Quốc Hận 30-4-2008: Nhớ tới công đức dựng nước của Tiền Nhân và Lá Quốc Kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ VN, thắm đầy huyết lệ
Mường Giang
(tiếp theo và hết)
2- Quốc Hiệu Và Quốc Kỳ Việt Nam:
Theo sử liệu, thì quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào niên lịch 1802 là năm mà Đức Gia Long đã có công thống nhất được toàn cõi sơn hà từ ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mâu, sau hơn 300 nội chiến triền miên giữa các dòng họ Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn và Nguyễn Tây Sơn.
Thật ra từ thế kỷ thứ XIV, hai tiếng Việt Nam đã thấy xuất hiện trong nhiều tác phẩm lúc đó như Nam Thế Chí của Hồ Tông Thốc, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, Du Địa Chí của Nguyễn Trải, Trình Tiên Sinh Quốc Ngữ Văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngoài ra, các nhà khảo cổ sau này, còn tìm thấy nhiều bia đá có niên lịch ghi trước thế kỷ XVIII ở Bắc Việt. Trong tất cả các bia ký này, đều thấy có khắc hai chữ Việt Nam. Theo nhận xét của các học giả, sử gia hiện tại, thì hai chữ Việt-Nam lúc đó, mang chung ý nghĩa rất thiêng liêng, nhằm chỉ về một nước Việt ở Nam Phương. Để đối chọi với sự mai mỉa khinh nhờn của người Tàu phương Bắc, mà suốt dòng lịch sừ, luôn coi VN như một quận huyện bản xứ, qua danh từ miệt thị "An Nam hay Giao Chỉ".
Theo Dự Am Thi Tập của Phan Huy Chú viết năm 1792, cho biết vào năm Quang Trung thứ 5 nhà Tây Sơn, đã ban chiếu đổi quốc hiệu An Nam thành Việt Nam. Tiếc thay nhà Tây Sơn đã tồn tại trong dòng sử Việt quá ngắn ngủi, nên việc sử dụng quốc hiệu Việt Nam cũng theo vận nước trôi vào quá khứ.
Riêng hai tiếng Việt Nam cũng đâu có khác gì thân phận của dân tộc Hồng-Lạc nhược tiểu, luôn trôi nổi trong dòng sinh mệnh lịch sử. Năm 1802 ngay khi thống nhất được đất nước, vua Gia Long đã cử Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định đi sứ sang nhà Thanh, trả lai ấn phong của vua Quang Trung và xin nhận quốc hiệu cũ là Nam Việt.
Ta biết Nam Việt là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Triệu (207-111 trước tây lịch), có lãnh thổ rộng lớn, bao gồm Vân Nam, Lưỡng Quảng, Hải Nam, Bắc Việt và ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tỉnh phía Bắc Trung Phần. Do đó, chừng nào vua Càn Long mới chịu chấp nhận. Bởi vậy cho tới năm Gia Long thứ 3 (1804), nhà Thanh mới sai Tế Bá Sâm, mang quốc ấn và chiếu phong vua Gia Long, đồng thời cũng chấp nhận quốc hiệu của nước ta vào thời nhà Nguyễn là Việt Nam thay vì Nam Việt. Tuy nhiên phải đợi tới cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng Việt Nam mới được cả trong và ngoài nước, sử dụng với tất cả ý nghĩa thiêng liêng và toàn bích.
Riêng về lá quốc kỳ VN hiện tại, lại càng thêm phức tạp vì VN ngày nay đang sử dụng hai lá cờ: Đảng cộng sản quốc tế đệ tam đang đô hộ VN, được Bắc Bộ Phủ tại Hà Nội, xài lá cờ máu đỏ sao vàng, nhái theo lá cờ của đảng cộng sản Trung Hoa tỉnh Phúc Kiến, ngoài ra còn xài thêm lá cờ đảng giống cờ nước VN xã nghĩa có vẻ thêm búa liềm, theo nguyên mẫu lá cờ của Liên Bang Xô Viết cũ.
Còn quốc dân VN thì chính thức sử dụng lá cờ màu vàng ba sọc đỏ, xuất hiện từ ngày 2-6-1948 cho tới tháng 7-1954, đất nước bị chia đôi nhưng chính phủ VNCH ở phía Nam vĩ tuyến 17, từ Đồng Hà-Quảng Trị, vào tới Mũi Cà Mâu, vẫn tiếp tục sử dụng quốc kỳ cũ của quốc dân VN. Từ sau ngày 30-4-1975, tuy đất nước VN bị cộng sản quốc tế đô hộ nhưng cũng từ đó, trên khắp mọi nẻo đường hải ngoại, hơn ba triệu người Việt tị nạn cộng sản, vẫn theo truyền thống của ông cha, trân quý và chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, như một biểu tượng cao quý nhất của dân tộc.

*Quốc Kỳ Việt Nam
Căn cứ theo tác phẩm "Quốc Kỳ Việt Nam" của Quốc Duy Nguyễn Văn An, thì lịch sử hình thành lá quốc kỳ của dân tộc, được khởi đầu từ sáng kiến của Phan Thanh Giản. Năm 1863 khi làm Chánh sứ hướng dẫn phái đoàn đi sứ sang Pháp, để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Phần là Gia Định, Biên Hòa và Định Tường, đã bị thực dân Pháp cưỡng chiếm vào năm 1862. Khi tàu vào tới hải cảng, Pháp yêu cầu phái bộ VN treo quốc kỳ, để họ tổ chức bắn súng đại bác chào đón theo nghi cách ngoại giao quốc tế. Vì không chuẩn bị trước, nên Phan Thanh Giản phải lấy tạm chiếc khăn lụa màu vàng và dùng son đỏ viết trên đỏ bốn đại tự "Đại Nam Khâm Sứ". Cũng từ đó, lá cờ trên đã trở thành Cờ Long Tỉnh, tượng trưng cho Triều Đình Nhà Nguyễn, với lãnh thổ còn lại gồm Bắc và Trung Phần.
Ngày 16-4-1945, học giả Trần Trọng Kim được Quốc Trưởng Bảo Đại, ủy nhiệm lập Chính Phủ với nội gồm 10 Bộ Trưởng. Ngày 2-6-1945, Thủ Tướng Trần Trọng Kim quyết định chọn quốc kỳ mới cho VN. Đó là lá cờ nền vàng, ba sọc đỏ theo hình quẻ Ly (trong kinh Dịch). Ngày 30-6-1945, Ông lại chọn bài Đăng Đàn Cung làm Quốc Thiều.

*Cờ Quẻ Ly
Tháng 2-1946, D"Argenlieu được cử làm Cao Ủy Đông Dương, mục đích tái lập lại sự đô hộ trên ba nước Việt-Miên-Lào, mà Pháp đã bị quân phiệt Nhật đánh đuổi khỏi vùng vào ngày 3-9-1945. Để tiến tới ý đồ bất lương tên, thực dân mưu toan nhiều lần tách hẳn Nam Kỳ của VN, để nhập vào lãnh thổ Pháp, đồng thời cai trị Bắc và Trung Phần như trước tháng 3-1945. Tuy nhiên âm mưu xảo trá và nguy hiểm của giặc, lần lượt bị quốc dân VN phát hiện và chống trả, khiến cho các chính phủ Nguyễn Văn Thinh và Lê Văn Hoạch, cũng lần lượt sụp đổ theo ý đồ thâu tóm đất đai của người Việt.
Ngày 8-10-1947, Nguyễn văn Xuân làm Thủ Tướng và lập nội các mới, trong đó Trần Văn Ân được cử làm Thứ Trưởng Thông Tin. Trong giai đoạn này, hầu như tất cả các vị trí thức yêu nước cũng như những đảng phái quốc gia, đều cực lực chống lại chiêu bài chia cắt Nam Phần thành một miền tự trị thuộc Pháp.
Nương theo lòng dân lúc đó, cụ Trần Văn Ân qua tư cách của một chính khách kiêm Thứ Trưởng Chính Phủ, thẳng thắn đề nghị Thủ Tướng Xuân, sử dụng danh xưng "Nam Phần VN", để thay thế cái gọi là "Nam Kỳ Cộng Hòa Tự Trị", mà thực dân Pháp và bọn Việt Gian lúc đó đã ngụy xưng một cách trơ trẽn. Ngoài ra ông cũng đã chọn Quốc Ca và Quốc Kỳ cho cả nước.
Vào thời điểm 1948, lúc đó trên lãnh thổ VN đang sử dụng năm lá cờ khác nhau: Ba lá của ba kỳ Bắc-Nam-Trung, một của đạo Cao Đài và lá thứ năm của Phật Giao Hòa Hảo.
Cũng qua tài liệu dẫn chứng trên, trong Ủy Ban chọn Quốc Ca và Quốc Kỳ cho nước VN độc lập, có Nguyễn Hữu Thiều làm chủ tịch, cùng các đại diện Đỗ Quang Giai (Miền Bắc), Trần Văn Lý (Miền Trung), Nguyễn Văn Xuân (Miền Nam) cùng hai đại diện của Phật Giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài. Cuộc triển lãm năm mẫu cờ tại Phòng Khánh Tiết Sàigòn, cuối cùng Uỷ Ban đã quyết định chọn Lá Cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ, làm Quốc Kỳ của Quốc Dân và Quốc Gia VN.
Sự kiện lịch sử trên, về sau được Cựu Hoàng cũng là cựu Quốc Trưởng Bảo Đại, đề cập tới trong tác phẩm "Con Rồng Việt Nam (Le Dragon D'Annam)", xuất bản năm 1990. Ngày 5-6-1949, trên chiến hạm Duguay Trovin, bỏ neo trong vịnh Hạ Long. Lúc đó trên tàu có sự hiện của Quốc Trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Cao Uỷ Pháp tại Đông Dương là Emile Bollaert đại diện nước Pháp, thừa nhận nền độc lập của VN, mà quốc kỳ là lá cờ vàng ba sọc đỏ như chúng ta hiện tại đang trân quý trên khắp mọi nẻo đường lưu vong hải ngoại và cả trong hồn tim của triệu triệu người VN trong nước đang sống nơi xã nghĩa thiên đàng.
Cho nên Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ có một ý nghĩ khác biệt với Lá Cờ Máu của Cộng Sản VN, vì nó không phải là của riêng bất cứ ai, từ Bảo Đại tới Nguyễn Văn Xuân, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương hay Dương Văn Minh. Trong khi đó là cờ máu sao vàng, từ hình thức tới nội dung là tài sản riêng của đệ tam quốc tế, của Liên Xô, Trung Cộng và Việt Cộng. Đó cũng là lý do thiêng liêng mà người Việt qua mọi giai đoạn, từ trong nước cho tới cuộc sống lưu vong, vẫn quyết tâm gìn giữ và đấu tranh để quốc tế công nhận, dù hiện nay người Việt quốc gia không có lãnh thổ, từ sau ngày 30-4-1975, quốc hận, gia vong, đổi đời người xuống thành chó, súc vật lên làm chánh quyền, cai trị cả nước.
Lá quốc kỳ VN là biểu tượng cao quý nhất trong linh hồn người Việt. Tháng 7-1954 hơn hai triệu người đất Bắc và các tỉnh miền Trung bên kia vĩ tuyến 17 vì công nhận lá cờ vàng ba sọc đó của quốc dân, nên cắt ruột gạt nước mắt, bỏ xứ vào Nam tìm tự do dưới bóng lá quốc kỳ màu vàng. Ngày 30-4-1975 người Việt lại bỏ nước ra đi vì không sống nổi đưới lá cờ máu của đảng cộng sản, cho tới ngày nay, lập trường chính trị vẫn không hề thay đổi.
Lá Cờ của quốc dân VN hiện tại, nền màu vàng, hình chữ nhật bề ngang bằng nửa chiều dài. Trên nền vàng, ở phần giữa là ba sọc đỏ có kích thước bằng nhau. Màu vàng của lá cờ tượng trưng cho dân tộc VN, trong cộng đồng các dân tộc Châu Á da vàng. Màu đỏ tượng trưng cho sự đấu tranh gian khổ, đẫm đầy huyết hận, nước mắt đoanh tròng, trong suốt chiều dài của lịch sử chống ngăn ngoại xâm. Riêng Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba phần của đất nước VN. Lúc đó, chính ký giả Nguyễn Kiên Giang (tên thật Lý Thanh Cần), giữ chức Giám Đốc Phòng Báo Chí thời Thủ Tướng Xuân. Ông là người được chính phủ giao phó thực hiện lá quốc kỳ. Song song Thủ Tướng Xuân còn chấp nhận bài hát "Thanh Niên Hành khúc" của Lưu Hữu Phước sáng tác, lúc đó đương sự cũng như hằng triệu triệu thanh niên nam nữ VN yêu nước, đang dấn thân đấu tranh chống thực dân Pháp, trong hàng ngũ Việt Minh.
Ngoài ra trong tác phẩm "Việt Nam Nhân Chứng", cựu tướng Trần Văn Đôn cũng có viết là chính ông ta và tướng Lê Văn Kim, là tác giả đã đề nghị thực hiện quốc kỳ và quốc ca VN hiện tại. Nhưng sự xác nhận trên, chẳng những bị cụ Trần Văn Ân là nhân chứng, tác giả cờ và quốc ca, cực lực phản đối, mà còn bị nhiều người gạt bỏ không tin là sự thật. Bởi vào năm 1948, Trần văn Đôn cũng như Lê Văn Kim chỉ là sĩ quan cấp nhỏ trong quân đội, thì chừng nào mới tới phiên được mời vào phòng hội, để nghị sự một vấn đề trong đại của quốc gia lúc đó, chỉ có Nguyên Thủ, các cấp Bộ Trưởng, Thủ Hiến ba kỳ và lãnh đạo cao cấp của của các giáo phái được mời họp với ý kiến và quyết định.
Trong suốt cuộc chiến VN kéo dài gần 20 năm (1955-1975), những ai đã từng là người dân trong vùng chiến nạn, xôi đậu, bị giặc chiếm hay là lính trận chiến đấu nơi sa trường, đồn nghĩa quân cheo leo miền biên tái, những biệt chính, biệt kích cảm tử hoạt động riêng rẽ và các quân nhân bị thất lạc trong lúc đụng trận, mới cảm nhận được sự thiêng của lá cờ và bản quốc ca hùng tráng, được thổi lên khi xung trận. Quốc kỳ VN như mợt ngọn đuốc, soi đường mở lối đấu tranh cho thanh niên nam nữ miền Nam trong suốt 20 năm đoạn trường máu lệ, vì đất nước bị cọng sản đệ tam xâm lăng cướp đoạt.

Có còn nhớ hay không những ngày tang tóc hỗn loạn của Tết Mậu Thân (1968), mùa hè đỏ lửa 1972 tại An Lộc (Bình Long), Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định... Rồi những ngày thi hành cái gọi là hiệp định ngưng bắn vào tháng 1-1973 và sau rốt là 55 ngày cuối cùng của VNCH vào năm 1975.
Tại chiến trường, để treo được ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của quốc gia, lên Kỳ Đài Huế trong Tết Mậu Thân, trền ngọn Đồi Đồng Long (An Lộc), Tòa Hành Chánh Kon Tum và nhất là tại Cổ thành Đinh Công Tráng-Quảng Trị... đã có không biết bao nhiêu sinh mạng của lính, trong mọi binh chủng từ NQ+DPQ, Bộ Binh, Biệt Động Quân, Biệt kích Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù, đã gục ngã làm thang cho đồng đội, tiếp nối hết lớp này tới đợt khác, mới đạt được thắng lợi cuối cùng. Năm 1973, cộng sản Hà Nội qua đồng thuận của Mỹ, đóng quân trên lãnh thổ VNCH theo tinh thần hiệp ước ngưng bắn. Chúng đã cố gắng treo dán khắp nơi từ cờ lớn tới cờ nhỏ, những lá cờ máu, khiến cho người lính VNCH, lại phải chịu nhiều thương vong, để bảo vệ xóm làng, dân chúng, không để mất vào tay cộng sản.
Rồi những ngày cuối cùng của tháng Tư đen 1975, trong khi hầu hết bọn khoa bảng trí thức, chuyên lợi dụng sự tự do dân chủ của chế độ, để phá thối đất nước miền Nam, ùn ùn tìm đủ mọi cách bỏ chạy trước ra ngoại quốc và nay lại tiếp tục phá thối cộng đồng người Việt hải ngoại, làm lợi cho VC hầu kiếm chút danh cặn tiền bèo. Trong lúc đó, thì người lính lại chết hay bị thương, ở lại để bảo vệ thủ đô, bến tàu, phi trường, xa lộ và những bãi đáp trực thăng, giúp Mỹ và hậu phương có cơ hội chạy.
Thử hỏi trong giờ thứ 25, tính sổ lại xem có bao nhiêu tướng lãnh đã bỏ chạy? Hay nói đúng hơn gần hết đã ở lại chiến đấu với đồng đội thuộc cấp, cho tới lúc tàn cuộc. Những danh tướng Lý Tòng Bá, Lê Minh Đảo, Trần Quang Khôi, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Nguyễn Khai Nam, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, Ngô Tấn Nghĩa... há không có phương tiện như Nguyễn Cao Kỳ, để trốn chạy ra tàu Mỹ hay sao? Nhưng họ là quân tử thời đại, là kẻ sĩ nên coi trọng khí tiết làm tướng hôn sinh mạng một đời. Vì vậy biết ở lại sẽ chết nhưng vẫn chấp nhận hoàn cảnh, cuối cùng kẻ thì tự tử, còn người bị giam cầm nhiều chục năm nơi tận cùng biên ải, làm gương muôn đời cho hậu thế soi chung, vì hai chữ hy sinh cao quý "lưu thủ đan tâm, chiếu hãn thanh".
Trong khi nguyên thủ bỏ chạy, còn TT Dương Văn Minh thì chuẩn bị đầu hàng giặc nhưng quanh Sàigòn và khắp bốn phương tám hướng, tất cả những đơn vị còn lại của VNCH, vẫn hiên ngang chiến đấu trong đơn độc. Nên không ngạc nhiên khi được đọc qua lời phê bình của Sử gia người Anh, Sir Edward S Creasy, qua danh phẩm "Fifteen Decisive Battles of The World", cho biết tầm quan trọng của một cuộc chiến, không phải chỉ căn cứ vào số người chết, tù binh và chiến lợi phẩm. Nó được tính bằng thành quả ngày hôm nay, do cuộc chiến thắng đem lại.
Vậy ta thử hỏi sau ba mươi ba năm chiến tranh chấm dứt (30/4/1975 - 30/4/2008), kẻ chiến thắng là đệ tam cộng sản Hà Nội, đã làm được những gì, để mang tới phúc lợi, no ấm cho dân tộc VN?. Trong thời gian đó, đất nước chúng ta có được độc lập tự do hay không? Cứ nhìn kết quả mà không cần phải đơi câu trả lời.
Thật sự cho tới bây giờ, đất nước VN vẫn là một quê hương bị đọa đày tang tóc khổ đau. Dân chúng đại đa số nghèo đói lạc hậu. Xã hội băng hoại, kỷ cương tan nát, đạo đức suy đồi và oán thù chất ngất vì hố phân chia mọi thành phần trong nước, càng lúc càng sâu thẳm không biết đâu mà mò. Trong lúc bọn cán bộ viên chức đảng nhà nước, bọn Việt gian-Việt kiều cò mồi, bọn tư bản đỏ trắng tại VN càng lúc càng giàu có vinh hiển tột cùng với tiền tỷ vàng ký, thì người dân cả nước từ nông dân, người đánh cá, cho tới kẻ lạo động, gần như kiếm ăn từng bữa. Như vậy bảy mươi lăm năm qua, nói là đi làm cách mạng để giải phóng nước bị ngoại xâm. Dân bị kềm kẹp. Thế nhưng ba mươi năm hòa bình, giờ tính lại sổ đời, nước vẫn bị ngoại xâm kềm kẹp, không phải chỉ có Nga - Trung Cộng mà cả khối tư bản Mỹ, Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore... Còn người dân thì cuộc sống còn thua cả thời Pháp Thuộc, nói chi tới Hai mươi năm VNCH.
Hơn ba mươi ba năm đổi đời rồi, cho dù Bắc Bộ Phủ có gian ngoan xảo trá tới đâu, bọn Việt gian biển lận thế nào, thì cả nước trong cũng như ở hải ngoại cũng đã hiểu gần như tất cả tấn thảm kịch VN, từ đó cho tới nay, chỉ do bàn tay đẫm máu của băng đảng Hồ Chí Minh và đệ tam cộng sản gây ra mà thôi.
Ba mươi ba năm nói là thống nhất nhưng Bắc-Nam cũng vẫn là Nam-Bắc. Lúc nào cũng to mồm lớn miệng nói là tự do, độc lập thế nhưng mọi việc lớn nhỏ của nước, đều do bàn tay tối cao của Liên Xô-Trung Cộng, nay lại thêm bàn tay lông lá của lái súng Mỹ quyết định giùm.
Gần hai trăm năm trước (1858), vua Tự Đức nhà Nguyễn vì thiển cận, không chịu nghe theo lời canh tân đất nước của các sĩ phu trí thức thời đó như Nguyễn Trường Tộ, Đinh văn Điền, Bùi Viện... mà cứ chạy theo ôm chân người Tàu lúc đó cũng lạc hậu yếu hèn, nên rốt cục dân tộc phải bị thực dân Pháp đô hộ đày đọa gần 100 năm tủi nhục thương đau. Ngày nay Việt Cộng cũng đã bước vào lối mòn năm cũ, đã và đang ôm chân Tàu đỏ lẫn Tàu trắng một cách tận tuyệt, để có một chỗ dựa an toàn cho đảng sinh tồn. Rồi tháng lại ngày qua làm ngơ nhắm mắt, mặc kệ cho đồng bào cả nước càng lúc càng lầm than đói rách, qua cái vỏ phát triển tiến bộ, được sơn phết và tuyên truyền, khiến cho bất cứ ai còn một chút hơi hám của con người, cũng phải đau lòng cho non sông gấm vóc bỗng dưng bị bàn tay của đám giặc cỏ tàn phá không biết đến bao giờ mới dứt.
Ba mươi ba năm rồi, Việt Cộng vẫn là Việt Cộng dù ngày nay hình người có thay đổi từ quần áo vải thô sang lụa tơ gấm nhiễu. Tất cả vẫn nguyên vết như cái thuở hồng hoang mới rời hang Pắc Pó, rừng Bắc Sơn hay chui ra trong các hang Củ Chi, Vĩnh Mốc. Vẫn đảng cộng sản là trên hết, còn nước thì nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy tất cả quốc gia đều là tài sản của đảng, của cán bộ nên cứ ngang nhiên xén bán, cầm thế, mà không cần biết tới hậu quả di hại cho con cháu và dân tộc mai sau.
Không ai muốn thấy cảnh máu đổ xương tan, xảy ra trên quê hương mình. Nhưng người Việt quốc gia dù ở đâu và thuộc về thế hệ nào chăng nữa, đều đau lòng trước cái tên thân thương của thành phố Sàigòn nay bỗng dưng phải mang cái tên của kẻ phản quốc, dâm hung đứng đầu lịch sử. Cũng không thể đứng nhìn đồng bào cả nước mà phụ nữ đã phải bán trôn khắp thế giới để nuôi miệng, bán mạng để sống. Cũng không thể bắt người Việt hải ngoại cứ đổ vỏ cho kẻ ăn ốc là bọn cộng sản và đám việt gian, việt kiều tay sai năm vùng, bằng cách gửi tiền bạc về nước, để bọn lãnh đạo Bắc Bộ Phủ vễnh râu làm giàu trên xương máu mồ hôi nước mắt của đồng bào tị nạn. Cũng không thể để cho lá cờ máu và những tên quốc tặc, hiện diện tuyên truyền, trong nhưng nơi chốn, có người Việt tị nạn sinh sống, mà điển hình là vụ tên Trần Trường treo cờ máu và ảnh Hồ Tặc tại Tiểu Sàigòn, vào dịp Tết Kỷ Dậu 1999. Sau rốt cũng không cho VC tiếp tục lộng hành, toa rập với đám tư bản bất lương Tây phương, Nam Hàn, Nhật Bản, Tàu Trắng và tàn độc nhất là Trung Cộng, lũng đoạn kinh tế, phá nát kỷ cương và chia xén lãnh thổ VN.
Bảy mươi lăm năm qua, người Việt đã trăm lần hòa hợp, hòa giải, hòa bình với cộng sản nhưng trăm lần như một, lần nào cũng bị chúng xảo quyệt, lường gạt, đâm sau lưng, mà lần cuối cùng đau đớn nhất là ngày 30-4-1975. Cho nên ba mươi năm nay, kể cả trẻ con cũng không còn ai tin vào sự hứa hẹn của cộng sản, trừ bọn cò mồi không tim óc dù đã có cả núi bằng cấp và chữ nghĩa. Bởi vậy chỉ còn một cach duy nhất, là cả nước đứng dậy phá tan xiềng xích nô lệ của đảng cộng sản, để đòi lại những gì mà chúng ta đã mất, trong đó quan trọng nhất là quyền sống của kiếp người.
Vấn đề còn lại hiện nay, không phải là chờ Mỹ hay bất cứ một thế lực nào bật đèn xanh đèn đỏ, mà là thời gian và lòng người. Đã có không biết bao nhiêu ngọn đuốc soi bước dẫn đường, suốt ba mươi năm qua như Trần Văn Bá, Võ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh, Lý Tống... và nhiều nam nữ anh hùng khác. Tuy Họ đã thất bại trước bạo quyền nhưng ngọn đuốc tự do vẫn được chuyền tay thắp sáng, cho thế hệ hậu duệ và các đồng chí đồng bào, đã và đang đấu tranh cho sự quang phục của đất nước.
Có ai trong đời không một lần phải chết nhưng trước khi nhắm mắt lìa đời, phải làm một điều thiện cho quê hương, để khi xuôi tay nhắm mắt, không phải ngậm cười nơi chín suối hay cứ than thân trách phận vì:
"Nợ nước chưa xong đầu đã bạc
trăm năm thân thế bóng tà dương..."
Hỡi ơi đời nay, không có gì buồn hơn nỗi buồn nhớ nhà khi tuổi già, dù nhà và nước đang ở trước mắt mình:
"Chiều xuống quê nhà đâu đó tá?
Trên sông, khói sóng não lòng ai..."
(Thôi Hiệu)
Xóm Cồn
Tháng 4-2008.
Mường Giang
(Bài được lưu trữ tai ThuvienVietNam.com & HuongveBinhThuan.org)