnh sát mà thôi. Vậy thì tên này muốn gì?
Chỉ mới có hai án mạng, chưa thể kết luận và công bố một cách vội vã là có một tên giết người hàng loạt đang tung hoành, làm quần chúng sợ hãi. Tuy nhiên trong thâm tâm, Sherry và các bạn đồng nghiệp sợ rằng, họ đang phải đối đầu với một kẻ điên loạn, chuyên giết người vì tình dục, đang hoạt động trong thành phố Boston. Theo kinh nghiệm cho thấy, những kẻ có đầu óc thác loạn như vậy một khi đã nhúng tay vào tội ác là không thể nào tự kìm chế nổi, cứ giết hoài cho đến khi bị bắt chứ không thôi.
Không bao lâu sau, mối lo sợ này đã trở thành sự thật. Chỉ hai hôm sau, vào ngày 2 tháng 7 năm 1962, cảnh sát nhận được một cú điện thoại của một người hàng xóm bà Helen Blake, 65 tuổi, một nữ y tá hồi hưu. Họ báo rằng đã mấy ngày qua không thấy tăm hơi bà Blake. Bạn bè nghi có chuyện chẳng lành, liền mượn chìa khóa phụ của phòng bà từ một người coi nhà. Khi họ mở cửa, nhìn thấy nhiều dấu hiệu cho thấy dường như phòng đã bị cướp đến viếng, nhưng không thấy bóng dáng bà Blake. Sợ hãi không dám tự tiện tiến vào, những người hàng xóm tốt bụng này liền gọi cảnh sát.
Khi cảnh sát tiến vào phòng, họ tìm thấy Helen Blake đang nằm sóng soài, lật úp trên giường ngủ. Thân người bà trần truồng, chỉ mặc có một áo pyjama mỏng, áo bị cuốn lên tận vai, để lộ phần thân trên. Bà bị hiếp và bị thắt cổ chết, tên sát nhân tàn độc đã dùng vớ nylon của chính bà để thực hiện hành động ghê rợn nêu trên. Tên sát nhân còn dùng nịt vú của bà kết thành một cái nơ, quấn quanh cổ. Khám nghiệm tử thi cho thấy, Helen Blake đã bị chết từ ba hôm nay.
Khi được thông báo chi tiết vụ án mới nhất này, ông McNamara, tư lệnh trưởng lực lượng cảnh sát thành phố Boston, than: "Trời ơi, có một thằng điên đang tự do tung hoành trong thành phố Boston". Lúc đó ông McNamara không ngờ rằng ba vụ án mạng này chỉ là khởi đầu, và trong vòng 18 tháng sắp đến sẽ có tổng cộng mười phụ nữ bị hiếp và thắt cổ chết tại Boston. Cả thành phố sẽ bị tê liệt vì kinh hãi. Tầm mức của vụ án này vào thời đó có thể so sánh tương đương với vụ án Jack tên mổ bụng người (Jack The Ripper), xảy ra ở Luân Đôn 75 năm trước.

Một Cuộc Săn Người Vô Tiền Khoán Hậu.
Đáp lời kêu gọi khẩn thiết của người dân thành phố Boston, là phải chấm dứt ngay những vụ giết người kinh khủng này, cảnh sát mở một chiến địch săn người vĩ đại nhất trong lịch sử tội phạm vào thời đó: Nhà chức trách xử dụng mọi phương pháp, kỹ thuật điều tra được biết, kể cả khoa học lẫn siêu hình học. Các chuyên gia tội ác dùng máy tính điện tử, đồng bóng, tâm lý học, phân tâm học, thuốc nói thật, thuật thôi miên, nhân chủng học, chuyên gia phân tích chữ ký và chuyên gia giảo nghiệm tử thi. Nhưng cuối cùng, nhà chức trách nhận thức được một điểm quan trọng: họ đang đấu trí với một tên sát nhân rất tàn độc nhưng đồng thời thật thông minh, nham hiểm. Hắn có thể đi vào nhà người lạ mà không cần dùng chìa khóa hoặc nạy cửa, chuyên giết đàn bà, con gái và không bao giờ để lại một vết tích gì.
Vào ngày khám phá ra xác Helen Blake, tư lệnh trưởng Mcnamara ra lệnh cấm trại một trăm phần trăm, không một cảnh sát viên nào tại thành phố Boston được nghỉ phép cho đến khi thủ phạm bị bắt. Cảnh sát câu lưu và thẩm vấn tất cả những người đã từng bị kết án hoặc bị tình nghi là đã từng phạm tội liên can đến tính dục. Và những ai được cho phép xuất viện từ bệnh viện tâm thần trong vòng hai năm qua, nếu là đàn ông nằm trong hạn tuổi 18 đến 40, đều bị cảnh sát tìm đến điều tra.
Cảnh sát mở một buổi hội thảo với phóng viên nhà báo và đưa ra các yêu cầu sau: phụ nữ, đặc biệt những người sống đơn chiếc, phải luôn luôn khóa cửa nhà và cửa sổ, không nên mở cửa cho phép người lạ vào nhà vì bất cứ lý do gì, và báo cáo tức khắc với cảnh sát khi để ý thấy người nào có vẻ khả nghi cứ lẩn quẩn quanh nhà, cũng như nên báo cáo luôn những cú điện thoại hoặc thư nặc danh, có nội dung thô tục.
Họ thành lập một đường dây điện thoại khẩn cấp có người túc trực trả lời 24/24 tiếng đồng hồ, để kịp phản ứng trong trường hợp nguy cấp. Trong vòng vài tuần sau, cảnh sát đã nhận được hàng vạn cú điện thoại và thư báo, nội dung bày vẽ cách điều tra, trình bày sự nghi ngờ, sợ hãi hoặc tin nghe lỏm được ở đâu đó mà họ cho là có liên quan đến vụ án.
Trung úy Sherry và Donovan, sĩ quan biệt phái Mellon và thám tử Phil DiNatale, cùng với hàng chục thám tử khác bỏ rất nhiều thời giờ đi điều tra những lời báo cáo kể trên để xem hư thật, hy vọng sẽ tìm ra một manh mối để bắt đầu, dù nhỏ nhặt cách mấy cũng có thể sẽ rất hữu dụng sau này.
Đến gần cuối tháng tám 1962, không có vụ án mạng tương tự nào xảy ra nữa, và McNamara bắt đầu hy vọng, có lẽ tên giết người đã thỏa mãn thú tính, bây giờ "treo vớ" giải nghệ rồi chăng? Nhưng đến ngày 21 tháng tám 1962, hy vọng này bị tan thành mây khói: người ta lại vừa tìm thấy một xác chết mới: xác bà Ida Irga.
Bà Ida Irga là một quả phụ 75 tuổi, khi tìm thấy, đã chết được hai hôm. Bà bị tên sát nhân dùng tay bóp cổ chết, và cổ bị thắt nơ, lần này hung thủ dùng áo gối. Như những nạn nhân trước, bà bị hiếp và phòng bị xáo trộn tứ tung, nhưng không có vật gì bị mất mát cả. Cảnh sát chắc chắn, bà Irga là nạn nhân thứ tư của tên thắt cổ thành Boston.
Mười ngày sau, tên sát nhân lại ra tay hành động nữa. Lần này nạn nhân là bà Jane Sullivan, 67 tuổi, làm nghề y tá, cư ngụ tại một chung cư ở vùng Dorchester, Boston, Hoa Kỳ. Xác bà được tìm thấy trong buồng tắm. Khảo nghiệm tử thi chứng tỏ, bà chết đã hơn một tuần trước khi được phát hiện. Xác bà quỳ trong bồn tắm, mặt và tay úp về phía trước, chìm ngập dưới mặt nước, mông chổng lên trời. Jane Sullivan bị tên sát nhân dùng vớ nylon của chính bà xiết cổ chết. Việc thắt cổ xảy ra ở chỗ khác, sau đó tên sát nhân đem xác bà vào bồn tắm và xếp vào tư thế kể trên. Trước khi ra đi, tên sát nhân không quên để lại trên cổ bà một chiếc nơ nhỏ.

Một Thành Phố Sống Trong Kinh Hoàng
Sau đó, ba tháng trôi qua mà không hề có một vụ án mạng tương tự xảy ra. Thay vì thở phào nhẹ nhõm, trái lại người dân Boston ngày càng thêm lo sợ. Không biết khi nào sẽ đến lượt mình đây? Riết rồi nhìn ai cũng thấy nghi, không biết có phải "HẮN" đây không? Bất cứ tên du thủ du thực nào, bất cứ ai hay vạch quần khoe... của quý, hay kẻ nào gọi điện thoại nói chuyện tục tằn... đều tự động bị nghi là "HẮN". Quần chúng sợ đến nỗi, có một bà nội trợ ở vùng Brockton bị lên cơn đau tim té chết khi bà mở cửa bỗng phát hiện một người đàn ông lạ đang đứng trước cửa. Ông này là người chuyên đi gõ cửa từng nhà để gạ bán bách khoa từ điển.
Báo chí nước Mỹ đăng toàn tin "tên thắt cổ thành Boston". Tờ Boston Advertiser khẩn thiết yêu cầu: "Xin đừng giết người nữa. Hãy đến gặp chúng tôi để được giúp đỡ. Anh là người bị bệnh tâm lý nặng. Chính anh cũng biết thế..." Tên thắt cổ giết người thành Boston không hề đáp ứng lời mời gọi thống thiết kể trên.
Cảnh sát, với sự giúp đỡ của các chuyên gia, đã rút ra được một "khuôn mặt tâm lý" điển hình của tên sát nhân. Họ tin rằng, tên này tuổi khoảng từ 18 đến 40, là dân da trắng, rất thông minh nhưng đồng thời bị bệnh thác loạn tâm thần. Có thể hắn là người đồng tính luyến ái hoặc lưỡng tính (đàn ông không tha, đàn bà không từ). Có thể hắn bị chứng schizophrenia. Những người mắc bệnh tâm thần này tính tình rất nóng nảy và rất đa nghi đến độ phi lý. Họ tin rằng mọi người đều là kẻ thù, lúc nào cũng đang ngấm ngầm tìm cách hại họ hoặc nói xấu họ khi vắng mặt. Hắn rất ghét đàn bà, nhất là phụ nữ đứng tuổi, và có lẽ mẹ của hắn là người rất độc tài. Nhưng cho đến lúc này, giới hữu trách vẫn chưa có một bằng chứng cụ thể nào có thể dẫn đến việc tìm ra tung tích tên giết người.
Khi vụ án thứ năm xảy ra vào ngày 5 tháng 12 năm 62, nó chứng tỏ rằng khuôn mặt tâm lý mà các chuyên gia đã rút tỉa ra là không được chính xác lắm. Nạn nhân mới nhất là cô Sophia Clark, có tính cách hoàn toàn trái ngược hẳn với loại người mà theo lý thuyết, tên này thích giết. Cô là một thiếu nữ da đen trẻ đẹp, mới hai mươi tuổi, lúc đó đang chia phòng sống chung với hai bạn gái khác.
Nạn nhân thứ sáu là cô Patrica Bissette, bị hiếp và thắt cổ chết vào đêm giao thừa, cũng là một thiếu nữ trẻ, mới 23 tuổi, người da trắng. Hiển nhiên là tên thắt cổ thành Boston giết người một cách tùy hứng, vì vậy, không có một phụ nữ nào sống ở thành phố Boston, dù già hay trẻ, da trắng hay da đen, sống một mình hay ở tập thể, có thể bảo đảm mình sẽ không là nạn nhân kế tiếp.
***
Vào ngày thứ tư 8 tháng 5 năm 1963, anh Oliver Chamberlin, 33 tuổi, đến thăm vị hôn thê là cô Beverly Samans, một nữ sinh viên cao học tại đại học đường Boston. Nhấn chuông hoài không thấy ai ra, Oliver liền dùng chìa khóa riêng mở cửa. Bước vào Oliver nhìn thấy xác Beverly ngay tức thì. Vợ sắp cưới của Olliver nằm sóng soài trên ghế nệm kiêm giường ngủ trong phòng khách, thân thể lõa lồ. Cườm tay nàng bị trói quặt ra sau lưng bằng sợi khăn quàng lụa, có gắn lông chim. Cổ nàng bị cột chặt bằng chiếc vớ nylon và hai tấm khăn mùi xoa thắt lại thành hình cái nơ. Tuy nhiên, Beverly đã không chết vì bị thắt cổ mà vì bị đâm hai mươi hai nhát vào cổ và ngực trái. Tuy nhiên, mọi người tin rằng, đây cũng là một nạn nhân mới của tên thắt cổ thành Boston. Beverly là nạn nhân thứ tám.
Bặt đi khoảng sáu tháng sau, tên sát nhân lại ra tay hành động nữa. Nạn nhân thứ chín là bà Everlyn Corbin, một phụ nữ vui vẻ, lanh lợi, 58 tuổi, đã ly dị. Một người hàng xóm tìm thấy xác bà. Evelyn Corbin bị hiếp, thắt cổ và xác bị phơi trần truồng, lộ liễu.
Lần này cảnh sát vẫn chưa tìm thấy vết tích quan trọng gì, ngoại trừ một cái bánh chiên hình vòng tròn (Doughnut) bỏ lại trên thang cấp cứu hỏa hoạn ngoài phòng bà.
Ngày thứ sáu 22 tháng 11 năm 1963 là một ngày đen tối trong lịch sử Hoa Kỳ mà người dân Mỹ sẽ không bao giờ quên: cố tổng thống Kennedy bị bắn chết trong khi đang đi diễn hành trên xe mui trần, vận động tranh cử tại thành phố Dallas, tiểu bang Texas. Ngày hôm sau, trong khi dân chúng Mỹ vẫn còn bàng hoàng tưởng như đang sống trong cơn ác mộng hãi hùng, tên sát nhân lại một lần nữa nhúng tay vào máu. Nạn nhân thứ mười là cô Joann Graff, một thiếu nữ tính hay mắc cỡ, mới 23 tuổi. Hắn thắt cổ Joann bằng áo Leotard đen (bộ đồ thun phụ nữ hay mặc khi tập aerobics) của chính nàng. Như thường lệ hắn bày thân thể trần truồng của Joann trên divan trong phòng khách.

Án Mạng Vào Năm Mới
Vào mùa Giáng Sinh năm 1963, người dân Boston cố quên đi những nỗi lo buồn để tận hưởng những ngày nghỉ ngơi, lễ lạt, hội hè đình đám lu bù, đầu óc không phải lo toan công ăn, việc làm như thường lệ. Tên giết người cũng biết điều, không ra tay hoạt động vào dịp này. Nhưng chẳng bao lâu khi dư vị của một năm mới chưa kịp qua thì hai cô Pamela Parker và Patricia Delmore đi làm về bỗng phát hiện một sự việc hãi hùng: Cô Mary Sullivan, người bạn gái ở chung phòng, mới 19 tuổi, đã bị giết một cách tàn nhẫn.
Đây là một vụ giết người ghê tởm và kỳ quái nhất từ trước đến nay. Theo bản báo cáo của cảnh sát: "Xác của Mary bị dựng ngồi trên giường, dưới mông được lót một cái gối, lưng dựa vào thành giường, đầu ngả sang bên vai phải, mắt nhắm, hai chân co lại, miệng sùi bọt máu và máu chảy mhễu xuống ngực phải. Ngực cùng thân dưới để trần và có một cán chổi thọc sâu vào âm đạo, còn ló ra ngoài một khúc dài..." Một cái nơ khổng lồ, thắt bằng vớ nylon và khăn quàng lụa, quấn quanh cổ Mary. Ở phía chân trái, tên sát nhân dựng một tấm thiệp mừng, với dòng chữ "HAPPY NEW YEAR" thật lớn.
Quần chúng thật phẫn nộ khi nghe kể lại vụ này và đòi chính phủ phải làm mạnh hơn nữa trong việc điều tra vụ án. Ông chánh Công Tố Viện tiểu bang Massachusetts tuyên bố, cơ quan của ông bây giờ sẽ trực tiếp cầm đầu cuộc điều tra và thành lập một lực lượng đặc nhiệm chuyên chú vào tên thắt cổ thành Boston.
Lực lượng đặc nhiệm làm việc ngày đêm không nghỉ suốt năm 1964, bỏ ra hàng ngàn giờ công. Mặc dù trong suốt năm không có thêm một vụ thắt cổ nào xảy ra nữa, nhưng cảnh sát vẫn nhất quyết tìm bắt cho bằng được tên thắt cổ gớm ghiếc này. Thỉnh thoảng họ lại bắt được một vài người đáng nghi đem về sở cảnh sát để nhận diện và thẩm vấn, rồi lại thả ra vì rõ ràng là không phải. Trong số này có nhiều nhân vật rất quái đản. Chẳng hạn, một tay làm nghề rửa chén nhà hàng, người gốc Phần Lan, một người bán giầy đồng tính luyến ái và cuồng tín, một cựu sinh viên đại học danh tiếng Harvard bỏ học vì tin rằng hắn là hóa thân của Othello (một nhân vật trong vở bi kịch cùng tên nổi tiếng của William Shakepeare, nói về một ông danh tướng da đen tính hay đa nghi, vì quá ghen tương đã bóp cổ chết người vợ yêu quý của mình là Desdemona). Ngoài ra còn nhiều tay dở dở ương ương khoái nhận quàng xiên tội ác của kẻ khác, cứ kéo nhau đến... đầu thú tự nhận mình là thủ phạm những vụ giết người hàng loạt.
Đến nùa thu năm 1964, cảnh sát vẫn chưa tìm được manh mối gì về tên sát nhân mặc dù đã chín tháng trôi qua kể từ ngày hắn giết Mary. Có người cho rằng, có lẽ "HẮN" đã dời nhà đi vùng khác, đã tự tử hoặc hối hận không nhúng tay vào tội ác nữa.
Nhưng đến ngày 27 tháng 10 năm 1964, sở cảnh sát vùng Cambridge, Massachusetts nhận được một cú điện thoại than phiền của một người nội trợ trẻ. Lời than phiền này giúp cảnh sát tìm ra một manh mối mới, có triển vọng sẽ dẫn đến thủ phạm chính của vụ án.
Người nội trợ kể lại, lúc đó bà đang nằm lim dim trên giường, sau khi tiễn ông chồng, một giáo sư đại học Cambridge, đi làm, bỗng có bóng một người đàn ông xuất hiện trước cửa phòng ngủ. Tên lạ mặt này tuổi độ ba mươi, dáng người tầm thước, mặc áo thun xanh lá cây và đeo kiếng đen thật rộng vành. Hắn từ từ tiến về phía bà, miệng nói trấn an: "Đừng sợ. Tôi là một thám tử cảnh sát". Người phụ nữ trẻ nhỏm dậy, thét đuổi hắn ra khỏi nhà ngay tức khắc, nhưng hắn đã nhảy lại, đè bà xuống giường, rút dao kề cổ, đe dọa: "Không được làm ồn. Nếu không sẽ chết".
Hắn tuột quần lót của bà, đem tọng vào miệng bà, rồi trói chân tay nạn nhân vào bốn chân giường, để nạn nhân nằm dang tay dang chân ngửa mặt nhìn trần nhà. Sau đó hắn quỳ xuống, hôn hít, mò mẫm cơ thể nạn nhân một lúc lâu. Bất chợt, hắn ngừng lại, đứng lên, nới dây trói cho lỏng một tí, rồi cảnh cáo: "Phải giữ yên lặng trong mười phút, không được la lối", rồi nói thêm giọng lịch sự lạ lùng: "Tôi xin lỗi vì đã làm cô sợ hãi." Nói xong, y bỏ chạy mất tăm.

Một Chuyên Viên Đo Đạc
Sau khi khai báo xong xuôi, nạn nhân cùng họa sĩ chuyên vẽ chân dung của cảnh sát đã bỏ ra nhiều tiếng đồng hồ để tái tạo khuôn mặt hung thủ dựa trên trí nhớ của nạn nhân. Sau khi hoàn tất, một thám tử cảnh sát nhìn vô bức hình liền vội vã kêu lên: "Hê, thằng này trông giống hệt tên chuyên viên đo đạc".
Tên "Chuyên viên đo đạc" là một nhân vật tai tiếng đối với lực lượng cảnh sát ở thành phố Boston. Vào năm 1960, hắn đã bị bắt và kết án tù với tội đột nhập gia cư bất hợp pháp và có hành động thô bỉ đối với phụ nữ. Hắn được đặt hỗn danh "chuyên viên đo đạc" là vì cái tật cứ giả làm nhân viên hãng quảng cáo, chuyên đi săn tìm tài năng mới để mướn làm người mẫu. Hắn thường gạt các cô gái nhẹ dạ cởi đồ cho hắn đo kích thước vòng ngực, vòng eo, chiều cao... xem có đủ tiêu chuẩn hay không. Tên thật của tên "chuyên viên đo đạc" này là Albert Henry DeSalvo.
Cảnh sát tức tốc phái người đến bắt DeSalvo, nhân viên tu bổ, 33 tuổi, về tổng hành dinh cảnh sát ở Cambridge để thẩm vấn. DeSalvo chối rằng không hề biết qua cô này nhưng nạn nhân nhận diện hắn một cách dễ dàng. Như thông lệ, cảnh sát gửi hình của DeSalvo qua sở cảnh sát ở các tiểu bang khác để họ kiểm lại hồ sơ. Họ rất ngạc nhiên khi nhận được phúc đáp.
Tin tức từ New Hamshire, Rhode Island, và Connecticut đổ về ào ạt cho biết, có hàng chục phụ nữ đã nhận diện được DeSalvo là người đã hiếp họ. Ở một vài nơi khác người ta đặt cho hắn cái biệt hiệu "tên mặc quần xanh" vì DeSalvo thích mặc quần dài màu xanh lá cây trong khi đi làm những trò tồi bại. Nếu các bản báo cáo là đúng sự thật, thì DeSalvo phải có một sức dẻo dai phi thường. Vì nội chỉ trong vòng một hôm, vào ngày 6 tháng 5 năm 1964, hắn đã làm ẩu tổng cộng bốn phụ nữ ở bốn vùng khác nhau trong tiểu bang Connecticut: New Haven, Hamden, Meriden và Hartford.
DeSalvo phủ nhận hết những lời buộc tội và từ chối không chịu trả lời thêm một câu hỏi nào cho đến khi hắn được phép nói chuyện với vợ, bà Irmgard, một di dân gốc Đức. Cảnh sát đưa vợ DeSalvo đến và đứng nhìn hai vợ chồng nói chuyện thì thào một lúc. Bỗng cảnh sát nghe bà Irmgard lớn tiếng khuyên chồng: "Albert, anh hãy thú thật hết đi. Đừng giấu giếm gì hết".
Ngay sau đó, DeSalvo nghe lời vợ thản nhiên lên tiếng thú nhận với thám tử điều tra: "Tôi chính là người đã đột nhập gia cư bất hợp pháp và cũng là người đã cưỡng hiếp khoảng hơn 400 phụ nữ trong những vùng quanh đây. Có một vài vụ hiếp dâm tôi chắc mấy ông còn chưa biết".

Ba Trăm Vụ Tấn Công
Khi cuộc điều tra được mở rộng, dựa theo lời khai của hung thủ, cảnh sát mới nhận thức, Desalvo đã không nói khoác. Theo tài liệu thu thập được, giới hữu trách ước tính rằng DeSalvo đã cưỡng dâm hơn ba trăm phụ nữ.
Cảnh sát đưa DeSalvo về khám nghiệm tâm thần tại bệnh viện tiểu bang Boston, trong khi chờ ngày ra tòa xử vụ án "Tên mặc quần xanh". Sau khi chẩn đoán, các bác sĩ phân tâm học và tâm lý học công nhận: "DeSalvo bị bệnh schizophrenia nặng và có khuynh hướng hay tự vận".
Vào ngày 4 tháng 2 năm 1965, chánh án Edward A. Pecce ra lệnh nhốt DeSalvo vào bệnh viện Bridgewater State Hospital trong khi chờ ngày luận tội.
Lẽ ra DeSalvo phải bị bắt ngay từ lúc cảnh sát bủa rộng mạng lưới trong vụ "tên thắt cổ thành Boston" ba năm về trước. Nhưng vì một sự sai lầm về mặt hành chánh (có lẽ thư ký làm việc hơi cẩu thả vì lúc đó có quá nhiều tin từ khắp nơi đổ về), DeSalvo được liệt kê trong máy tính điện tử là một tay đạo chích, chuyên đột nhập gia cư bất hợp pháp để ăn trộm thay vì phải liệt kê hắn là kẻ chuyên hiếp dâm. Vì vậy khi cảnh sát bắt và thẩm vấn rộng rãi khắp nơi, DeSalvo đã may mắn thoát lưới. Bây giờ cảnh sát muốn biết, "tên mặc quần xanh" và "tên thắt cổ thành Boston" có phải là một không?

Một Mực Từ Chối Không Nhận Tội
DeSalvo sợ hoảng hồn khi nghe cảnh sát bảo là có thể hắn đã nhúng tay vào máu: "Không, không bao giờ!", hắn khóc tức tưởi: "Tuy tôi đã làm nhiều việc ghê tởm đối với phụ nữ, nhưng tôi không bao giờ giết họ".
Mới đầu cảnh sát hơi tin DeSalvo, vì xét ra tính tình hắn không hợp với khuôn mặt tâm lý mà chuyên gia đã đề ra ba năm trước, rõ ràng DeSalvo không có đủ tinh khôn để tránh khỏi bị bắt như "tên thắt cổ thành Boston".
Trong bệnh viện Bridgewater, DeSalvo làm quen với một kẻ sát nhân tên George Nassar và chẳng bao lâu hai người trở nên thân thiết, hay tâm sự với nhau. Khi nói chuyện, tuy không ra mặt công nhận, nhưng DeSalvo thường ngụ ý ám chỉ, chính y là "tên thắt cổ thành Boston".
Lúc đó cảnh sát đang treo giải thưởng $110,000 đô la cho bất cứ ai cung cấp tin tức dẫn đến việc bắt và kết án thành công "tên thắt cổ thành Boston". Nasser nhận ra đây là cơ hội ngàn năm một thuở để làm giàu nên y tức tốc báo cho luật sư của y là ông F. Lee Bailey biết lời thố lộ của DeSalvo.
Ngay sau đó Bailey đến phỏng vấn Salvo và ghi âm hết những lời thú tội của hắn về mười một vụ thắt cổ ở Boston và hai vụ án mạng khác nữa mà cảnh sát không biết là có liên quan đến "tên thắt cổ thành Boston".
Bailey nộp bản sao băng thu thanh lời thú tội của DeSalvo cho cảnh sát và Văn Phòng Ủy Viên Công Tố. Lúc đầu ai nấy đều tỏ vẻ nghi ngờ không tin. Không những DeSalvo không phù hợp với khuôn mặt tâm lý mà các chuyên gia đã đề ra, hắn còn có tiếng là hay khoe khoang, nói một tấc đến trời. Nhưng khi cảnh sát chất vấn thật tỉ mỉ, DeSalvo bắt đầu đề cặp đến nhiều chi tiết trong 11 vụ thắt cổ giết người mà chỉ có cảnh sát và hung thủ mới có thể biết được mà thôi. Những dữ kiện được cảnh sát cố tình giữ bí mật để nhân viên thẩm vấn dễ dàng phân biệt giữa lời khai của hung thủ thật và bọn khùng khùng hay thú tội ẩu hầu "lưu xú danh hậu thế."
DeSalvo vẽ sơ đồ các căn phòng của những chung cư nơi đã xảy ra án mạng. Dưới sự thôi miên của các chuyên viên thôi miên y cũng diễn tả thật chi tiết những vụ thắt cổ nghe ghê rợn đến dựng tóc gáy, nổi da gà.
Vào mùa xuân năm 1965, chiến dịch săn lùng thủ phạm vĩ đại đã đến hồi tàn cuộc với lời thú tội của DeSalvo. Bây giờ lực lượng đặc nhiệm chỉ còn có hai thành viên chính. Phó Văn Phòng Ủy Viên Công Tố John Bottomley bỏ ra nhiều tháng trời để thẩm vấn DeSalvo, lược lại từng chi tiết những gì đã xảy ra trong 13 vụ hiếp dâm, thắt cổ, giết người. Trong cuộc thẩm vấn, DeSalvo chứng tỏ có một trí nhớ khác thường. Hắn nhớ rõ và mô tả từng ly từng tí những gì hắn đã làm. Càng về sau, Bottomley càng tin tưởng, DeSalvo chính là "tên thắt cổ thành Boston" thật sự.
Bottomley lấy được lời tự thú, nhưng lại không tìm ra được một người nào để phối kiểm lời khai. Nạn nhân của của DeSalvo (trong vụ án thắt cổ) không thể đứng lên tố cáo hắn vì đều bị chết cả và điều khó khăn nhất là, trong cả 13 vụ sát nhân, không hề có một nhân chứng nào được chứng kiến tận mắt sự việc đã xảy ra hay nhìn thấy DeSalvo gần phạm trường.
Theo luật, tòa không thể buộc tội một người mà không có bằng chứng phối kiểm, dù rằng chính người này đã tự thú (đây là để tránh trường hợp nhận ẩu để lưu xú danh hậu thế hoặc nhận tội hộ người khác để cứu người). Vì lý do này, sau bao nhiêu năm làm việc cực nhọc, tốn không biết bao nhiêu tiền tài, vật lực, cảnh sát vẫn chưa thể đưa DeSalvo ra tòa để xử tội đích đáng.
Tuy nhiên DeSalvo đã gây nhiều tội ác khác và cảnh sát có đầy đủ tang vật và nhân chứng trong những vụ này. Vào những ngày cuối tháng Sáu năm 1966, DeSalvo bị đưa ra hầu tòa tại Tòa Án Địa Phương Quận Middlesex ở vùng East Cambridge. Mục đích của phiên tòa là để xác định xem, trạng thái tâm thần của DeSalvo có đủ để ra hầu tòa về vụ "tên mặc quần xanh" không.
Đây là lần trình diện trước công chúng đầu tiên kể từ khi hắn bị nhốt vào bệnh viện tâm thần Bridgewater vào ngày 4/2/1965. Mọi người đều biết, có lẽ DeSalvo là "tên thắt cổ thành Boston" nhưng không ai được phép đề cập đến việc này trong phiên tòa.
Bác sĩ Mezer và bác sĩ Tartakoff được mời làm nhân chứng cho công tố viện. Hai vị bác sĩ tuyên bố, theo ý họ, tuy DeSalvo bị bệnh tâm thần nặng phải bị nhốt vào dưỡng trí viện, hắn vẫn có đủ sáng suốt để ra hầu tòa. Nhưng bác sĩ Robey, người đã đưa đề nghị nhốt DeSalvo vào bệnh viện Bridgewater lúc trước, thì có ý kiến ngược lại.
Ông giải thích: "Theo ý tôi, DeSalvo bị bệnh schizophrenia, một bịnh kinh niên với triệu chứng thác loạn về mặt tình dục. Vì vậy, y không có đủ sáng suốt để ra hầu tòa, hắn sẽ không hiểu những gì đang xảy ra chung quanh mình và không tự kìm chế được bản năng nhục dục vì bị bệnh". Theo bác sĩ Robey, khi bị các trạng sư thẩm vấn và tái thẩm vấn tới tấp trên vành móng ngựa, DeSalvo có nguy cơ bị kích thích tâm lý nặng đến nỗi sẽ bập bẹ nói không ra lời.
Hai nhóm bác sĩ cãi qua cãi lại khiến vụ xử kéo dài đến mười ngày trời. Cuối cùng chánh án Cahill đi đến quyết định, chấp nhận bằng chứng của công tố viện là DeSalvo còn có đủ sáng suốt để ra hầu tòa.
Vào năm 1966 DeSalvo bị đưa ra tòa xử tội và bị tuyên án tù chung thân với tội danh: cướp có vũ trang, xâm nhập gia cư bất hợp pháp, trộm cắp, hành hung, và có những hành động trái thuần phong mỹ tục đối với bốn phụ nữ. Bốn người này tương đối may mắn vì còn sống để nhận diện kẻ thù.
Mặc dù cuối cùng DeSalvo không bị đưa ra tòa để xử vụ thắt cổ giết chết 13 người vì thiếu bằng chứng, giới chức hữu trách làm mọi cách để bảo đảm DeSalvo sẽ không bao giờ được tha và cũng không thể nào vượt ngục.
Nhưng tất cả những biện pháp đề phòng đều trở nên không cần thiết, vì vào ngày 26 tháng 11 năm 1973, người ta phát hiện Albert DeSalvo đã chết trong căn phòng giam tại nhà tù Walpole State Prison. Hắn bị đâm 16 nhát dao trí mạng. Nhà chức trách không hề tìm ra thủ phạm vụ giết người này.
Vũ Hải (SGT)

 

 

 

 

 


——————