banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Bình Thuận tháng 4-2008 nhìn về tháng 4-1975

Phạm Hoài Hương
(Đốc Sự HC Phạm Ngọc Cửu Phó Tỉnh Trưởng Bình Thuận)

Bây giờ là những ngày đầu tháng 4-1975. Từ khi Ban Mê Thuột bị tràn ngập hôm 10/11 tháng 3, tiếp theo quyết định di tản chiến thuật Kon Tum, Pleiku. Tin tức xấu về cuộc chiến đang được loan truyền một cách mạnh mẽ không chỉ từ bộ máy tuyên truyền của Hà Nội, của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, của cán bộ Cộng Sản nằm vùng hoạt động trong dân chúng... mà còn được phù trợ từ đài BBC và một số cơ quan truyền thông có tầm vóc quốc tế.
Thủ đô Sàigòn, cơ quan đầu não của Miền Nam VN, chế độ hiện hữu đang bị tấn công dồn dập, không chỉ có Việt Cộng trên chiến trường, mà còn từ những người mặc quần áo kaki mang danh quân đội sẵn sàng chờ một cuộc đảo chánh. Bên cạnh đó các nhà tu áo đen xuống đường chống tham nhũng cùng với một số dân biểu quốc hội mang danh đối lập và đặc biệt cũng là lần đầu tiên và cũng chỉ một lần, những nhà làm báo viết báo còn có cái tên ký giả, mang bị gậy xuống đường ăn mày.
Tất cả các sự kiện đó với câu hỏi - tại sao lại xảy ra vào cái lúc Việt Cộng xé bỏ hiệp định Paris tràn qua sông Bến Hải mở cuộc tấn công qui mô khắp phòng tuyến tại miền Nam VN. Không cần phải là nhà tiên tri lý số, kẻ bàng quan cũng đã nhìn thấy được, chế độ mệnh danh là Quốc Gia Tự Do Miền Nam VN khó lòng mà tồn tại.
Đêm xuống, tại Trung tâm Hành quân Tiểu Khu nằm cạnh Dinh Tỉnh Trưởng, sau một ngày đầy căng thẳng, các hiệu thính viên, sĩ quan trực, bằng ngụy văn đôi khi cả bạch văn, liên tục "nhận và đáp" quên cả giờ ăn và nhìn nhau với cặp mắt cay xe mệt mỏi như ngầm hỏi điều gì sẽ xảy ra trong đêm nay?.
Bình Thuận, tỉnh cận Nam của Quân Khu 2 đang hứng chịu toàn bộ sức nặng của cuộc di tản chiến thuật từ Cao Nguyên đổ xuống, từ miền Trung duyên hải đổ vào: Quân với Quân, Dân với Dân, Cán Bộ với Cán Bộ. Quốc lộ 1 tràn ngập với đủ loại xe pháo của quân đội và chính quyền, thêm máy cày, máy kéo, xe Lambretta ba bánh, Honda, xe chở gỗ, xe đò... luôn cả xe đạp. Không gian kín đặc khói xe hoà tiếng gầm rít của âm thanh hỗn độn. Cư dân địa phương nhất là những người sống dọc theo quốc lộ 1, lần đầu tiên từ sau năm 1954, đã được chứng kiến sự kiện lạ thường này nhưng với nhịp thở nặng nề hơn trước. Biển cách không xa nhưng hôm đó người ta đã không còn nghe thấy tiếng sóng vỗ rì rầm và mùi mằn mặn của gió.
Dòng di tản phủ kín quốc lộ 1 như con khủng long đầy màu sắc từ Cà Ná giáp ranh Ninh Thuận đến Cây số 25 địa đầu của tỉnh Bình Tuy. Khi đoàn di tản sắp vào thị xã Phan Thiết. Tất cả đã khựng lại không thể về Sàigòn vì đoạn quốc lộ Bình Tuy - Long Khánh, đã bị VC chốt cứng ở Rừng Lá và Long Khánh, đang là trận địa cấp sư đoàn. Tại Bình Tuy, đường vào thị xã cũng bị Tiểu khu phong tỏa và giải giới ngay tại ngã ba cây số 46 vì không đủ sức tiếp nhận.
Đã có một số xe cộ khi tới Phú Long không đi thẳng vào Phan Thiết mà lại rẽ về hướng Phước Thiện Xuân tới quận Hải Long (Mũi Né), hy vọng kiếm được thuyền dánh cá xuôi về Vũng Tàu. Đa số còn lại cứ đi vì bị đẩy tới như không thể nào cưỡng lại được, để rồi bị dội ngược trở lại và Thị xã Phan Thiết nhận chịu tình huống xấu nhất như đã dự liệu.
Sân Tòa Hành Chánh đêm nay im vắng hơn mọi đêm. Trung Uý Nguyễn Thành Bang, Trung Đội Trưởng Trung Đội Công Vụ đã tăng cường thêm binh sĩ canh gác cổng chính và cổng phụ cùng với cuộn kẽm gai giới hạn khoảng cách. Ngoài ra còn đích thân kiểm tra từng đầu giờ nhắc nhở đề phòng đặc công.
Dinh Tỉnh trưởng im lìm, ánh sáng mờ nhạt khác với mọi đêm nhưng bên trong các phòng thì rực ánh điện. Từ cuối tháng 3 sau khi Ban Mê Thuột bị tràn ngập, tin tức tình báo ghi nhận địch đang tập trung vùng Hoài Đức, Tánh Linh, chuyển vận lương thực. Do đó Đại tá Ngô Tấn Nghĩa đã đi đến kết luận "Quốc lộ 1 sẽ bị cắt khiến cho hai quận Hoài Đức, Tánh Linh khó lòng giữ được"... Tỉnh BìnhThuận phải nghĩ tới giải pháp vận chuyển nhu yếu phẩm bằng đường biển như đã từng xảy ra trước năm 1970. Ở sườn phía Tây, hành lang giáp tỉnh Lâm Đồng là Quận Định Quán (Long Khánh) đã bị địch chiếm, áp lực sẽ đè nặng xuống Quận Thiện Giáo nhưng diễn biến không giống thời kỳ ngưng bắn 27/1/1973. Đồng lúc VC sẽ pháo kích dồn dập vào thành phố kể cả khu đông dân cư. Sau đó sẽ tấn công từ bên ngoài vào cùng với các tổ đặc công theo đoàn di tản trà trộn sẽ nổ súng từ bên trong.
Trong một phiên họp tham mưu, Đại Tá Nghĩa đã gợi ý "Để có thể yên tâm chiến đấu, hãy sắp xếp gởi gia đình về Sàigòn nếu có thân nhân, hoặc tạm thời lánh ra Quận Hải Long. Tỉnh sẽ tạm thời bỏ ngõ thành phố, bảo vệ ưu tiên các cơ quan, xã, ấp, các liên tỉnh lộ, chờ đoàn di tản đi qua sẽ tái lập trật tự. Bình Thuận đang sẵn sành chiến đấu cho tình huống mới này, không trông chờ vào sự yểm trợ của quân chính quy đến từ Quân khu hay Sàigòn. Những người lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát, Xây Dựng Nông Thôn, Cán Bộ các ngành... đã hiểu rõ công việc của mình, sẽ phải làm để không còn một Mậu Thân khác tái diễn."
Thử thách của ngày ngưng bắn có hiệu lực 27/1/1973, chỉ với đơn vị cơ hữu, đã đẩy địch ra khỏi 21 vị trí trong đêm, trước 5 giờ chiều trong ngày chốt cuối cùng đã bị thanh toán. Giờ đây trước sự kiện hỗn loạn đang xảy ra nhưng Việt Cộng tại địa phương đã không đủ sức thực hiện ý đồ chia cắt quốc lộ, tấn công các đơn vị và đồn bót xa xôi.
Vào hạ tuần tháng 3/1975, Bình Thuận có một vài thay đổi nhân sự quan trọng:
- Trung Tá Vương Đăng Phong, Tiểu Khu Phó TKBT được bổ nhiệm chức vụ mới - Tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng TK Lâm Đồng. Mọi người mừng cho Trung Tá Phong thăng tiến trong vai trò mới va cũng mừng cho Bình Thuận có Trung Tá Phong ở Lâm Đồng, sườn phía Tây của tỉnh sẽ an toàn hơn cho Quận Thiện Giáo. Tiếc thay Trung Tá Phong với thời điểm muộn màng, đã không còn cơ hội đảo ngược tình thế khi Quận Định Quán của Long Khánh đã mất, khiến cho phòng tuyến phía Nam ngày mỗi bị áp lực địch nặng nề, trong khi cả Quân Khu lẫn Trung Ương không còn lực lượng trừ bị để gởi tới tăng cường hay có kế hoạch yểm trợ phản công. Cuối cùng như hầu hết Quân Công Cán Cảnh VNCH, Trung Tá Phong bị kẹt lại với đàn con nhỏ tuổi. Ông đi tù và vĩnh viễn nằm xuống nơi trại giam tù quân của Cộng Sản Bắc Việt ở Hoàng Liên Sơn, tận miền biên giới Hoa-Việt.
- Cùng lúc bên Tòa Hành Chánh, Đốc sự Phạm Hồ Tôn đã được Phủ Thủ Tướng bổ nhiệm Phó Tỉnh trưởng Khánh Hòa. Cuộc bàn giao đã không thành vì áp lực của địch đang đè nặng lên tuyến phòng thủ Khánh Dương. Và Nha Trang đang lên cơn sốt hỗn loạn vì dòng người từ Phú Yên đổ vào. Khánh Hòa đã sụp đổ ít ngày, khi tuyến phòng thủ Khánh Dương bị chọc thủng mặc dù được Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù tăng viện. Đốc sự Tôn sau đó đi tù ra tận miền Bắc, hoàn cảnh gia đình lâm vào tình thế khó khăn.
Đầu năm 1975 cũng là thời điểm cải tổ cơ cấu tiểu khu trên toàn quốc. Theo đó sẽ không còn vai trò Tiểu Khu Phó mà quyền hành lại tập trung vào chức vụ Tham Mưu Trưởng. Trung Tá Đỗ Trọng Trí, từ Quân Đoàn 2 về TK Bình Thuận, thay thế Trung Tá Mai Lang Luông giữ chức vụ trên. Trung Tá Luông, từng được khen tặng là người hùng của Mậu Thân 1968, khi còn là Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3/TrungĐoàn44/Sư Đoàn 23 BB. Đơn vị lúc đó ở Sông Mao được lệnh về giải tỏa Khu Lao Xá cạnh Dinh Tỉnh Trưởng. Lúc đó VC với đơn vị chủ lực đã chiếm Lao Xá, thả tù và trang bị vũ khí cho cán binh vừa được thả, chuẩn bị chiếm Tòa Hành Chánh để có một cuộc bàn giao và làm lễ thượng kỳ. Thời gian Đại Tá Nghĩa về làm Tỉnh Trưởng, chức vụ Tham Mưu Trưởng do Trung Tá Mai Lang Luông đãm trách.
Trong vai trò mới tại Tiểu Khu từ đầu năm 1975, Trung Tá Đỗ Trọng Trí có hai phụ tá: Thiếu Tá Phạm Minh, nguyên Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Quản Trị Tiếp Vận Bình Thuận, được cữ giữ chức Tham Mưu Phó Hành Quân Tiếp Vận. Thiếu Tá Hồng, Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị.
Có phải vì Bình Thuận là vùng đất biển giàu có, được cả nước biết tới vì nước mắm và ngư nghiệp, nên Hà Nội luôn muốn chiếm cho được vùng này?. Qua kinh nghiệm, nhiều người đã phân tích sự khác biệt mùi vị giữa nước mắm "cá cơm" của Phú Quốc, Rạch Giá (Kiên Giang) và nước mắm "cá nục" của Bình Thuận. Chính điều kỳ diệu này đã hấp dẫn người Việt cả nước và trở thành một người bạn thân quen như từ muôn kiếp trước, đã không thể thiếu được "nó" trong mâm cơm hằng ngày bất cứ tại nơi nào. Những ai mới đến Phan Thiết, khó mà thích nghi với mùi vị tanh tanh, nồng nồng, mằn mặn có mặt trong không gian, hoặc khi thả bộ qua cầu sắt vào lúc con sông Cà Ty đang trơ cạn hai bên bờ sẽ bắt gặp mùi bùn khó quên. Nhưng ở lại càng lâu, Bình Thuận trở thành thân thiết, đậm đà trong mỗi buổi ăn, nụ cười và tình người, cho dù đã xa cách chốn cũ vì nhiệm vụ phải đi đến chỗ mới hay vì oan nghiệt khi cộng sản có mặt, mà phải xa quê hương. Quân nhân, công chức, cán bộ được cử đến phục vụ tại Bình Thuận, ít người nghĩ rằng mình sẽ dừng chân ở đó lâu dài bởi trước năm 1970, Bình Thuận được xem như một vùng đất đầy khó khăn.
Thật vậy, từ năm 1968 về trước, 65% lãnh thổ do Việt Cộng khống chế. Quốc lộ 1 không được khai thông đã đành mà tỉnh lộ cũng không mấy an toàn khi di chuyển từ quận này đến quận khác. Quân nhân, cán bộ muốn về tỉnh và ngược lại phải trông cậy vào trực thăng của Mỹ hay bằng ghe thuyền. Du kích, cán bộ kinh tài VC công khai chận xe thu thuế, tuyên truyền. Đêm đến, chỉ mới ba bốn giờ chiều cán bộ xã ấp tìm đến các nơi chốn tạm nghỉ an toàn. Hôm sau tới tám chín giờ sáng khi ánh mặt trời đã soi rõ hết những nơi chốn nghi ngờ và quân đội mở đường xong, cán bộ mới trở về làm việc. Còn mìn bẫy giết hại đồng bào vô tội thì xảy ra thường xuyên.
Một ông tướng tư lệnh Quân Khu 2 vào thời kỳ đó, sau năm 1970 có dịp từ Sàigòn ra Nha Trang bằng đường bộ, đã dừng lại Dinh Tỉnh Trưởng thăm viếng và dùng cơm trưa, đã kết luận rằng, ngày ông mới làm tư lệnh QK2, mỗi buổi sáng họp tham mưu, nhắc đến Bình Định ở cực Bắc hoặc Bình Thuận ở cực Nam là mối nhức đầu, không ngày nào là không có đụng độ, thiệt hại xảy ra. Thế mà bây giờ quốc lộ 1 đã khai thông, xã ấp đã được bảo vệ, thật không ngờ có chuyện "ngược ngạo" như thế!
Vâng! đúng như vị cựu tư lệnh đã nhận xét và đó chính là điều cắt nghĩa tại sao Đại Tá Nghĩa giữ chức vụ Tỉnh/Tiểu Khu Trưởng lâu dài nhất trong số các cấp chỉ huy đầu tỉnh từ trước tới nay, mà không bị bứng đi với sự chống đối có kế hoạch của những nhà dân cử, những kẻ hoạt đầu chính trị, lợi dụng quyền hạn và sự tự do từ báo chí đến diễn đàn quốc hội. Người hiểu rõ khó khăn của Bình Thuận, hiểu rõ tài năng của vị chỉ huy đầu tỉnh, không ai khác hơn mà chính là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bởi chính ông cũng đã từng hành quân vùng đất dữ này khi còn là sĩ quan cấp úy.
Đầu năm 1975, trên đường về Phan Rang thăm nhà, Tổng Thống Thiệu đã ghé lại Phan Thiết gặp Đại Tá Nghĩa và nhấn mạnh là ông không muốn thay đổi tỉnh trưởng mới cũng như sẽ không bao giờ chấp thuận cho Đại Tá Nghĩa giải ngũ.
"Xin nhận nơi này làm quê hương dầu cho khó khăn". Hình như khó khăn là điều tạo ra sự gắn bó với nhau trước mục tiêu phải giải quyết, tình hynh đệ chi binh nẩy nở thành tin cậy, thân thương trong máu đổ, thịt rơi trước kẻ thù. Cùng với mệnh lệnh là sự có mặt đêm hay ngày và nhất là không đòi hỏi các cấp thừa hành phải nộp tiền để mua chức vụ. Do đó cấp số cơ hữu đơn vị của Tiểu khu luôn luôn là thặng số. Cảm động là mỗi lần phải đôn quân cho các sư đoàn. Những lúc đó đã có nhiều tiếng sụt sùi "em không muốn phải rời đơn vị xa Bình Thuận, xin cho em ở lại với ông già (Đại tá Nghĩa)". Ông già là tiếng gọi chung quen thuộc, không chỉ có ở những người lính, mà còn cả với các cấp chỉ huy dành cho Đại Tá Nghĩa.
Hành xử vai trò chỉ huy cao nhất của tỉnh, Đại Tá Nghĩa áp dụng nguyên tắc "tiễn người muốn ra đi và chào đón người mới đến". Nếu cần có thơ giới thiệu đến cơ quan mới và cũng trong tình chiến hữu hay các phái đoàn đến công tác, đều được tỉnh giúp cho chỗ nghỉ và bữa ăn. Ông nhấn mạnh, hoàn cảnh của họ trong thời buổi kinh tế khó khăn, phải đi công tác mà không mấy an lòng.
Nhìn lại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Thuận, cho thấy tình nghĩa quá đậm đà như Thiếu Tá Trần Hoạt (Phòng 4/TK), Thiếu Tá Nguyễn Văn Trị (Phòng 3/TK), đã có mặt từ khi mới cấp uý. Ngoài ra còn có nhiều sĩ quan khác như Thiếu Tá Hàng Phong Cao, trước năm 1971 là Chi Đoàn Trưởng thuộc Thiết Đoàn 8 Kỵ Binh cơ hữu của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, biệt phái cho TKBT. Ngày đơn vị này về Ban Mê Thuột, chính Đại Tá Nghĩa đã đề cử Th Tá Cao vào chức vụ Quận kiêm Chi Khu Trưởng Hàm Thuận (sau ra Hải Long) vì nhu cầu công vụ. Trường hợp này cũng đã xảy ra cho Thiếu Tá Huỳnh Văn Việt, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Diện Địa hết nhiệm vụ phải trở về lại đơn vị gốc, cũng được giữ lại làm Trưởng Ty Cựu Chiến Binh, Trung Tá Mai Lang Luông hết làm Tham Mưu Trưởng TK, lại được biệt phái sang Tòa Hành Chánh giữ chức Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Bình Định - Phát Triển. Đặc biệt các Trung Tá Nguyễn Hòa, Thiếu Tá Trần Hoạt, đã tới tuổi giải ngũ, vẫn được giữ lại làm việc tại Hội Đồng Tỉnh. Ngay cả Đại Tá Nghĩa cũng đã coi mình là dân bản địa, vì ông chẳng những đã tạo được sự thương mến tình cảm với mọi người sau khi mang lại an bình cho dân chúng và trong vai trò tỉnh/tiểu khu trưởng, Đại Tá cũng đã ba lần bị phục kích suýt bỏ mạng khi ông có mặt tại chiến trường như một người lính tác chiến đang lâm trận.
Không ai bắt một vị tỉnh trưởng đi vào nơi lửa đạn chốn hiểm nguy đến sinh mệnh của mình, nếu không có tấm lòng thương lính thương dân. Bảy ngày một tuần, có đến năm ngày đi đến các nơi đóng quân, đơn vị. Có đến ít nhất ba đêm ngủ lại các xã ấp đồn bót xa xôi. Cần gì phải tập họp đếm đầu số quân đơn vị, cần gì phải kiểm soát trách nhiệm của cấp chỉ huy?. Muốn đơn vị của mình mạnh, trong sạch, không ăn chận, không lính ma lính kiểng. Điều quan trọng trước tiên người chỉ huy cao nhất phải là tấm gương. Đó là câu trả lời tại sao Đại tá Ngô Tấn Nghĩa ở cương vị tỉnh tiểu khu trưởng Bình Thuận lâu nhất tới 6 năm, so với 19 đời tỉnh trưởng, người lâu nhất cũng chỉ có 3 năm.
Năm 1991 tôi đến Hoa Kỳ diện HO, tôi hiểu được nhiều điều hơn về Đại Tá Nghĩa. Sự trốn thoát chế độ Cộng Sản đến Thái Lan sau tháng 4-1975 thật ly kỳ. Từ đôi bàn tay trắng, ông và người con trai Ngô Quang Lễ đã quần quật lao động từ sáng sớm trong giá rét căm căm, chuẩn bị bán thức ăn cho dân lao động Mỹ. Khi đến thăm, nhìn thấy sự vất vả của Đại Tá Nghĩa, hỏi ông tại sao?
- Mình còn có gia đình, phải làm để có tiền đem qua, mình sang trước anh em sang sau, có dịp gặp nhau mời bữa cơm ly rượu, đến các buổi sinh hoạt đóng góp, gởi cho anh em chút đỉnh. Không làm không thể sinh hoạt được.
Tôi hỏi Đại tá Nghĩa "Đại Tá có nghĩ gì về Bình Thuận? Làm gì cho Bình Thuận?"
- Mình nghĩ đến vấn đề nước uống cho Phan Thiết, mình nghĩ về đê đập cho đồng ruộng để mở rộng canh tác, thóc gạo để cho nông thôn, mình nghỉ về nền ngư nghiệp. Đánh bắt cá tôm theo phương pháp hiện đại, làm sao để ngư dân không quá lệ thuộc vào các nhà giàu. Mình có cả hồ sơ về các dự án trên.
Tôi bước vào hoạt động cộng đồng, hoạt động đấu tranh với khả năng mà tôi có, qua đó tôi tiếp xúc với nhiều hạng người, chưa kể con số đông mà tôi đã nhận diện trong các trại giam Cộng Sản, một thời ngồi ở các chiếc ghế béo bở cao sang. Tôi không trách họ vì số tuổi tác vì tuổi tù dài quá, mà tôi buồn buồn cho sự thầm lặng của họ, buồn vì tự họ đánh mất cái chỗ đứng của người Việt Quốc Gia trước công cuộc chung đang cần.
Năm nay Đại tá Nghĩa đang ở tuổi 85. Ngày 15-4-2007 ông vẫn còn đủ sức khỏe đến với Đại Hội Bình Thuận tại Nam California, nói lời Vinh Danh Dân Quân Cán Chính Bình Thuận, những người đã hy sinh và những người đang tiếp tục chiến đấu cho Bình Thuận. Ông ngồi lại với chiến hữu, đồng hương cho đến giờ chót. Trước câu hỏi của một số chiến hữu quan tâm tới sức khỏe "Sang năm có Đại Hội, Đại Tá có thể về với anh em không?" Không chút đắn đo "Về chứ, tôi vẫn còn có thể lái xe xuyên bang, chỉ khác với trước kia là chạy chậm bớt và nghỉ dọc đường nhiều hơn".
Nhưng cổ máy nào cũng có lúc phải tu bổ và bỏ cuộc. Đời người cũng vậy, Đại Tá Nghĩa vào tháng 11/2007 phải bước vào cuộc phẫu thuật tim và một số triệu chứng tiếp theo, ông cần có thời gian bình phục. Tôi đã cố gắng lên thăm ông, dù ông chưa nói được nhưng hiểu và biểu lộ sự cảm động bằng những ngón tay, ánh mắt. Tôi viết điều muốn nói lên giấy, ông đọc xong ra dấu đưa cho ông cây bút và ông ký tên lên chính giữa trang, nhìn tôi ngầm nhắn lời cám ơn đến các chiến hữu, đồng hương hỏi thăm về ông. Lễ, người con trai một thời chiến đấu bên cạnh nay lại tiếp tục lo cho ông. Anh tâm sự "Ông già chỉ muốn được nghe nói về Bình Thuận là ông mừng, có vậy thôi. Mình không sợ VC ở Bình Thuận, thì nay lại sợ gì mà không để cho bác sĩ làm phẫu thuật, và ông đã đồng ý".
Theo ngày tháng trôi qua, tin tức về chiến hữu, cán bộ các cấp, các ngành đã yếu đi về sức khỏe. Các hoạt động về cộng đồng, đồng hương tại hải ngoại đã bị ảnh hưởng ít nhiều. Lực bất tòng tâm như người xưa đã nói.
Một người Bình Thuận gọi báo tin "Huỳnh Văn Quý đã mổ tim, trong lúc gia đình lại có đứa con trai bị tử nạn", nghe mà xót xa ở trong lòng. Quý là một trong nhiều sĩ quan mà tôi đã có dịp gặp khi cùng Trung Tá Phong, Tiểu Khu Phó đi thăm đồn bót và xã ấp. Với tôi, an dân là điều tiên quyết của một đơn vị quân đội chịu trách nhiệm về một vùng lãnh thổ thu hẹp. Người lính cần được dân tin, dân thương thì mới tránh được thiệt hại do giặc phục kích, bắn sẽ, đặt mìn. Điều này rất dễ thấy vào thời kỳ quân đội của chúng ta còn nằm trong sự chi phối của Pháp. Dân thấy lính đến là sợ là tránh, do đó mà khó có an toàn. Trong khi Trung Tá Phong xem xét các vấn đề thuộc về quân sự, thì tôi tìm cách gởi gấm các cán bộ xã ấp và tình trạng các viên chức sở tại, nếu cần sẽ được thay thế kịp thời cho an lòng dân. Cái may là chúng tôi cùng ở vào cai tuổi suýt soát, cùng mới trải qua ngày tháng học đường, theo học các khóa sĩ quan trừ bị Thủ Đức, nên tất dễ thông cảm và tâm đắc về những gì cần phải làm cho Bình Thuận.
Tôi giữ các hình ảnh hào hùng mà tôi thường diễn tả như là một khúc phim chiến tranh. Buổi trưa hôm đó, tôi cùng Trung Tá Phong đi ra Bắc Bình Thuận. Khi xe ra khỏi Ấp Long Hiệp chừng non cây số thì bị VC tấn công cùng với pháo. Tôi nằm xuống cái rãnh bên vệ đường, trong khi Trung Tá Phong vẫn đứng thẳng trên xe Jeep mui trần, cầm máy truyền tin điều động quân. Không lâu tôi nghe có tiếng kèn thúc quân, tiếng hô xung phong và trước mắt tôi xuất hiện một Đơn Vị Địa Phương Quân do Huỳnh Văn Quý chỉ huy với đội hình hàng ngang, vừa nổ súng, vừa lao thẳng vào mục tiêu. Cái bóng dáng gầy gầy, tay cầm khẩu Colt 45, cùng vượt qua quốc lộ với người lính truyền tin bên cạnh. Tôi vẫn nhớ những ngày đầu tháng 4-1975, đặc công VC đã chiếm cầu Phú Long và chốt ở đó bằng mọi giá để giữ cầu cho xe tăng của chúng từ Phan Rang vào. Tiểu Khu nỗ lực giải tỏa và đơn vị của Quý lần nữa nhận trách nhiệm và đã hoàn thành. Quý sau 30-4-1975 đi tù, ra tù lại tiếp tục chiến đấu chống VC nên lại vào tù lần nữa. Chúng tôi trên đất định cư thường gọi thăm nhau, trao đổi tin tức và Quý đã tích cực góp phần vận động. Đồng thời anh đã tham dự Đại Hội Dân Quân Cán Chính ngày 15-4-2007, lần đầu tiên được tổ chức tại Nam Cali, kêu gọi đóng góp món quà Ân Tình cho Thương Phế Binh, Quả Phụ, Cô Nhi tại Bình Thuận.
Thiếu Tá Phạm Minh trong hàng ngũ Sĩ Quan Tiểu Khu và nhóm chơi quần vợt, đều gọi anh bằng cái tên thân mật "Minh Cọt". Tôi không có dịp tìm hiểu tên gọi này, chỉ gọi nó như một tình thân mà mỗi ngày ít nhất cũng có dịp gặp một đến hai lần trong phiên họp tham mưu buổi sáng hay trong sân Tiểu khu. Xuất thân khóa 16 Võ Bị Đà Lạt, từ Huấn Khu Dục Mỹ (Lam Sơn) đổi về Bình Thuận với vai trò Chỉ Huy Phó Trung Tâm Quản trị Tiếp Vận sau đó là Chỉ Huy Trưởng. Năng động, thể hiện rõ nét ở Minh là làm việc rất hăng say và cũng thật hào hoa phong nhã khi có dịp hội hè, nhảy nhót. Thiếu Tá Minh đã giúp Tòa Hành Chánh tỉnh những gì có thể giúp được trong tinh thần vì mục đích chính đáng, không đặt vấn đề điều kiện. Đầu năm 1975, Minh có vai trò mới: Tham Mưu Phó Hành Quân Tiếp Vận.
Vào thượng tuần tháng 4-1975, cuộc di tản xuyên qua Bình Thuận sau khi các tỉnh thị ngoài Trung lần lượt rút. Tình hình thật căng thẳng, chỉ ban ngày mới an tâm được đôi chút nhưng khi đêm về thì lo lắng vì áp lực của đích rất nặng nề. Đó là chưa nói tới những trái đạn pháo kích của VC đủ loại rơi đều đặn vào các khu vực đông dân cư như Phú Trinh, Bình Hưng, sát Tòa Hành Chánh, Tiểu Khu. Vào thời gian này, tôi vào ngủ trong văn phòng làm việc để có thể theo sát tình hình của Tỉnh. Có lúc tôi xuống Trung Tâm Hành Quân ngồi hàng giờ cùng với sĩ quan và các quân nhân đang làm việc. Nhịp đập của trái tim từ nơi này đã đem lại niềm tin cho các đơn vị xa xôi. Thiếu Tá Minh vào giờ giấc khuya khoắc này, chính là nhịp đập đó.
Một buổi sáng sớm, Minh gõ cửa vào văn phòng gặp tôi, ánh mắt mệt mỏi sau khi cho tôi biết tổng quát tình hình hình và ước tính những điều có thể xảy ra trong thời gian tới. Thiếu Tá Minh bày tỏ sự lo xa vì cho tới lúc đó, gia đình của Anh gồm vợ và ba con nhỏ vẫn còn tại Phan Thiết.
- Sao Thiếu Tá không gởi về Sàigòn? tôi hỏi.
- Bởi tôi chẳng có thân nhân ở đó, Anh phân trần.
- Sao không tạm ra quận Hải Long như đa số, tôi hỏi.
- Tôi cảm thấy không mấy an tâm vì nếu đã rời tỉnh thì phải đến chỗ... nhưng TT Minh không nói đủ câu.
- Hay là đưa chị và các cháu ra Đảo Phú Quý? Tôi chợt nghĩ đến và gợi ý.
- Có lẽ nên ra Đảo Phú Quý, Minh lập lại và trầm ngâm với ngón tay mân mê quai hàm. Nhưng hiện giờ thì tôi chẳng có tiền để đưa cho nhà tôi ra đó chi tiêu. Ông có thể hay có cách nào cho tôi mượn đỡ?
Tôi biết Thiếu Tá Minh không nói dối. Có thể có người cho rằng ở vai trò chỉ huy cơ quan tiếp vận, Thiếu Tá Minh có thể xoay xở dễ dàng. Nhưng như đa số sĩ quan các cấp Bình Thuận đều nghèo, cuộc sống chật vật vì ăn chận của Lính là điều không được phép. Nên tôi đã sẵn sàng ứng cho Thiếu Tá Minh chút tiền.
Chiều tối ngày 18-4, tôi ngồi trên chiếc ghe đánh cá đậu ngoài Bến thương Chánh. Qua máy truyền tin, theo dõi tình hình các đơn vị đang chạm địch. Lúc đó xe tăng của Bắc Việt đã vào đến sân Tòa Hành Chánh, Tiểu Khu và đang vượt qua Cầu Trần Hưng Đạo. Đạn lửa đại liên dâng kín các hướng. Điều đặc biệt là tôi không hề nghe Minh nói tới chuyện di tản hay xuống ghe, mà chỉ biết là Minh và các binh sĩ dưới quyền của mình đã di chuyển lên phi trường và quyết tâm tử thủ ở đó.
Phan Thiết thất thủ ngày 19-4-1975, tôi về Sàigòn ngóng tin ai còn ai mất, nghe Minh đã bị bắt vào tù cùng với nhiều quân nhân cán bộ khác của tỉnh. Lao xá chật ních, người người thấm đòn, qua cái gọi là "cách mạng".
Rồi thì xứ người là nơi đến, nghe tin TT Minh ở Cali, có lúc giữ vai trò Hội Trưởng Hội Đồng Hương Bình Thuận Nam Cali, mấy lần gọi điện thoại mà không gặp nhau. Gần đây lại có tin Minh bị Stroke, nghe buồn, nghe tiếc, ôi kẻ mất người còn... những năm tháng lao tù, đa số sức khỏe mỏi mòn.
Mới đây, sau Đại Hội Ân Tình gây quỹ cho Thương Phế Binh Bình Thuận. Anh em có quyết định nên dành thì giờ đi thăm gặp những đồng hương đang bị bệnh. Tôi nghe kể lại Minh khóc nức nở khi nghe nhắc tới Bình Thuận, nhắc lại những người cùng chiến đấu bên nhau. Buồn hay vui, một thực tế phải đối diện đau lòng.
Chiến hữu Quý từ Boston báo tin "Thái Phi Kích mất rồi vì bạo bệnh". Kích không xa lạ với tôi, phụ trách công việc Nhân Dân Tự Vệ Quận Thiện Giáo. Tôi đã có dịp ngồi bên nhau trong Lô Cốt ở cầu Phú Long, tâm tình làm được điều gì cho Bình Thuận. Kích đã đem lại cho tôi, với tư cách là Chỉ Huy Trưởng NDTV của Tỉnh, một số thành tích bảo vệ xã ấp và giết địch lập công. Năm 1988 ra tù, hỏi thăm kẻ còn người mất, tôi nhớ lại năm 1985 tôi cùng với 14 người khác từ Trại Hàm Tân, bị đày ra Trại Xuân Phước (Phú Yên) vói lời răn đe của Trại Trưởng "Ra đó để biết thế nào là kỷ luật". Tôi đã gặp Kích tại đây, thuộc Đội Lao Động nặng chuyên đào ao. Buổi trưa đội về, Kích đi tìm tôi với sự mừng rỡ, mừng vì còn sống, mừng vì còn gặp nhau. Kích mời tôi ăn cơm trưa chung với anh em, những con người mang án chung thân chống lại chế độ. Buổi cơm ấm áp tình chiến hữu, Kích không nói về mình mà chỉ bày tỏ những gì Kích nghĩ về tôi ngày còn làm việc bên nhau tại Bình Thuận. Sau đó tôi chuyển vào Phân Trại B, nơi giam tù gốc từ Côn Đảo trước năm 1975 với các tội hình sự. Ở Kích có những sự kiện như huyền thoại hào hùng, mặc dù thân nhân theo Việt Cộng trở về với cấp bậc cao. Nhưng Kích vẫn giữ tiết tháo của người Quốc Gia.
Từ trong trái tim, tôi thầm cầu nguyện, Kích ơi hãy an nghỉ như tôi đã cầu nguyện cho chiến hữu, cán bộ đã nằm xuống, khi được báo tin.
Và còn, còn nhiều những chiến sĩ cán bộ của Bình Thuận, mỗi khi được nhắc đến chúng ta sẽ không tránh khỏi bồi hồi, xúc động. Cái chết của Đại Uý Đại Đội Trưởng Đại Đội Trinh Sát Tiểu Khu Lê Văn Trò sau 30/4, của Xã Trưởng Dược (Lương Sơn). Cuộc chiến tuy đã tàn nhưng con người Cộng Sản vẫn tàn ác trả thù kẻ thua cuộc, một hình thức trả lời cái gọi là "khoan hồng" của Việt Cộng.
Nhân đây tôi kêu gọi các chiến hữu hãy cố nhớ lại, ghi lại những chiến hữu thân thương của mình đã chiến đấu và hy sinh như thế nào, để ghi tập kỷ yếu của Bình Thuận. Vừa rồi, chúng ta đã có dịp đọc qua những bài viết của các Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Đội Trưởng, Trung Đội Trưởng... qua cuộc chiến cũ. Toàn là những sự kiện sống động nhưng cũng từ đó, chúng ta hiểu ra được binh sĩ cấp thấp đã chiến đấu oai hùng như thế nào và cũng để cho chúng ta nhận diện những kẻ chiến đấu bằng mồm.
Sau cùng, từ chân tình của đứa con sinh quán Khánh Hòa, do cơ duyên đưa đẩy nhận Bình Thuận làm quê hương thứ hai, từ năm 1967 cho đến 5 giờ 30 chiều ngày 18-4-1975. Bình Thuận luôn trong lòng tôi nhất là những năm dài trong các trại tù Cộng Sản, từ Nam ra Bắc và ngược lại, cùng những năm tháng trên xứ người.
Bởi Khánh Hòa chỉ dành cho tôi kỷ niệm của thời thơ ấu, của mái ấm gia đình, của ngôi trường tiểu học, trung học, đại học... Trái lại Bình Thuận là nơi đã gắn liền với tôi máu xương của quân nhân, công chức, cán bộ phục vụ tại Tỉnh/Tiểu Khu, làm nhiệm vụ bảo vệ, an cư cho đồng bào.
Không ai muốn tiếc quá khứ nếu hiện tại là một sự thay đổi tốt đẹp. Quá khứ mà tôi muốn nói đến ở đây là những gì mà Quân Cán Chính đã góp phần cho Bình Thuận. Khi tôi vào tù, tôi nghĩ rằng Việt Cộng đã thắng cuộc chiến, chúng sẽ làm được nhiều điều tốt đẹp hơn cho quê hương, dân tộc. Bản thân mỗi người tại miền Nam, dù có mất mát ít nhiều. Điều đó có thể chấp nhận được. Thế nhưng sau mấy chục năm nhìn lại. Sự mất mát đó dài lắm, đã làm cho chúng ta nhức nhối, bởi nó không đóng góp điều gì vào lội ích của dân tộc, mà là một sự phí phạm quá lớn lao.
Việt Cộng đã tàn phá đất nước, không chỉ ở tài nguyên vật chất, mà chúng đã tàn phá nền luân lý, đạo đức, văn hóa truyền thống của Việt Nam. Không cần phải lý luận, từ khách quan nhìn ra chung quanh các nước láng giềng sẽ thấy rõ điều đó. Xin đừng đo lường bằng mấy tòa cao tầng, khách sạn, các trung tâm du lịch. Chứa nói đến ai là chủ nhân, ai là người hưởng dụng? Điều quan trọng là hãy đo lường đời sống của đồng bào. Thật vậy cứ nhìn đã có bao nhiêu trẻ con thất học, hãy nhìn có bao nhiêu thầy cô giáo đủ khả năng đứng lớp giảng bài?. Có bao nhiêu người không được chăm sóc sức khỏe, thuốc men? Có bao nhiêu người không có gạo để có bữa ăn bình thường, trong xứ sở xuất cảng gạo có hạng trên thế giới?. Nước mắm, muối, cá, tôm, mực... có còn được sắp hạng dẫn đầu về sản lượng xuất tỉnh hàng năm?. Tại sao lại có lũ lụt tàn phá nếu không bị lạm dụng khai thác vô tổ chức cây rừng.
Đất nước là của chung, đất nước không phải của đảng Cộng Sản gồm một số người tự xưng là lãnh tụ cầm quyền nhưng mà lòng dạ hẹp hòi, đầu óc đặc sệt, nên đã gây ra không biết bao nhiêu tội ác thiên cổ, đàn áp địa chủ phú nông, dàn áp văn nhân nghệ sĩ, đàn áp đối lập dân chủ... nhốt tù không cần luật pháp xét xử.
Tội ác tiếp nối tội ác. Sau tháng 5-1975 Việt Cộng tiếp tục cắt đất dâng biển cho Tàu Cộng. Tội bán nước cho ngoại bang làm sao có thể tha thứ được? Chẳng những đối với tiền nhân, lịch sử mà còn phải chịu muôn ngàn sỉ vã trước đồng bào cả nước. Trước tội ác này, Quân Dân Miền Nam đã có quyền hãnh diện ngẩng cao đầu về sự chiến đấu cao cả, hào hùng nhưng cô độc, để chống lại Khối Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế với quyết tâm giữ nước và bảo toàn lãnh thổ mà Tiền Nhân đã tốn không biết bao nhiêu máu xương mới dành được. Ngày 19-1-1974 đã xảy ra cuộc Hải Chiến Hoàng Sa giữ nước, giữa Hải Quân VNCH, chống lại giặc Tàu Cộng. Bao nhiêu anh hùng dân tộc, trong đó có Hải Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà và nhiều chiến sĩ Hải Quân khác, đã vì Tổ Quốc VN, đã vĩnh viễn nằm yên trong lòng biển lạnh Nhưng tên tuổi của họ, đời đời được lịch sử ghi nhớ không bao giờ quên.
Xin mọi người tiếp một bàn tay vì Đại Nghĩa Dân Tộc, trong đó có Bình Thuận chúng ta.
Tháng 4-2008
Phạm Hoài Hương