Ba mươi ba năm Quốc Hận (1975 - 2008) mới thấm thiá câu nói của cố TT Thiệu: "Còn nước thì còn tất cả"
Mường Giang
Trước cách mạng 1789 của Pháp, vua Louis XVI lúc nào cũng tự coi mình là đấng con trời, vì nắm hết moi quyền lực trong nước, lại thêm có sự tiếp tay của ba thế lực đương thời. Đó là giai cấp tăng lữ, quí tộc và bọn khoa bảng giàu có, nhờ hút máu của đồng bào hèn nghèo bé miệng.
Có thể coi xã hội Pháp thời đó, y chang như hai triều đại đệ I và II VNCH hay thiên dàng VC ngày nay. Chỉ có sự khác biệt là ở Miền Nam trước tháng 5-1975, quyền lực cả nước do tam đầu chế "quân, sư, phụ (quân phiệt, cha, thầy)" nắm giữ. Còn CSVN thì do đảng ôm trọn gói cộng với một thiểu số khoa bảng và Việt kiều sa đọa vì quyền lực và lợi nhuận trước mắt mà bán rẽ danh dự của cuộc đời.
Đó là lý do, khiến cho mọi tầng lớp xã hội Pháp thời đó, mà hầu hết là giới nông dân thợ thuyền, qua luồng gíó dân chủ, tự do của Montesquieu, Jean Jacques Rousseau, Voltaire, đã đúng dậy đập tan chế độ bạo tàn, đưa cuộc cách mạng 1789 đến chỗ thành công. Ngày nay người Pháp, không ai quên được cái đêm 14-7, cảnh dân chúng Ba Lê phá vỡ ngục Bastille, kế tiếp là ngày 21-1-1793 đã bắt vua Louis lên đoạn đầu đài xử tử, vì tội rước giặc về, để bảo vệ cái ngai vàng của mình, mà dày xéo quê hương tiên tổ. Do kết quả trên, từ đó về sau thế giới coi cuộc chính biến năm 1789, là một cuộc cách mạng vĩ đại. Nước Pháp sau đó, đã đổi mới toàn diện về chính trị,thay đổi hiến pháp, cải cách xã hội.. mở đương cho cuộc cách mạng 1848 tại Âu Châu, hoàn thành chủ thuyết Dân Tộc Tự Quyết, cải thiện đời sống của giới lao động, thợ thuyền.
Tại Châu Á năm 1888, Minh Trị Thiên Hoàng cũng đã làm một cuộc cách mạng cho nước Nhật, sau khi bị Mỹ làm nhục. Năm 1853, Nhật đã canh tân đất nước toàn diện, thay đổi một quốc gia phong kiến lạc hậu, chia năm xẻ bảy bởi nạn sứ quân, thành hợp nhất, cải tổ kinh tế, quân sự, chính trị, làm cho nước Nhật trở thành một cường quốc. Nhờ vậy, chẳng những người Nhật được thế giới, trong đó có Hoa Kỳ kính nể, mà còn chiến thắng Trung Hoa năm 1894, buộc người Tàu phải ký hiệp ước Simonoseki (Mã Quan), trả độc lập cho bán đảo Triều Tiên, đồng thời nhường cho ho, quần đảo Bành Hồ và đảo Đài Loan. Tiếp đến Nhật còn thắng Nga năm 1905, ở biển nam đảo Sakhaline, chiếm Mãn Châu, Triều Tiên và đường xe lửa trong vùng.
Như vậy, cách mạng qua các thành tựu trên là một sự bỏợ cũ thay mới, loại cái xấu cái tồi để thực hiện những điều hay tốt, làm cho an dân lợi nước. Trong dòng lịch sử VN cận đại, tài liệu có nhắc tới cách mạng mùa thu tháng 8-1945 do cộng sản đệ tam quốc tế, qua bình phong Việt Minh thực hiện. Thật sự CSVN đã cướp được chính quyền lúc đó, là vì nó đang bị rơi rải ngoài đường, bởi cả Nhật-Pháp, hai chủ nhân ông của VN đã buông tay. Còn Chính phủ đương thời Trần Trọng Kim thì hửu danh vô thực, vì bị bọn Việt Gian thiên tả nằm vùng lúc đó, hè nhau đoạt quyền dâng cho CSVN. Tại Miền Nam, ngày 1-11-1963 cũng có một cuộc cách mạng, lật đổ nhà Ngô. Như vậy, nếu từ căn nguyên và ý nghĩa của cách mạng, mà tượng trưng là những năm 1789, 1848, 1853.. chúng ta sẽ không bao giờ dám nghĩ rằng, những biến cố chính trị vào năm 1945 hay 1963 tại miền Nam VN, là một cuộc cách mạng như một vài người đã tự gán. Đúng hơn, đó chỉ là những biến cố quân sự để cướp quyền lực, dành địa vị, thay vua, đổi màu cờ, tên nước... Bởi vì sau đó, mọi sự cũng chẳng có gì mới mẻ, ngoài các nhân vật cũ nhưng mới nhờ có kèm theo chức vụ hay lon lá to hơn, khi còn trong chế độ cũ, tạo nên một cuộc đổi đời long trời lở đất, mở đường đưa lối, giúp VC cưỡng chiếm được toàn thể VN, tạo nên những thảm kịch thiên cổ, có một không hai trong dòng sử Việt.
Tại miền Nam VN, từ 1960-1975, trong lúc cộng sản Bắc Việt ngày đêm không ngớt tấn công gây chiến khắp mọi miền đất nước, làm cho đồng bào lầm than, người lính trường sa ngày đêm thương vong, chết tủi. Rồi cũng nhờ máu xương của lính, mua thêm thời gian tồn tại của VNCH, nên mới có phản chiến, xuống đường, đêm bàn thờ Phật ra phố chợ, làm ô uế bậc thần linh tôn kính. Tóm lại chính vì miền Nam quá tự do, cho nên mới có đất, để bọn Hippy tại Mỹ, qua cái gọi là The Beatles, múa may cuồng ngạo. Mới có trí thực, vô hồn không óc, chạy theo Bertraud Russell, Jean Paul Sartre, Herbert Marcuse... tuy ăn cơm và sống nhờ bàn tay che chở của người lính Quốc Gia, lại lợi dụng tự do, dân chủ, công khai tán tụng cộng sản xâm lăng Hà Nội, hô hào hòa bình giả mạo, bắt quân dân miền Nam buông súng đầu hàng kẻ thù.
Cũng vì tự do dân chủ, mới có thơ văn và âm nhạc phản chiến, công khai chống lại chính phủ mình. Mới có Trịnh Công Sơn, Thích Nhất Hạnh, Nguyễn Văn Trung, Thế Nguyên, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Trọng Văn, Lữ Phương, Chân Tín., Lý Chánh Trung... Mới có Hành Trình, Đất Nước, Tin Văn, Trình Bày, Đối Diện, Vấn Đề.. mới có một số lớn con cái của các cán bộ tập kết ra Bắc, để vợ con ở lại sống bằng sự chắt chiu đùm bọc của người Miền Nam. Tới khi trưởng thành, lại trở mặt, nằm vùng chống lại người ơn của mình, mà điển hình nhất là Phi Công Nguyễn Thành Trung trong KQ/VNCH, hiện đang múa may quay cuồng, không có một chút gì là hổ thẹn và hối hận.
Ngày 22-5-1974, Hạ Viện Mỹ phủ quyết đề nghị gia tăng ngân sách viện trợ, cho VNCH tài khóa năm 1975. Cuối tháng 10-1974, trước bất lợi của VNCH, nên CSBV quyết định cưỡng chiếm miền Nam bằng quân sự. Và trong lúc non nước nguy khốn với thù trong giặc ngoài, thì trí thức miền nam, qua báo chí, rầm rộ biểu tình chống chính phủ, đòi tổng thống từ chức. Ngày 10-10-1974, lại ký giả đi ăn mày, do Vũ Hạnh, Kiên Giang (Hà Huy Hà), Nguyễn Văn Bổng, giựt dây xúi giục. Trong lúc giặc Bắc đã mở màn cuộc xâm lăng, bằng trận đánh lớn đầu tiên, chiếm Thượng Đức (Quảng Nam)ờ sau khi đã cùng Mỹ, trân trọng ký vào bản hiệp ước ngưng chiến, để mang lại hòa bình tại hai miền VN.
"Không ai có thể tắm hai lần dưới cùng một dòng sông". Bởi vậy, sau ngày 30-4-1975, VN hoàn toàn bị cộng sản nhuộm đỏ, đã không còn biểu tình, chống đối, cho nên đảng cầm quyền, một trời một chợ, bán đất nhượng biển, tham nhũng, cướp của giết người, đẩy hơn 80 triệu dân VN vào cảnh đói khổ lầm than, gây nên đại họa thiên cổ, mà không một sử gia hay chữ nghĩa nào, ghi cho hết được.
Nhìn cảnh đời dâu bể, nổi khổ đau trầm thống của dân nước trước uất hận trùng trùng, chúng ta mới thấy thấm thía về những nhận xét của cố TT Nguyễn Văn Thiệu trước tháng 5-1975: "Đừng tin những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm, hay Đất nước còn thì còn tất cả". Ngoài ra Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia sau 33 năm sống lưu vong trên đất Mỹ, cũng đã có một nhận xét "Đừng tin tài liệu của cái gọi là CIA viết về chiến tranh VN, mà hãy nhìn những gì người Mỹ đã làm tại VNCH".
1- Những Lời Nói Dối Của Lịch Sử:
Chiến tranh VN xưa nay là một đề tài, cũng như phương tiện, giúp cho nhiều người nổi tiếng và làm giàu. Tại Hoa Kỳ, có giáo sư sử học Joseph. J. Ellis, của Trường Đại Học Mount Holyoke, nức tiếng trong ngành sử học, nên đã nhận được giải văn chương báo chí Pulitzer vào tháng 4-2001. Tuy nhiên trên đời này, không điều gì có thể dấu được, khi hầu hết các bí mật lịch sử, gần như đã được khai quật. Cho nên, sự việc thần tượng Joseph, bị nhà báo Walter V.Robinson hạ bệ, qua bài báo mang tựa "Professor's past in doubt", đăng trên tờ Boston Globe, số ngày 18-6-2001.
Qua đề tài "quá khứ hoài nghi một giáo sư sử học", đã vạch trần những hồi ức, mà nhà sử học dùng làm tài liệu, để chứng thực rằng ông ta có chiến đấu tại VNCH. Thế nhưng qua lời bạn bè, một thời từng chiến đấu trong thập niên 1960, đều xác nhận đượng sự, tuy có ở trong quân đội Hoa Kỳ nhưng chưa bao giờ tới VN chiến đấu, mà chỉ phụ trách dạy lịch sử, tại Học Viện Quân Sự West Point. Tóm lại nước Mỹ sẽ còn phải đối mặt với nhiều năm tháng, qua những ám ảnh về chiến trường VN, mà nhiều nhà báo trước đây, vì háo danh và vô nhân đạo, đã bẻ cong ngòi bút, khi viết sự thật lịch sử.
Chưa hết việc làm và ghép ảnh giả, để khai thác cái hồn và làm tăng độ tin của những bài viết bôi lọ, nhục mạ QLVNCH, cũng được nhà báo Mỹ và Tây Phương khai thác một cách tận tuyệt. Mới đây trong tác phẩm "những lời khoắc lác" của Custis Mc Dougall, gần như vạch trần những sản phẩm, một thời được rêu rao, bây giờ bị lật mặt nạ là bịp bợm.
Tây Phương văn minh mà còn hành động như thế thì sự bưng bít lịch sử, trong thế giới cộng sản thật là dễ sợ, đó cũng là chuyện bình thường. Vì vậy đến giờ, vẫn còn nhiều nhà báo quốc tế, như đang ngủ trong mây, qua những vấn đề có liên quan tới VN. Tóm lại, chẳng những cả nước bị bịt mắt bắt dê, mà ngay tới những thành phần trí thức tại Bhutan, Panama, Nigeria.. gần như không hiểu một chút gì về cái gọi là "chủ nghĩa xã hội" thật sự là một chế độ độc tài, đảng trị, có một không hai trong lịch sử Việt Nam và nhân loại.
Cho nên cũng đừng lạ, khi biết được mới đây, đài CBS lại bị tố cáo là loan tin thất thiệt, qua một bài tường thuật về đời quân ngũ của đương kim tổng thống Hoa Kỳ G.B.Bush. Sự kiện quan trọng trên, khiến cho thiên hạ giờ đây hết tin nổi, những cái gọi là truyền thông nước Mỹ như NBC, CNN, The New Republic, The Washington Post, USA Today, The New York Times, và những đài ngoại quốc có chương trình Việt Ngữ như BBC Luân Đôn, RFA, VOA.. Một tổng thống quyền hành bao trùm cả thế giới, mà còn bị báo và truyền hình bôi nhọ, chụp mũ, thì cái sự Lịch sử thời VNCH bị dựng đúng, bẻ cong, cũng là điều bình thường.
Trong suốt cuộc chiến chống Bắc Việt xâm lăng, đồng bào Miền Nam nếu không bị áp buộc, gây nguy hiểm đến mạng sống và gia đình ho, thì chẳng có ai ưa thích VC, ngoài một số trí thức no cơm ấm cật,giàu sang thừa mứa, nhờ gốc gác từ địa hào,địa chủ thời Pháp thuộc. Thiểu số này quen đứng núi này nhìn non nọ, ngủ trên mây, nên bị cộng sản tuyên truyền lừa phỉnh, cuối cùng đã bị "sạch láng" sau ngày 30-4-1975, tàn mùa chinh chiến. Chính những trí thức thiên tả trên, đã lợi dụng tự do dân chủ của chế độ, để biểu dương lập trường đối lập của mình, đã vô tình hay cố ý tiếp tay với giặc, mang ách nô lệ Mác-Lê từ Nga-Tàu, về dày xéo quê cha đất tổ.
Sau ngày 30-4-1975, qua phút huy hoàng ngắn ngủi, cũng là thời gian mặt nạ những kẻ nằm vùng, đâm sau lưng người lính VNCH được lột, cũng là sự kết thúc vai trò làm hề của trí thức miền nam. Từ đó, tất cả đều chung niềm tân khổ, nhưng người dân và lính chỉ hận hờn vì đầy đoạ, đói cơm thiếu áo. Trái lại người trí thức phản bội năm nào, mới là thành phần bị thiệt thòi nhất., vì vừa bị mất hết những đặc quyền đặc lợi mà chế độ cũ dành cho lớp người khoa bảng, luôn được ngồi trên đầu dân đen miền Nam, lại phải mang thêm sự bóp nát lương tâm vì hối hận và trên hết đã thấu rõ nguyên tắc của xã nghĩa: "Trí Thức Thua Cục Ph^n Vì Vô Dụng Và Phản Trắc Lật Lộng"
Nhưng người trong nước thì an lòng chịu đựng, ngược lại có một số loạn thần, nhanh chân chui được vào lòng máy bay Mỹ, chạy ra hải ngoại lúc đó, hay mới đây qua các diện vượt biên, đoàn tụ, tù nhân chính trị.. vẫn tiếp tục to miệng làm hề, dù rằng nay đã biển dâu, ông bà sư cố.. cũng y chang xếp hàng như me Mỹ, Ba Tàu Chợ Lớn và bần dân xóm biển. Màn chửi rủa, đổ tội, vu khống Miền Nam vì tham nhũng bất tài, nên thua VC.. được chấm dứt, khi thành đồng tổ phu Mac Lê, tan hoang, sụp nát vào năm 1990, chẳng những ở Đông Âu, khắp năm châu, mà còn ngay tại Tổng Đàn Nga Sô Viết. Cũng từ đó, xã nghĩa thiên đàng thu gọn tại Tàu Cộng, Viêt Cộng, Hàn Cộng và Cu Ba. Rồi các dĩnh cao tại Bắc Bộ Phủ vì cái ăn bản thân cùng sự sống của đảng, đã muối mặt, mở cửa đổi mới, trải thảm đỏ, lạy mời những kẻ thù năm nao như Mỹ, Pháp, Nhật, Nam Hàn, Đài Loan.. kể cả Liên Xô, Âu Châu.. vào, để cùng nhau hợp sức, kết đoàn, làm nhanh sự sụp đổ của một quốc gia mang tên VN, từng liệt oanh lừng lẫy dưới trời Đông Nam Á.
Cũng nhờ mở cửa, những tin tức bán nước, hại dân và đại họa tham nhũng cả nước, từ lớn tới bé của Cộng Đảng.. bị quốc dân rõ rỉ phanh phui, tràn lan khắp chân trời góc biển và ngay trên mạng truyền thống quốc tế từng giờ, đã khóa kín những cái miệng thúi của bọn trí thức bợ bưng VC, vẫn còn lẫn quẫn, trong tập thể người Việt hải ngoại, đợi dịp và cơ hội, đâm sau lưng đồng bào, như chúng từng làm, khi còn sống tại VNCH, trong cảnh no cơm ấm cật, ai chết mặc bay, vô luân vô tích sự.
Tuy VC đã cưỡng chiếm được miền Nam gần 33 năm, nhưng duới đống tro tàn của quá khứ, vẫn còn âm ỷ các sự kiện nóng bỏng của cận sử VN, trong đó ác nhất là chuyện "Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, tẩu tán 16 tấn vàng y của Ngân Hàng Quốc Gia VN, khi chạy ra ngoại quốc, vào nhưng ngày cuối thàng 4-1975". Đây là một sự kiện lớn của người Việt Quốc Gia, trong và ngoài nước. Và dù nay mọi sự đã được sáng tỏ, số vàng trên được Nguyễn Văn Hảo giữ lại và chiều ngày 30-4-1975, đem dâng cho Lê Duẩn, chở ngay về Bắc.
Nhờ tra cứu lịch sử, ngày nay chúng ta mới nhận thấy "chính thể nào cũng có cái hay riêng của nó". Trước ngày 30-4-1975, khi chiến xa T54 của Liên Xô được Bắc Việt đưa vào Sai Gòn, thì hầu hết các trí thức Miền Nam quen sống trong sự tự do tuyệt đối cuả Tây Phương, mà họ có dịp hưởng trong thời gian du học hay đọc qua sách báo, đã khinh bỉ hai nên Cộng Hòa bản địa và gọi đó là chế độ cai đội, đánh thuê cho "Tây-Mỹ".
Trưa 30-4-1975, khi Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh cho QLVNCH đang chiến đấu với giặc Hồ buông súng, thì phần lớn số trí thức trên, chính họ đã ôm chân Mỹ để chạy trước giữ mạng và loại này, ngày nay điểm mặt vẫn còn không ít ở khắp các nẽo đường hải ngoại, cũng chứng nào tật đó, chỉ trích, đâm thọt và làm thái thương hoàng trong các hội đoàn, tổ chức của ngươì Việt Quốc Gia đang tị nạn Cộng Sản.
Nhưng cái điều đáng nói là lúc đó, nếu cây cột đèn có chân thì nó cũng nhổ giò để chạy theo Mỹ để giữ mạng, vì đâu có ai ngu khờ giởn mặt với lũ hung thần dã man quỷ đỏ, trừ những người lính trận VNCH. Vì vậy, cả Sàigòn trong ngày được cán bộ gọi là "giải phóng" rất vắng vẽ trầm lặng, bởi hầu hết các lãnh tụ đã bỏ chạy, đâu còn ai hô hào xuống đường, tuyệt thực, ký giả đi ăn mày.. để chống chính quyền Miền Nam VN tham nhũng, bầu cử gian lận, tham quyền cố vị.. như các bài báo của 123 ký giả ngoại quốc có mặt lúc đó đã tường thuật, sau khi họ bi CSVN trục xuất ra khỏi nước.
Điều này cho thấy đồng bào Nam VN nói riêng và cả nước đã nhận ra sự lầm lẫn của mình, nhất là sau 33 năm được sống thực với Cộng Sản trong cảnh thiên đường Xã Nghĩa, khi họ đã tưởng "giết được TT Ngô Đình Diệm ngày 2-11-1963" hay "làm cho VNCH sụp đổ vào trưa ngày 30-4-1975" là thân phận của mình đã được giải phóng? như các lãnh tụ CS từ Hồ Chí Minh trở xuống đã hứa hẹn. Năm 1976, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị giải thể, cũng từ đó cả nươc, chứ không riêng gì Quân, Công, Cán, Cảnh VNCH bị lùa vào các tầng địa ngục trần gian, để sáng mắt nhận rõ rằng "đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn vào chính thân phận của chúng ta, đang quằn quại trong chế độ CS, mà nhận định và rút tỉa kinh nghiệm, để mà sống sao cho đáng kiếp người".
Dưới ách thống trị của CS ngày nay, chắc đã phần nào giải tỏa được những ấm ức của đồng bào Miên Nam, về lý do là tại sao trong một quốc gia mệnh danh là Tự Do Dân Chủ như VNCH, mà qua hai nên Cộng Hòa, cả hai vị Tổng Thống Diệm và Thiệu đều cố ý hạn chế tự do của người dân lúc đó?. Bởi vì bất cứ một quốc gia nào, ngoại trừ các nước CS độc tài đảng trị, thì nhiệm vụ đầu tiên của chính quyền là phải thiết lập trật tự, hạn chế bớt tự do tuyệt đối của cá nhận, bằng cách tập trung quyền hành có lợi cho đồng bào và đất nước về trung ương. Đó là lý do, từ khi lập quốc cho tới ngày nay, người dân Hoa Kỳ đã giao hết quyền hành cho chính phủ Liên Bang, hay như Thù Tướng Richelieu (Pháp) và Bismark (Phổ) cũng đã thực hiện vào đầu thế kỷ XX.
Không phải đợi tới ngày nay, người ta mới đặt câu hỏi về sự cần thiết của "cách mạng" mà chính lịch sử cũng từng hoài nghi về sự cần thiết đó, nhất là đối với VN qua ba cuộc cách mạng 1945, 1963 và 1975? hoàn toàn không mang lại điều gì mới mẽ và lợi ích cho đồng bào, trái lại chỉ nuôi béo cò một thiểu số có liên hệ mà thôi. Đó cũng là lý do tại sao ngày nay cả nước VN từ trong ra tới hải ngoại, hầu như mọi người đều có chung một lý tưởng "quyết tâm giải phóng VN" ra khỏi ách thống trị của ngoại bang, chẳng những là xích xiềng của đế quốc đỏ, mà còn có bọn thực dân mới qua lớp son hào nhoáng "hợp tác làm ăn buôn bán" nhưng thực chất là vơ vét tài nguyên của đất nước và bốc lột đồng bào chúng ta, đến tận xương tủy, tới độ người nghèo không ai có thể nghèo hơn, phải bán con cháu ra nước ngoài để lao tác và làm điếm khắp năm châu bốn bể, có ai mà không khóc không thương không căm thù bọn đầu gấu đang ngự trị tại Bắc Bộ Phủ?
Tóm lại hơn 75 năm qua, bao nhiêu thế hệ VN đã hy sinh vì nước, khiến cho máu chảy thành sông, xương chất cao như núi nhưng rốt cục dất nước và thân phận của người Việt vẫn chưa được giái phóng. Tất cả đều còn nguyên vẹn, cho dù CSVN đã giành được chính quyền trọn nước nhưng đã không mang lại sự thống nhất trong lòng người và đời sống ấm no hạnh phúc cho hơn 80 triệu người Việt. Tất cả cũng chỉ vì đảng Cộng Sản và chủ thuyết Mác-Lê-Mao-Hồ, chỉ có phá hoại mà không xây dựng được xã hội, tham nhũng mọi tài nguyên của đất nước vào trong tay một thiểu số cầm quyền, chà đạp lên phẩm giá của con người,làm cho VN ngày nay vẫn còn lạc hậu hằng bao thế kỷ so với các nước trong vùng, dù đảng có tuyên truyền nhưng sự thật đâu làm sao giữ kín được.
Tuy ngày nay phương tiện truyền thông báo chí của nhân loại đã đạt tới mức siêu phàm không thời nào sánh được nhưng thế giới bên ngoài, kể cả Người Việt hải ngoại, liệu có được bao nhiêu người, biết được một cách chính xác về cuộc sống lầm than đen đủi, tủi cực và khổ đau của tuyệt đại đa số đồng bào nghèo cả nước, cho dù VN ngày nay đã đổi mới, không còn sống cô lập và bít kín với thế giới bên ngoài, sau bức màn sắt như những năm tháng trứoc thập niên 90 của thế kỷ XX.
Nói chung VN ngày nay không còn có cảnh hàng rào kẽm gai, dao găm mã tấu nhưng thân phận nô lệ vẫn không thay đổi như 70 năm về trứoc. Bởi vì cuộc sống của người Việt trong nước, dưới ách nô lệ mới của đế quốc đỏ, còn đắng cay ngậm ngùi gấp ngàn lần, nếu so với thời bị giặc Tàu, Tây và Nhật đô hộ. Người dân Việt ngày nay, ngoại trừ một thiểu số liên hệ với đảng và có thân nhân Việt Kiều, tất cả còn lại đã chết khựng qua thủ đoạn cai trị độc ác siêu phong kiến của những khuôn mặt già nua vô hồn, vô tình, vô nghĩa của đảng. Nói chung dưới ách thống trị của đảng CS ngày nay, dù là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn hay Nguyễn Tấn Dũng.. tất cả cũng chỉ là một, tàn ác và tinh vi gấp một triệu lần sự đô hộ của Pháp và Nhật trước đó.
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã vĩnh viễn ra đi nhưng ý chí chống cộng quyết liệt của Ông, đã nổi bật trong những năm đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo Quốc Gia (6/1965 -4/1975) và đã chứng minh qua câu nói hùng hồn, bất hủ "Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm".
Tổng thống Ngô Đình Diệm có công giữ vững VNCH trong chín năm và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, là người đã tiếp tục lèo lái con thuyền Quốc-Gia, chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn, dầu sôi lửa bỏng trước áp lực bành trướng của cộng sản quốc tế, trong lúc đồng minh Hoa Kỳ lúc đó, không bao giờ có thực tâm yểm trợ hữu hiệu cho QLVNCH. Nhưng với quyết tâm của TT.Thiệu, chính phủ và toàn dân, cũng như sức chiến đấu anh dũng của quân đội Miền Nam. Nhờ vậy VNCH mới tồn tại được cho tới ngày 30-4-1975.
Công hay tội của những người có liên hệ tới vận mệnh Quốc Gia Dân Tộc, hiện nay có ai dám vổ ngực nói là mình có đủ tư cách để phê phán, khen chê? tuy rằng ai cũng cho là mình có quyền nói lên sự thật. Ngày nay, lịch sử hầu như đã được bật mí, nên tất cả những uẩn khúc của nhân loại đã được phơi bầy ra ánh sáng và ai cũng được đọc, biết hay nghe người khác kể. Thôi thì tất cả hãy dành cho lịch sử mai này quyết định, trong đó chắc sẽ không chừa ai, mà có luôn mấy kẻ tư cách chẳng ra gì, thế nhưng lúc nào cũng đạo đức giả. Ngoài ra còn có cả bia đá và bia miệng, cũng là một phần của lịch sử, xưa nay không hề biết thiên vị ai, dù đó là vua chúa, sử gia hay kẻ hèn nghèo trong xã hội.
Vì lịch sử không bao giờ tự bẻ cong ngòi bút và chạy theo đuôi phường mạnh, để phê phán hàm hồ. Bởi vậy mới có những câu chuyện sử về Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung, Quang Trung và cả Dương văn Minh, Hồ Chí Minh cùng với bè nhóm trên dưới của đảng cộng sản, đang chờ ngày đền tội trước sự quật khởi của đồng bào VN trong và ngoài nước.
Bỗng dưng cảm thấy nghẹn ngào, khi nghĩ tới số phận hẳm hiu của những vị lãnh đạo quốc gia cận đại, từ Cựu Hoàng Bảo Đại, cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, Trần văn Hương.. nay tới phiên cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tất cả gần như không được ngủ yên nơi chín suối, chẳng những từ bộ máy tuyên truyền của kẻ thù cộng sản, mà tàn nhẫn hơn là do chính miệng của những người thường mệnh danh là sử gia, thật sư chỉ là những thợ viết không tim óc, thường mượn sự tự do quá trớn, để trả thù đời, sau khi đất nước trải qua một cuộc bể dâu tận tuyệt, ông xuống hàng chó và sâu bọ thành người viết văn, làm báo, hội trưởng, lãnh tụ..
2- Thân Thế Và Sự Nghiệp Chính Trị Của Cố TT Thiệu:
Theo các tài liệu hiện hành, TT Thiệu sinh ngày 5-4-1923 tại Tri Thủy, làng Khánh Hải,quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận (Trung phần). Nhưng cũng có nguồn tin, đa số phát xuất từ những người chống đối, cho rằng Ông Thiệu vì tin vào các quân sư bói toán thân cận, nên đã đổi lại ngày sinh là 25-12-1924 dương lịch, nhằm ngày 18-11 năm Giáp Tý. Thật ra trong thời kỳ nhiễu nhương tại VN, việc khai trồi sụt tuổi so với năm sinh, là một việc quá đỗi bình thường Tóm lại, về thân thế của TT Thiệu, hiện cũng có nhiều tài liệu đề cập tới nhưng tựu trung đều viết, Ông xuất thân từ một gia đình nghèo nhưng cũng đã theo học hết các bậc tiểu và trung học tại Thị Xã Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận. Sau đó vào Sàigòn, học Trường Kỹ Thuật Đổ Hữu Vị (sau đổi là trường Cao Thắng) và cuối cùng là Trường Hàng Hải Dân Sự., đồng môn với Chung Tấn Cang (Tư lệnh Hải Quân VNCH).
Theo Nguyễn Khắc Ngữ, trong tác phẩm "Những ngày cuối cùng của VNCH", xuất bản sau năm 1975 tại Canada, thì ông Thiệu:
- 1948, theo học khóa sĩ quan trung đội trưởng tại Trường Sĩ Quan Đập Đá (Huế). Căn cứ vào kỷ yếu của Trường Vỏ Bị Quốc Gia Đà Lạt, thì khóa này chính là Khóa 1 Phan Bội Châu của trường. Năm đó khóa này có 63 SVSQ theo học và thủ khoa là tướng Nguyễn Hữu Có, người mà mới đây, được VC cho lên đài truyền hình phỏng vấn, cùng với Nguyễn Hữu Hạnh.. trong dịp kỷ niệm 30 năm, mừng VN được sống trong thiên đàng xã nghĩa, sau khi đất nước đã chấm dứt chiến tranh., do bọn Việt gian của Đài Voa, từ Canada về thực hiện, bợ đit VC kiếm cơm.
- 1949 mãn khóa, Ông Thiệu về phục vụ tại Miền Tây Nam Phần, rồi được sang tu nghiệp quân sự tại Coequidan. Ông cũng đã phục vụ trong các đơn vị tác chiến, của Quân Đội Quốc Gia tân lập, tại Hưng Yên (Bắc Phần), do Trung Tá Dương Quý Phàn chỉ huy. Lúc đó, cùng chung đơn vị có Cao Văn Viên, cả hai mang cấp bậc Trung Úy.
- 1955 là Tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh tại Huế.
- 1958 thăng cấp Trung Tá, là Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
- Được theo tu nghiệp các khóa quân sự cao cấp về tham mưu, chính trị tại các quân trường của Hoa Kỳ như Port Leavenwort, Fort Blifs cũng như Okinawa (Nhật).
-1959 tới 1963: Tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, đồn trú tại Biên Hòa.
-1/11/1963 tham dự cuộc binh biến và được thăng Thiếu Tứớng, làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV.
- Ngày 18/1/1965 thăng Trung Tướng, là Đệ Nhị Phó Thủ Tướng trong Nội Các Trần Văn Hương.
- Ngày 19-6-1965, quân đội VNCH chánh thức đổi thành Quân Lực VNCH và ngày đó đã trở thành NGÀY QUÂN LỰC hằng năm cho tới nay, dù Miền Nam đã bi cộng sản Bắc Việt xâm lăng cưỡng chiếm tháng 5-1975. Ngày này, Trung Tướng Thiệu, được Hội Đồng Quân Lực, cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (Quốc Trưởng).
-Ngày 4/9/1967 đắc cử Tổng Thống Đệ Nhị Cộng Hòa Miền Nam. Thiếu tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ là Phó Tổng Thống. Trong nhiệm kỳ này, chính phủ VNCH đã thực thi được nhiều cải cách quan trọng về giáo dục, nông nghiệp.
- Tháng 4/1972 tái đắc cử Tổng Thống lần thứ hai, cụ Trần Văn Hương là Phó Tổng Thống.
- Từ đầu năm 1973, qua áp lực cúp viện trợ đồng thời với những bức thơ của Tổng Thống Mỹ là Nixon, hứa hẹn sẽ yểm trợ và can thiệp khi VC xâm lăng Miền Nam, nên TT Thiệu đã bắt buộc, ký vào Bản Hiệp Ước Ngưng Bắn tháng 2-1973, dù đã biết rõ ràng đây là văn tự mà người Mỹ ký bán VNCH cho khối cộng sản quốc tế, để đánh đổi quyền lợi của nước mình.
-Ngày 26/3/1973 TT.Thiệu ban hành Luật Người Cầy Có Ruộng. Cũng từ đó cho tới lúc tàn cuộc chiến, người Mỹ đã gần như chính thức bỏ rơi miền Nam. TT Thiệu trước cảnh thù trong giặc ngoài, thêm CIA và điệp viên cộng sản nằm vùng ngay trong Dinh Độc Lập phá hoại, nên đã phải từ chức vào lúc 19 giờ 30 đêm 21-4-1975. Phó TT Trần Văn Hương lên thay thế nhưng cũng chỉ được vài ngày, rồi giao việc nước lại cho Đại Tướng Dương Văn Minh, để ông đầu hàng cộng sản vào trưa ngày 30-4-1975.
-Đêm 26-4-1975, TT Thiệu cùng Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, được Hoa Kỳ giúp đỡ phương tiện, di tản tới Đài Loan. Sau đó Ông tới định cư ở Anh Quốc và cuối cùng cư ngụ tại Boston-Hoa Kỳ.
-Ngày 29/9/2001 Ông ngã bệnh và qua đời, hưởng thọ 78 tuổi.
Qua lời kể của Băng Đình, cựu trưởng phái đoàn báo chí Phủ Tổng Thống, trên tạp chí Thế Giới Ngày Nay số 168 và Thiếu Tá Châu Bích, từng phục vụ nhiều năm tại Dinh Độc Lập, hiện sống tại Hạ Uy Di. Cả hai đều có nhiều cơ hội gần gũi với vị nguyên thủ quốc gia, khi công tác, thì TT Thiệu là người có tính tình rất bình dân mộc mạc, ăn nói huỵch toẹt theo nếp sống của người miền biển PhanRang-Phan Thiết, không cần màu mè, mà chỉ muốn nói sao cho mọi người mọi giới, thông cảm là đủ rồi. Nhưng ngược lại khi muốn phổ biến văn bản tới quốc dân, cũng như người ngoại quốc, ông lại tỉ mỉ cẩn thận từ nội dung tới hình thức. Ông rất coi trọng thể diện quốc gia và cá nhân, nhất là không bao giờ sử dụng ngoại ngữ dù ông rất giỏi, chứ không phải như những tin đồn ác ý, nói vì sợ ám sát nên ông rất sợ và lệ thuộc người Mỹ trong mọi phương diện.
Thật sự hoàn toàn trái ngược, căn cứ theo những nguồn tư liệu ghi lại, thái độ của TT Thiệu đối với TT Nixon, trong các cuộc Họp Thượng Đỉnh tại Honolulu và Midway.. Nhưng quyết liệt nhất là đối với Kissinger tại Dinh Độc Lập, khi đương sự tới Sàigòn vào những ngày cuối năm 1972, để bắt buộc VNCH ký vào bản hiệp ước ngưng bắn. Tóm lại, TT Thiệu là một trong những nhà lãnh đạo VNCH, có lập trường kiên quyết chống cộng sảnxăm lăng Bắc Việt.
Như các phóng viên chiến trường ngày nay, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu ngày xưa, luôn chứng tỏ là một tướng lãnh gan lỳ, biết chia xẻ với đồng đội nhũng hiểm nguy nơi chiến trường. Bởi vậy ông luôn có mặt ngay trong những miền lửa khói, đẫm máu và tàn bạo nhất trong quân sử VN và thế giới, giữa lúc vừa tạm ngưng tiếng súng, bom đạn, pháo kích như hồi Tết Mậu Thân (1968), Mùa hè đỏ lửa 1972 tại Trị-Thiên, Bình Định, Kon Tum, An Lộc.. và nhiều địa danh hiểm ác nhất, khắp bốn vùng chiến thuật, tại miền nam VN, trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1955-1975). Cảm động nhất đối với tâm tư của những người lính trận, trẻ tuổi xa nhà, là gần như tất cả các dịp xuân về, ông đều tới các tiền đồn nguy hiểm, xa xôi hẻo lánh hay các đơn vị nghĩa quân, để cùng ăn tết với họ, giữa bom đạn thay tiếng pháo mừng xuân. Thử đếm trên đầu ngón tay, suốt cuộc chiến, đã có bao nhiêu vị tướng lãnh miền nam,, dám đem cái sinh mạng kim cương vàng ròng, để giỡn mặt với tử thần như Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu? Họa chăng mới thấy có một người, cũng gan lỳ liều lĩnh như vậy: Đó là Đại tá Ngô Tấn Nghĩa, Tỉnh Trưởng Bình Thuận, từ cuối năm 1969 cho tới đêm 18 tháng 4-1975.
Chính những điều kể trên, khiến cho những người lính già VNCH, từng chiến đấu ngoài mặt trận lúc đó, nay may mắn được sống sót, sau khi đã nếm đủ đắng cay nhục hận, nơi mười hai tầng địa ngục trong cõi thiên đàng xã nghĩa VN.. càng thấy gần gũi hơn với vị lãnh đạo của mình, ít ra trong việc ông đã cùng đồng chung chịu khổ với người lính trận tại chốn sa trường.
Ngày nay qua núi sử liệu mọi phía được công khai mở rộng và quan trong nhất là mới đây, những nhân vật từng có liên hệ tới cuộc chiến VN, trong cũng như ngoài nước, bạn hay thù, như TT Nixon, ngoại trưởng Kissinger, Hoàng Đức Nhã, Nguyễn Tiến Hưng, Nguyễn Phú Đức, Lâm Lễ Trinh, Bùi Tín, Võ văn Kiệt, Lý Quý Chung.. giúp ta thẩm định lại, một cách công bằng và can đảm, khi xuống bút ghi lại những lầm lỗi to lớn của ông, vào những giờ phút nguy ngập của đất nước, như bất nhất ra lệnh bỏ cao nguyên, Huế-Đà Nẳng, triệt thoái QDI-II.. làm tan vỡ nửa lực lượng quân đội và mất vào tay giặc hơn 3/4 lãnh thổ.
Nhưng tệ nhất là ông cũng giống như các đại tướng Viên, Khiêm.. không dám ở lại cùng lính và dân, khi "thành mất thì chủ tướng phải chết theo thành", để muôn đời sống trong thanh sử như các vi nam nữ anh hùng dân tộc Trần Bình Trọng, Nguyễn Biểu, Lê Lai, Võ Tánh, Ngô Tùng Chu, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Khoa Nam, Phạm văn Phú, Lê văn Hưng, Trần văn Hai, Lê Nguyên Vỷ, Hồ Ngọc Cẩn.. như lời hứa hẹn trong buổi lễ bàn giao chức vụ Tổng Thống VNCH cho Phó TT. Trần văn Hương.
Sau rốt, dù tài liệu có hé mở cách nào chăng nửa, việc bắt từ chức và bỏ nước ra đi của TT Thiệu, cho tới nay còn khuya các sử gia biết hết sự thật, ngoại trừ các chóp bu Mỹ trong Tòa Bạch -c, ông Thiệu, Cụ Hương, ông Dương văn Minh, mới có đủ tư cách và thẩm quyền trả lời. Tiếc thay người Mỹ có bao giờ thành thật để ai tin?còn tất cả các vị trên nay đã trở thành người thiên cổ, không nói được và cũng không lưu lại cho hậu thế một lời nào. Riêng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, thì vẫn như thuở nào, im lặng mặc cho miệng đời dị nghị. Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên có nói và viết nhiều, nhưng cũng chỉ là cái tôi muôn đời nay ai cũng biết.
Tóm lại theo Nguyễn Văn Ngân, nguyên phụ tá chính trị lâu năm tại Phủ Tổng Thống, một cộng sự thân tín,dù đã bị chính ông Thiệu bắt giam, vì nghi kỵ phản bội,cũng vẫn phát biểu rằng "Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong mười năm tại Dinh Độc Lập, đâu có khác gì ngồi trên bàn chông núi đao, vì luôn luôn phải đối phó với thù trong giặc ngoài và chính cả những người thân tín quanh mình, mà một số không ít, nếu chẳng là điệp viên của đệ tam cộng sản Hà Nội nằm vùng, thì cũng làm việc cho CIA Mỹ hay bọn gian thương bất lương Ba Tàu Chợ Lón. Tất cả đã cùng hiệp đảng với đồng đô la viện trợ, góp phần lớn làm sụp đổ VNCH".
Ba Năm Xáo Trộn (1964-1967):
Nền đệ nhất cộng hòa miền nam (1955-10/1963), tuy đã phạm nhiều lầm lỗi nhưng vẫn là một thể chế hợp hiến và trên hết có tự do dân chủ, đã mang lại phần nào ấm no hạnh phúc cho đồng bào miền Nam, trong lúc đất nước đang bị tai họa chiến tranh. Bởi vậy nếu đem so sánh, thì miền Nam lúc đó còn hơn nhiều quốc gia đương thời. Trong chín năm dài (1955-1963), VNCH đã ngăn chận hữu hiệu cuộc xâm lăng trắng trợn của cộng sản đệ tam quốc tế, đem lại an ninh hầu như khắp lãnh thổ Nam VN, từ Bến Hải vào tới Cà Mâu, chấm dứt sự hỗn loạn, do hậu quả và tàn tích của 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ.
Rồi cuộc binh biến dành ngai vàng ngày 1-11-1963, gần như làm đổ vở tất cả những gì mà đồng bào đã có. Thật sự không có gì cả như lời hứa hẹn của các lãnh tụ và giả sử nếu có, cũng chẳng qua là cái men say chiến thắng, cùng sự tự phong gắn lon lá cho nhau của những người trong cuộc. Cái trơ trẽn của nhân tình, khiến Lý Chánh Trung phải hạ bút một cách cay độc, khi nói tới hai chữ cách mạng, đã khiến cho mọi người phải ngao ngán tủi lòng, khi nghĩ về những cuộc cách mạng trong cận sử, qua các năm 1945, 1963 và cuối cùng là cuối tháng 4-1975. Tất cả đều cùng mang chung cái bản chất dối trá, mị dân bằng lớp son hào nhoáng bên ngoài, chỉ nhằm ru ngủ và thỏa mãn một vài đòi hỏi nhất thời của đám đông. Tóm lại cuộc binh biến ngày 1-11-1963 đã mở đầu cho ba năm xáo trộn chính trị tại VNCH. Tất cả cũng chỉ vì tranh giành địa vị, lợi lộc và chiếc ngai vàng ba chân đang bỏ trống, nên phải chỉnh lý, đảo chính, xuống đường.. cho tới khi hai tướng Thiệu và Kỳ lên nắm quyền, dù nội bộ có tạm yên nhưng cũng là lúc lửa sân si bốc cháy rực trời, suýt chút nữa để Nam VN lọt vào tay cộng sản quốc tế Hà Nội vào thời điểm đó.
Hỡi ơi chỉ có ba năm sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm nằm xuống trong lòng chiếc thiết vận xa của ta, do những viên đạn cũng của phe ta, thì Miền Nam đã có tới sáu chính phủ liên tiếp cầm quyền, trị nước. Đó là Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Khánh, Trần Văn Hương, Nguyễn Xuân Oánh, Phan Huy Quát và Nguyễn Cao Kỳ. Rồi thì biểu tình và thiên tai tại miền Trung. Tiếp theo là cuộc nổi loạn của bốn trại Lực Lượng Đặc Biệt Thượng tại Darlac. Nhưng trên hết vẫn là cái vô tình, vô luân, vô nghĩa của bọn giàu sang no cơm ấm cật, rửng mỡ nên cứ đứng núi này trông núi nọ, luôn luôn bốc lửa bỏ vào kho xăng hỗn loạn, đang ngùn ngụt cháy, làm cho VNCH gần như vô chính phủ,khiến nền pháp trị có sẵn từ trước, đã bị đám loạn tướng, kiêu tăng và bọn cha cố ích kỷ, toa rập phá vỡ toàn bộ. Chính cái bi thảm này, mới là nguyên nhân then chốt đưa tới sự sụp đổ của đất nước vào tay cộng sản, làm cho dân chúng cả nước đồ thán khổ sở, dân tộc VN bị thoái hóa và tận tuyệt nhất vẫn là giang sơn cẩm tú của Tiên nhân xây dựng bồi đắp bằng máu lệ xương thịt, đã bị VC đem bán buôn dâng hiến lần hồi cho ngoại bang, trong đó có Trung Cộng là kẻ thù truyền kiếp của Đại Việt.
Theo sử liệu, trong ba năm xáo trộn chính trị, thì thời kỳ Nguyễn Khánh tham chính, từ cuối tháng 1-1964, gây chỉnh lý để hạ bệ các tướng Big Minh, Đôn, Kim, Đính, Xuân.. cho tới khi bốc nắm đất Sàigòn, bỏ quê hương tới Mỹ sống kưu vong, là chuỗi ngày hỗn mang nhất trong 20 năm tồn tại của VNCH.
Ngày 4-9-1967, liên danh quân đội của hai tướng Thiệu-Kỳ đắc cử tổng thống, mở đường cho sự ổn định của nền đệ nhị cộng hòa Miền Nam (1967-1975). Ngày nay dù ai có gọi bằng một danh xưng nào chăng nửa, thì thực tế đây là thời kỳ an ninh trật tự xã hội đã được vãn hồi khắp nước, tạm thời chấm dứt những xáo trộn trầm kha trên sân khấu chính trị. Nhờ vậy nên đã giúp cho QLVNCH an tâm và đoàn kết trở lại như xưa, tạo nên sức mạnh, ngăn chống được giặc Bắc xâm lăng. Cuộc chiến còn đang tiếp diễn, thì não nùng thay Dương Văn Minh lên thay ngựa, đã dùng quyền lực, bắt người lính buông súng rã ngũ, để đầu hàng cộng sản quốc tế vào trưa ngày 30-4-1975.
Tóm lại trên đường tiến vào Dinh Độc Lập năm 1967, tổng thống Thiệu đã phải còng trên lưng, cái gia tài Mẹ VN hấp hối và rỉ máu, do Dương Văn Minh và Nguyễn Khánh phá sản, trong cảnh tan hoang của buổi chợ chiều thời Ngô triều. Nói về thời kỳ nhiễu nhương trên, Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch bù nhìn của cái mật trận ma, tay sai Hà Nội, sau khi xâm lăng cưởng cướp được Miền Nam, đã phán " Chính nhờ những cơ hội trên trời rớt xuống như thế này, nên CSBV mới chuyển bại thành thắng và cướp được VNCH ".Bởi vậy khi nhắc tới thời kỳ ổn định của Miền Nam, từ 1967-1975, ai cũng bảo đó là phép lạ.
Tổng Thống Thiệu Và Cuộc Chiến Chống CSBV Từ 1967-4/1975:
Mổi lần nghỉ tới cảnh nhà tan người chết, nổi đói nghèo của đồng bào, cảnh trẻ em phụ nử VN vì muốn cải thiện cuộc sống nghèo cực trầm luân dưới mười hai tầng địa ngục của chế độ đương thời, mà nhắm mắt nghe lời theo đảng, để rồi bị bán ra nước ngoài làm điếm quốc tế. Và trên hết, vẫn là nổi niềm đau xót tủi nhục trước cảnh cộng sản VN công khai bán đất dâng biển, làm đầy tớ cho ngoại bang như hôm nay, khiến cả nước đều khinh ghét bọn việt gian, đội lớp trí thức và tôn giáo thời VNCH. Đây mới chính là những vết dao trí mạng đâm bồi thêm sau lưng người chiến sĩ Quốc Gia, giữa lúc họ đang hứng chịu bom đạn nơi sa trường.
Trong hoàn cảnh hỗn mang đó, ông Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện đúng lúc trên sân khấu chính trị Miền Nam, qua tầm vóc dù nay có bị thiên hạ ganh tị, bới móc chửi rủa chê bai. Nhưng lúc đó, thật sự ông vẫn hơn nhiều người đương thời và quan trong hơn hết, là lập trường chống công sản rất kiên quyết, không bao giờ khoan nhượng. Những yếu tố trên rất phù hợp quan điểm và chính sách của Hoa Kỳ lúc đó, là muốn chiến thắng cộng sản đệ tam quốc tế, đang xâm lăng thôn tính VN.Do trên, ông đã được sự ủng hộ thành thật ban đầu của Mỹ. Nhờ vậy Tổng thống Thiệu mới ổn định được thời cuộc và giữ vững được MiềnNam, cho tới cuối tháng 4-1975.
Mới đây cựu ngoại trưởng Mỹ là Kissinger, một nhân vật bị mang tiếng là đã toa rập với cố Tổng thống Hoa Kỳ Nixon, dùng Hiệp định ngưng bắn Paris năm 1975, để bán đứng Đồng Minh của mình là nước VNCH, cho cộng sản đệ tam quốc tế. Ông đã viết trong tác phẩm " Diplomacy ", rằng Hoa Kỳ vì muốn cứu mình, nên bắt buộc đã phải phản bôi Miền Nam. Cũng vì vậy tới nay, nước Mỹ đã phải trả một giá thật đắt với nhân loại, qua cái gọi là "Hội Chứng Chiến Tranh VN", về tội bất nhân, bất nghĩa, bất tín và hành động kẻ cướp của bọn con buôn chính trị hoạt đầu.
Cũng trong tác phẩm dẫn chứng, Kissinger đã đề cập tới sự sai lầm trầm trong của Hoa Kỳ, khi tìm đủ mọi cách được vào tham chiến tại Nam VN nhưng chỉ chiến đấu bằng lý thuyết tại bàn giấy, mà chẳng bao giờ thèm để ý tới thực tế chiến trường. Do đó, quân đội Hoa Kỳ phải đánh giặc, theo chủ đích có sẳn trong đơn đặt hàng,, của bọn siêu quyền lực lái súng, phần lớn là Mỹ da trắng gốc Do Thái, thời nào cũng nắm vận mệnh của Hiệp Chủng Quốc bằng thế lực kim tiền.
Đây cũng là căn bệnh trầm kha của xã hội Mỹ, quen sống chủ quan trong cảnh thừa mứa tự do và vật chất, đến lúc sự lạc quan sụp đổ, thì đã vội chán nãn tuyệt vọng, mau chóng buông xuôi tất cả, để tháo chạy giữ mạng. Tệ nhât là vì muốn rửa mặt với kẻ khác, Hoa Kỳ đã trơ trẽn dựng thêm lý do "Miền Nam Không Đáng Được Cứu Vớt", nên phải bỏ. Nhưng dù có biện bạch thế nào chăng nửa, thì người ta cũng không thể nhắc tới vấn đề nhân đạo, trong một cuộc chiến tiêu hao lâu dài, với một kẻ thù dã man cuồng sát như Cộng sản Bắc Việt, coi sinh mạng con người (trừ thân nhân mình), rẽ hơn con sâu cái kiến. Bởi vậy từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Độ.., tới các chóp bu đang lãnh đạo Đảng tại Bắc Bộ Phủ ngày nay, đều giống nhau, chỉ biết lấy thân xác của đồng bào vô tội, làm phương tiện đạt cứu cánh sau cùng, nên bất chấp thủ đoạn, nhân tình, nói chi tới lòng ái quốc và tình thương dân. Cho nên dù có tranh luận như thế nào chăng nửa hay đổ tội cho ai, thì cuối cùng cũng phải đi tới kết luận như Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Robert Kennedy lúc sinh thời từng nói "Lổi lầm tại VN nhiều tới nổi, bất cứ ai có liên hệ, cũng đều ít nhiều phạm phải".
Từ tháng 2-1965, vì tình hình chính trị hổn loạn tại Miền Nam do Cộng sản nằm vùng gây ra, nên Tổng thống Mỹ L.Johnson đã ra lệnh oanh tạc Bắc Việt. Đồng lúc gởi quân vào giúp VNCH. Nhiều đồng minh của Mỹ lúc đó như Úc, Tân Tây Lan,Đại Hàn, Đài Loan, Thái Lan và Phi Luật Tân.. cũng tham dự cuộc chiến. Mặc dù ngày nay, ai cũng biết rõ là lúc ấy, Hồ Chí Minh cũng được cả khối Cộng sản đệ tam quốc tế và các đảng bộ cộng sản Tây phương, quân viện giúp đở, kể cả hằng trăm ngàn quân Trung Cộng, Bắc Hàn.. đổ bộ vào Miền Bắc.. Nhưng nhờ giỏi che đậy, tuyên truyền và được một vài trí thức khoa bảng Miền Nam toa rập, cho nên đã bưng bít được, suốt cuộc chiến và tới ngày nay khi bộ mặt thật của VC đã phơi bày. Thế nhưng cộng sản và đám lục bình, phản tặc, vẫn không ngớt rêu rao, tuyên truyền rằng VNCH, rước voi dầy mã tổ, bán nước, giết hại đồng bào.
Sau ngày 1-5-1975, những huyền thoại dõm của VC lần lượt tan biến và trở thành những câu chuyện khôi hài cười ra nước mắt, xác nhận hai phía, ai là kẻ bán nước, ai là người vì dân.Tất cả đã bị lịch sử lột trần ra ánh sáng,. Theo tài liệu của C.JIan, trong "China and VN war 1945-1975" và gần đầy là "Đêm giữa ban ngày" của Vũ Thư Hiên, ta mới biết vào ngày 16-5-1965, chính Hồ Chí Minh lúc đó là Chủ tịch nước VNDCCH (Bắc Việt), đã công khai yêu cầu các nước XHCN Liên Xô, Trung Cộng, Đông Đức, Đông Âu, Bắc Hàn, Cu Ba.. viện trợ và gửi quân tiếp viện miền Bắc. Sốt sắng hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ, là Mao Trạch Đông đã đưa ngay Hồng quân vào đất Bắc. Tính tới cuối năm 1968, Trung Cộng quân viện cho Hà Nội 7 Sư đoàn Công binh và 16 Sư đoàn Pháo binh Phòng không đủ loại, trong đó có nhiều súng Cao xạ Phòng không kiểu mới nhất do Liên Xô vừa chế tạo.
Quân Tàu Đỏ thay thế Bộ đội Bắc Việt vào Nam xâm lăng, giúp Hà Nội phòng thủ khắp nơi, từ biên giới Việt-Hoa-Lào vào tận Vỹ tuyến 20 ở Thanh Hóa. Tháng 3-1969, do sự bất hòa giữa hai đảng anh em vì tranh dành ảnh hưởng tại Lào và Kampuchia, nên Mao đã rút hết Hồng quân về nước. Ngoài ra trong suốt cuộc chiến, đất Bắc còn có nhiều cố vấn Liên Xô, Đông Đức, Tiệp Khắc.. còn Bắc Hàn và Cu Ba, thì gửi tới giúp nhiều đơn vị tác chiến. Ngày nay tại Hà Nội, vẫn còn nhiều mồ mã các cán binh ngoại quốc, đã chết trong chiến tranh VN. Có điều nhờ Hồ và đảng che đậy quá kỷ, nên mặt thật của cái gọi là đánh Mỹ cứu nước gần mấy chục năm sau, mới được phơi bày ra ánh sáng.
Ngày 4-9-1967, tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng thống, nhờ đó những xáo trộn chính trị tại Miền Nam mới dần hồi chấm dứt. Đây cũng là thời gian thành công của Chiến dịch Phượng Hoàng, nhằm loại trừ các thanh phần CSVN đang nằm vùng khắp nơi. Song song, chính quyền đã thành lập các cơ cấu hạ tầng và hệ thống thẩm định đồng bào nông thôn, đang sống tại các xã ấp xôi dậu. Nhờ các chiến dịch trên, đã giúp vãn hồi an ninh khắp lãnh thổ, được tướng Westmoreland,tổng tư lệnh quân đội đồng minh và Hoa Kỳ tại VN nhận xét "Năm 1967, QLVNCH đã tiến bộ vượt bực. Nhờ vậy đã bảo vệ được lãnh thổ trong hoàn cảnh đất nước đang bị nguy ngập, khó khăn, sau mấy năm biến loạn chính trị, với thù trong giặc ngoài".
Theo tài liệu của Bộ TTM/QLVNCH, thì Miền Nam trước khi xãy ra cuộc chiến Têt Mậu Thân (1968), ngoại trừ lực lượng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Lực Lượng Đặc Biệt, được Mỹ trang bị một số vũ khí tự động,trong đó có tiểu liên M15. Còn các đơn vị khác, kể cả binh chủng Biệt Động Quân, Bộ binh.. vẫn còn xữ dụng số vũ khí lổi thời của Pháp để lại. Riêng viện trợ Mỹ, hầu hết cũng đều là các quân cụ thặng dư, có từ thời đệ I,II thế chiến. Nếu không có cuộc chiến tranh Việt Nam, thì cũng phải đem phế thải mà thôi.Đây là hàng bán, tính bằng tiền mặt,rồi trừ vào ngân khoản viện trợ, lại được miễn thuế khi nhập vào nước ta.Trong khi đó CSBV được toàn khối Cộng sản đệ tam quốc tế, viện trợ tối đa, từ tiền bạc, tình báo, tinh thần, cho tới quân trang dụng rất đầy đủ, nhiều nhất của Liên Xô, Trung Cộng, Đông Đức và các nước Đông Âu.. Tóm lại toàn là vũ khí hiện đại, đã được bộ đội Bắc Việt, đem xử dụng trên khắp chiến trường miền Nam như các loại Tiểu liên AK-47 (LX), AK-56 (TC), AK-MPiKM (Đông Đức), AKM-63 (Hung), AKVZ-58 (Tiệp), Súng chống chiến xa RPG-2B hay B40 của LX, B-56 (Tiệp), B-27 (TC), RPG-7(B41 của LX), B-69 (TC) và các loại chiến xa T-54, Thủy xa PT-76 cùng các loại đại bác tầm xa 122-130 ly do LX chế tạo.
Nhưng dù đạt được nhiều ưu thắng, VC vẫn bị thất bại quân sự, gần như trên khắp mọi chiến trường, nên Hà Nội đã phải thay đổi chiến thuãt, chiến lược. Về chính trị, Bắc Việt tận lực sử dụng bọn Việt gian nằm vùng,đang trà trộn trong hàng ngủ khoa bảng trí thức giáo vận, sinh viên, văn nghệ sĩ, sống ký sinh khắp Miền Nam, để đánh phá không ngừng nghĩ chính quyền, qua chiêu bài đòi hỏi tự do, dân chủ, trên báo chí, sách vở, trong các cuộc biểu tình, xuống đường, nhiều lúc thật phi lý, trong một đất nước đang bị kẻ thù xâm lăng tàn phá.
Về quân sự, thay đổi từ Du kích chiến của Mao, sang Địa chiến, tấn công biển người của Liên Xô. Dùng xác người làm phương tiện, mở các cuộc tấn công biển người vào đồn bót, căn cứ, thôn làng và đô thị Miền Nam, chỉ nhằm mục đích gây tiếng vang khắp thế giới, để che dấu việc xâm lăng VNCH. Tại Âu Châu, Úc, Canada và Hoa Kỳ, qua thế lực cộng sản đệ tam quốc tế và các đảng bộ cộng sản bản địa, dùng tiền bạc và tuyên truyền, cho cán bộ trà trộn vào các phong trào phản chiến thân Cộng tại điạ phương. Mục đích làm mất uy tín của Miền Nam trên diễn đàn quốc tế, nhất là tại nước Mỹ, đang có nhiều thanh niên gia nhập vào quân đội, sang chiến đấu tại VN. Để lừa bịp mọi người, VC dùng thủ thuật đánh lạc hướng dư luận thế giới, về ý nghĩa của cuộc chiến đấu chống xâm lăng của Người Việt Quốc Gia. Nhờ vậy Bắc Việt đã đạt chiến thắng cuối cùng, không phải trên chiến trường, mà ở New York, Hoa Thịnh Đốn, Paris, Luân Đôn..
Ngày 30-1-1968, nhằm mồng một Tết Nguyên Đán năm Mậu Thân, giữa lúc đồng bào đang nô nức đón xuân,trong thời gian hưu chiến.Nhưng VC đã bội ước, lợi dụng QLVNCH không đề phòng và phần lớn về nhà ăn tết. Nên bất thần xua 283.000 cán binh bộ đội Miền Bắc, gây nên một cuộc chiến long trời lở đất, tại thủ đô Sàigòn, 5 thành phố, 36 thị xã, 64 quận lỵ và 50 xã ấp. Cuộc tàn sát đẳm máu trên của Cộng quân, đã làm cho hơn 40.000 đồng bào vô tội chết thảm. Ngoài ra còn có hằng ngàn nhà cửa, trường học, cơ sở tôn giáo, bệnh viện và nhiều di tích lịch sử lâu đời của dân tộc, bị bom đạn tàn phá tiêu hủy tận tuyệt.
Nhưng man rợ và thê thảm nhất, vẫn là cố đô Huế. Tại đây cộng sản Bắc Việt và địa phương như Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng phủ Ngọc Từờng, Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đóa, Hoàng Lanh, Hoàng Kim Loan.. trước khi tháo chạy vào rừng ngày 26-2-1968, đã sát hại hơn 4000 thường dân vô tội. Trong số này có các vị giáo sư Tây Đức, đang giảng dạy tại Đại học Y khoa Huế như vợ chồng bac sỹ Hort Gunther Krainich, bác sỹ Raimund Discher và Alois Alterkoter.Thi thể các nạn nhân bị vùi dập trong các nấm mồ tập thể trong nội thành và ngoại ô Huế. Xác các nạn nhân sau đó, được chính quyền VNCH cải táng, tại nghĩa trang Ba Tầng ở Hương Trà (Thưà Thiên). Sau ngày 30-4-1975, để phi tang tất cả những tội lỗi thiên cổ, bọn ác tặc nắm quyền lúc đó tại Huế như Điềm, Tường, Phan, Xuân.. đã gây thêm tội ác một lần nửa, khi đem xe ủi đất tới san bằng toàn bộ nghĩa trang trên. Nhưng cho dù xác thân họ nay đã biến thành cát bụi, vẫn còn bia miệng và sử liệu nhắc nhớ ngàn đời.
Tóm lại trong cuộc chiến Tết Mậu Thân (1968), cộng sản Bắc Việt hoàn toàn thất bại về quân sự nhưng lại được hệ thống báo chi truyền thông truyền hình của Tây phương và Hoa Kỳ, đổi trắng thay đen, thổi phồng sự thật, bẽ cong ngòi bút, khiến cho QLVNCH, Đồng Minh và Mỹ lại bị chiến bại. Hậu quả làm cho nước Mỹ bi quan về cuộc chiến đang theo đuổi, gây nên sự chia rẽ khắp nước, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ cộng sản quốc tế, trà trộn vào các phong trào phản chiến, đòi hỏi Mỹ rút quân, làm cho Tổng thống Mỹ thời đó là L.Johnson không ra tái cử.
Tháng 11-1968, R.Nixon đảng Cộng hòa, đắc cử tổng thống và trước thành quả ổn định của VNCH, năm 1969 Mỹ tuyên bố sẽ rút quân và bắt đầu kế hoạch bằng VN hóa chiến tranh, qua chương trình hiện đại hóa QLVNCH. Từ các năm 1970-1971, Nam VN đã mở nhiều cuộc hành quân ngoại biên Toàn Thắng tại Kampuchia và Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, đã phá hủy hầu hết các mật khu và căn cứ của Bộ đội miền Bắc, đã thiết lập trên đường mòn Hồ Chí Minh. Cũng nhờ các chiến thắng bằng máu xương cằn cổi của QLVNCH, đạt được tại các chiến trường lửa máu nguy hiểm nhất trên thế giới lúc đó. Nhờ vậy năm 1972, Nixon tái tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2, giữa lúc Liên Xô và Hoa Kỳ, đang thương thảo về Hiệp ước giới hạn vũ khí chiến lược (SALT), cùng việc tài giảm binh bị. Đồng lúc, Nixon và Kissinger đã nối kết được sự giao hảo với Trung Cộng, sau mấy mươi năm gián đoạn vì Đài Loan. Do đó TT Mỹ được Mao đón tiếp rất nồng hậu tại Bắc Kinh.
Do sự đổi chác của các đàn anh với nhau, nên Bắc Việt đã bị Liên Xo lẫn Trung Cộngạ áp lực nặng nề. Để gây lại tiếng vang với chủ, gần như bị đánh mất, sau những thất bại quân sự liên tiếp. Đó là lý do, Bắc Việt đã liểu lĩnh điên cuồng, mở các cuộc tổng tấn công vào mùa hè máu lửa 1972 tại Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định và An Lộc. Kết quả đã khiến cho hơn 100.000 cán binh bỏ mạng tại các chiến trường. Riêng Hoa Kỳ vì nhu cầu chính trị,có lợi cho mình, nhất là đang lúc Nixon cần tái đắc cử,nên đã phản ứng mạnh nhất, bằng cuộc dội bom vô tiền khoáng hậu trên đất Bắc. Đồng thời còn dùng cả thủy lội, để phong tỏa hải cảng Hải phòng, khiến cho CSBV chịu nghiêm chỉnh hơn, dù chỉ là đóng kịch, khi cùng Mỹ, lại ngồi vào bàn hội nghị tại Ba Lê.
Rốt cục, bản Hiệp ước ngưng bắn, cũng được Mỹ và Bắc Việt đồng thuận dàn dựng vào ngày 27-1-1973,sau những màn kịch cởm, để che đậy sự bán đứng Nam Việt Nam cho kẻ thù. mở đường cho sự sụp đổ của VNCH, vào trưa ngày 30/4/1975. Viết về sự bi thãm trên, S.R.Thompson nhận xét rằng "Khi ký hiệp định Ba Lê năm 1973, Nixon và Kissinger, đã bỏ lở cuộc chiến thắng gần kề của QLVNCH, bằng sự tự ý ngưng oanh tác miền Bắc, cũng như ngăn cản Miền Nam tái chiếm lại các vùng đất đã bi VC cưởng chếm trong trận mùa hè 1972".
Đây mới là yếu tố then chốt, để VC biết cây bài tẩy của Mỹ, nên khinh thường bắt bí đủ điều. Ngay cả con cáo già Kissinger cũng bị Lê Đức Thọ, đùa cột chơi chữ, lừa vào bẩy rập, như người lớn dùng kẹo ngọt dụ dổ trẻ nít thơ ngây, để rồi hành động không bao giờ biết suy nghĩ. Còn Tổng thống Nixon thì thú nhận rằng "Vì áp lực của quốc hội Mỹ, lúc đó đa số là đảng dân chủ với thành phần phản chiến. Cuối cùng để giữ chức quyền, nên đương sự đã muối mặt lấy viện trợ đô la quân viện, để làm một điều kiện sống chết, bắt Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải ký vào bản hiệp ước, một cách bất công vô nhân đạo."
Nhưng ý nghĩa hơn hết, vẫn là lời kết luận của Đô đốc US.G.Sharp, nguyên tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương Hiệp định Ba Lê mà Hoa Kỳ đã ký kết với CSBV, không phải là công thức hòa bình, vì kẻ xâm lược là VC, vẫn ở lại Miền Nam Việt Nam, để tiếp tục gây chiến tranh, một cách công khai, mà không còn sợ Mỹ can thiệp như trước. Tệầ hại hơn hết là điều 4 của Bản hiệp ước,bắt xóa bỏ chế độ hiện hữu hợp pháp của VNCH, lập một chính quyền mới, trong đó có ba thành phần Quốc gia, Mặt trận giải phóng miền Nam và Lực lượng thứ ba Hòa hợp hòa giải dân tộc.
Theo nhãn xét của hầu hết các sử gia trong và ngoài nước, thì Điều 4 trong bàn hiệp ước, mới chính là giọt nước mắt nhược tiểu Việt Nam. Khôi hài hơn,bản hiệp ước chính chưa được các phe tham chiến liên hệ đồng ý ký kết tại Ba Lê, thì người Mỹ đã trao cho CSBV Bản dự thảo, để Hà Nội ban lệnh trước, cho các cán binh bộ đội VC học tập, chuẩn bị tấn công Miền Nam, qua chiến dịch dành dân lấn đất. Tàn nhẩn hơn hết lúc đó, QLVNCH đang trong tư t |