banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Câu chuyện thể thao:
Tìm hiểu giải vô địch bơi lội thế giới (FINA World Championship)



Tiền Đạo (SGT)

Dã Cầu (Baseball): Theo nguồn tin của thông tấn xã Reuters chi nhánh New York thì vào ngày 15.4 vừa qua, cầu đoàn Yankees thuộc Giải Dã Cầu Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ (MLB: Major League Baseball) đã tuyên bố, nghi thức ném bóng khai mạc trận chiến diễn ra ngày 16.4 giữa đội NewYork Yankees và cường địch Boston Red Sox đã được thực hiện tại trạm vũ trụ không gian quốc tế!.
Người ném quả bóng khai mạc này là phi hành gia Garrett Reisman, 39 tuổi vốn là một cổ động viên ái mộ đội bóng Yankees từ trước. Những hình ảnh của Garrett Reisman khi ném bóng trong vai trò của tuyển thủ Pitcher sẽ được truyền qua 1 màn hình to lớn được thiết trí tại cầu trường sân nhà của đội bóng Yankees để khán giả thưởng thức tường tận.
Được biết, phi hành gia Reisman đã mang theo vào trạm vũ trụ không gian quốc tế một nắm đất để phủ lên vị trí quy định cho tuyển thủ Pitcher đứng ném cùng với mũ và cờ biểu tượng cho đội bóng Yankees. Sự kiện ném bóng khai mạc trước mỗi trận đấu của môn dã cầu đã trở thành một nghi thức, và đây là lần đầu tiên trong lịch sử Dã Cầu Hoa Kỳ khi được tiến hành trên 1 trạm vũ trụ không gian quốc tế.
Thế Vận Hội: Trong khí thế bùng nổ mãnh liệt của phong trào tẩy chay những cuộc rước đuốc chào mừng Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 đang dâng cao khắp thế giới để phản đối nhà cầm quyền Trung Cộng đàn áp người Tây Tạng, vào ngày 15.5 Ủy Ban Thế Vận Hội Và Thể Thao Pháp Quốc (CNOSF: Le Commité National Olympique et Sportif Francais) đã tuyên bố là sẽ xem xét lại đề án của đoàn tuyển thủ Pháp Quốc về việc những tuyển thủ này yêu cầu được đeo 1 huy hiệu hình tròn khi diễn hành trong buổi lễ khai mạc nhằm biểu hiện sự quan ngại sâu xa đối với vấn đề nhân quyền tại Trung Quốc như là một thông điệp gửi đến chính phủ Trung Cộng.
Những huy hiệu này đã được các tuyển thủ Pháp đeo trên áo trong cuộc rước đuốc ngày 7.4 vừa qua tại thủ đô Paris, trên đó có vẽ hình 5 vòng tròn ngũ sắc tượng trưng cho Thế Vận Hội kèm theo hàng chữ: "Cho một thế giới tốt đẹp hơn".
Cũng trong cuộc họp báo cùng ngày, ông Hennri Serandour, Chủ Tịch CNOSF đã cho biết là tuy không chấp nhận việc các tuyển thủ Pháp qua sử dụng huy hiệu này nhưng CNOSF sẽ tiếp tục xem xét việc sử dụng huy hiệu tùy theo hình thức của các quốc gia khác khi tham dự Thế Vận Hội. Ngoài ra, Ủy Viên Chuyên Môn của CNOSF cũng đang có những thảo luận với Ủy Ban Thế Vận Hội Quốc Tế (IOC: International Olympic Commi- ttee) về các chi tiết liên quan đến vấn đề này.
Mặt khác, vào ngày 18.4 vị đại diện ngôi chùa Thiện Quang Tự thuộc tỉnh Nagano của Nhật Bản đã chính thức lên tiếng quyết định từ chối việc chọn ngôi cổ tự này làm địa điểm xuất phát lộ trình rước đuốc Thế Vận Hội trong ngày 26.4 sắp tới vốn được sắp xếp theo chương trình dự định từ trước với lý do quan ngại về sự bảo đảm an toàn và nhất là vì sự phản đối của những cư dân quanh khu vực chùa về chính sách đàn áp các nhà sư Tây Tạng của nhà cầm quyền Trung Cộng.
Được biết, Thiện Quang Tự là ngôi chùa rất nổi tiếng tại tỉnh Nagano được xây cất từ năm thứ 3 niên hiệu Hoàng Cực, tức năm 644 dương lịch.
Quần Vợt: Khởi sự từ đầu năm 2008 qua những bước thành công thuận lợi như liên tiếp nhận cúp vô địch 3 lần trong năm qua giải Australia Open và Doha Open cùng với trận chung kết đầy thử thách trước đối thủ trẻ tuổi Dominika Cibulkova vào ngày 13.4 của giải Amelia Island Open tổ chức tại Hoa Kỳ và cuối cùng cũng giành được chiến thắng, tay vợt nữ số 1 hiện nay của Cộng Hòa Nga là Maria Sharapova lại tiếp tục bước vào giải đấu Family Circle Cup diễn ra tại thành phố Charleston, tiểu bang South Carolina, Hoa Kỳ với tư cách là tuyển thủ hạt giống hạng Nhì.
Sau khi dễ dàng vượt qua 2 trận thắng vòng đầu, Sharapova đã bước vào trận chiến thứ 3 ngày 17.4 trước địch thủ người Ukraine là Tatiana Perebiynis và cũng tạo được chiến thắng 2 set qua tỷ số 7-5, 6-2 góp mặt trong danh sách 8 cao thủ ở vòng tứ kết.
Tuy nhiên, nơi vòng kết tứ kết Sharapova sẽ gặp phải cường địch của nước chủ nhà là Serena Williams vừa chế ngự giải Sony Ericsson Open ngay trước đó, cũng là giải đấu mà Sharapova đã rút tên thi đấu vì lý do chấn thương. Ngược lại, Serana Williams tuy đã thắng ngược địch thủ Katarina Srebotnik để tiến vào vòng tứ kết nhưng ở giữa trận đấu cô cũng bị bong gân nơi cổ chân nên cuộc đụng độ giữa Serena và Sharapova chắc chắn sẽ là 1 trận chiến chứa đầy những diễn tiến bất ngờ khó lường.
Trong khi đó, đương kim vô địch Family Circle Cup kiêm hạt giống số 1 của giải này là Jelena Jankovic của Serbia cùng Dementieva, Vera Zvonareva của Cộng Hòa Nga và Agnes Szavay của Hungary cũng đều có mặt tại chiến trường "Bát Nữ Anh Hào" của vòng tứ kết hấp dẫn.
Và ngày 18.4.2008 đã trở thành một ngày kỷ niệm sinh nhật không như ý của Sharapova với lứa tuổi 21, khi bại chiến trước hạt giống số 5 là Serena mặc dù cô đã quân bình tỷ số ở set thứ 2. Đây là 1 trận chiến tứ kết được chú mục nhiều nhất do mức độ tương quan "đồng tài ngang sức" giữa 2 tuyển thủ nổi danh trong làng vợt chuyên nghiệp quốc tế hiện nay. Tuy bị thương nơi chân và không thuận lợi trong những pha di chuyển đón bóng tấn công của Sharapova, nhưng tay vợt kỳ cựu của nước chủ nhà vẫn tỏ ra dẻo dai phong độ nên đoạt được set tiên thắng với kết quả 7-5. Và tưởng đâu Serena sẽ bị thua ngược khi thúc thủ ở set thứ 2 do Sharapova triệt để khai thác các đường bóng nhắm vào 2 góc sân hầu làm tiêu hao thể lực và gây khó khăn qua sự chấn thương của đối phương, nhưng sau kết quả 6-4 đưa đến tình trạng căng thẳng giải quyết chiến trường ở set thứ 3, Serena đã lấy lại bình tĩnh với tài nghệ điều chỉnh rất chính xác tọa độ của những phương vị đón bóng hoặc đánh trả sang phần sân địch thủ nên hầu như đã không phạm lỗi sai lầm đánh bóng hỏng và cuối cùng giành được chiến thắng dễ dàng 6-1 sau gần 2 tiếng 30 phút so vợt.
Kế đến, cặp đấu hào hứng không kém khác giữa Jankovic cùng Zvonareva cũng gặp phải 1 đợt sóng khá bất ngờ khi Zvonareva đã loại tay vợt hạt giống số 1 ra khỏi vòng chiến qua tỷ số 2-1 gồm 6-2, 3-6, 6-2. Như vậy, tại vòng bán kết Zvonareva sẽ đụng độ Dementieva tức tuyển thủ đồng hương, trong khi đối thủ của Serena lại là một tay 18 tuổi người Pháp không được xếp vào hàng cao thủ hạt giống tên Alizé Cornet, vốn cũng từng tiến vào bán kết ở giải Amelia Island Open vào tuần trước đó.
Túc Cầu: Sau trận chung kết so chân cùng đội Getafe vào tối ngày 16.4 vừa qua, câu lạc bộ Valencia đã lập thành tích 7 lần vô địch cúp Hoàng Đế Tây Ban Nha trong lịch sử sáng lập cầu đoàn chuyên nghiệp lừng danh xứ đấu bò này.
Vốn là 1 cao thủ thượng thặng trong làng bóng chuyên nghiệp Tây Ban Nha, Valencia từng nổi danh thế giới với chiến thuật phối hợp 2 mặt công thủ liên hoàn rất chặt chẽ nên ngay từ những giây phút đầu tiên những cầu thủ áo trắng quần đen sau khi dò chân đối thủ đã lập tức bung ra những tuyến quân xâm nhập vùng đất địch nhằm khai thác kẽ hở 2 cạnh sườn khung thành tạo thế áp đảo liên tục. Chính vì vậy mà Valencia đã mở tỷ số rất sớm ở phút thứ 4 do công của tiền vệ Juan Manuel Mata và vào phút 12 do Alexis tung lưới đối phương coi như đã chạm 1 tay vào chiếc cúp Hoàng Đế qua 2 bàn thắng thần tốc này.
Sau đó là cục diện giằng co giữa đôi bên xuyên qua nỗ lực tập trung phòng thủ và tổ chức phản công khá nhanh nhẹn của đội Getafe. Cuối cùng, tuy đã gỡ được 1 bàn ở phút 45 của hiệp đầu bằng quả phạt penalty do Granero ghi điểm nhưng Getafe cũng không tránh khỏi thảm bại khi tiền đạo trụ cột của Valencia là "chân sát thủ" Fernando Morientes nhận được đường chuyền ăn ý của đồng đội rồi đánh đầu tung lưới thủ môn Ustari ấn định tỷ số chung cuộc 3-1 vào phút 38 của hiệp 2.
Đây là một chiến thắng phần nào lấy lại uy tín cho đội Valencia vì qua 3 trận đấu gần đây của giải chuyên nghiệp quốc nội họ đều thất bại liên tục và bị tụt xuống hạng 15 sau 32 trận chiến với thành tích yếu kém trong mùa bóng năm nay là 11 thắng 6 hòa 15 bại, đứng trước nguy cơ bị giáng đẳng cấp khi chỉ đứng trên 3 đội cuối bảng.
Trong khi đó, các trận chiến lượt đi của vòng bán kết Cúp Italia cũng được diễn ra vào ngày 16.4 với 2 cặp đấu AS Roma - Cantania và Inter Milan - Lazio.
Khá tương tự như tình trạng của Valencia, câu lạc bộ Cantania hiện nay tuy cũng đứng thứ hạng 15 tức trên 5 đội cuối bảng sau 33 trận chiến nhưng chỉ hơn đội đứng cuối cùng là Livorono chỉ vỏn vẹn có 3 điểm. Điều này đồng nghĩa với việc Cantania cũng không kém phần nguy hiểm trước khả năng tụt xuống đẳng cấp Serie B.
Tuy vậy, trên chiến trường của Italia Cup, Cantania lại tỏ ra là cao thủ lợi hại khi bất ngờ xóa sổ AC Milan ở vòng 2, hạ gục Udinese tại vòng tứ kết. Và qua trận đụng độ lượt đi cùng AS Roma trên sân địch, Cantania càng tỏ ra kiên cường trước sức ép mãnh liệt của một đối thủ sở hữu chiến lực trên chân mình khá xa khi tận dụng lối chơi phòng thủ triệt để hầu dò tìm cơ hội đột kích ở những pha châm bóng bổng. Do đó, trải qua hiết hiệp đầu, AS Roma dù được tăng cường danh thủ Totti đã hồi phục sau cơn chấn thương nhưng vẫn không sao phá được thế trận phòng ngự vững chắc của Catania được thể hiện qua tài nghệ xuất thần của thủ môn Polito vốn là một tuyển thủ mà hầu như không được làng cầu quốc nội biết đến. Và chính Polito đã trở thành linh hồn của Cantania khi khóa chặt mọi khoảng trống khung thành trước những cái lắc đầu ngao ngán đến độ nản chí của những chân sút ác liệt của AS Roma như Totti, Perrotta, Pizarro, Mancini v.v..
Trong muôn vàn cơ hội áp đảo với thế chủ động trên sân AS Roma cũng tìm được 1 bàn thắng duy nhất nhờ cú trường cước sút từ cự ly cách khung thành khoảng 25 m ngay vào đầu hiệp 2. Xét về khí thế và tinh thần thi đấu của Cantania thì qua chiến thắng 1-0 trên sân nhà đối với AS Roma vẫn chưa phải là 1 tỷ số an định mà ngược lại họ sẽ phải chật vật nơi trận lượt về trên sân địch vì lúc đó Cantania sẽ dùng toàn lực chọi thẳng với tư thế không còn gì để mất.
Trong khi đó, trận chiến giữa Inter Milan và Lazio lại biểu hiện những nét đặc tính cố hữu nơi lối chơi kiên thủ truyền thống của túc cầu Ý Đại Lợi qua 90 phút vờn bóng kèn cựa bất phân thắng bại khá nhàm chán. Từ kết quả 0-0 này, Inter Milan cũng sẽ gặp nhiều trở ngại nơi trận đấu lượt về trên sân của Lazio.

* Câu Chuyện Thể Thao kỳ này, chúng tôi xin được cùng quý độc giả tìm hiểu chi tiết về Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới còn gọi là "FINA World Championship" hay "World Aquatics Championships".
Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới là một đại hội tranh tài về môn bơi lội với quy mô rộng lớn mang tích cách quốc tế do Liên Đoàn Bơi Lội Quốc Tế (FINA: Fédération Intrenational de Natation) tổ chức với danh xưng chính thức là "Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới Liên Đoàn Quốc Tế" và thường được gọi một cách vắn tắt là "Giải Bơi Lội Thế Giới".
Trong thế giới vẫy vùng tranh đua tốc độ và kỹ năng trên mặt nước của làng bơi quốc tế, Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới chính là một giải đấu quan trọng nhất nối tiếp theo vũ đài của Thế Vận Hội. Tuy trước kia Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới được tổ chức theo hình thức bất định kỳ, tức trong khoảng từ 2 năm đến 5 năm 1 lần, nhưng gần đây do nhu cầu đáp ứng mức độ tranh tài của những vận động viên bơi lội càng tăng thêm nhiều nên giải đấu này đã dần đi vào quy củ của hình thức 2 năm 1 lần và được tổ chức vào thời điểm của năm trước kỳ Thế Vận Hội và vào năm ngay sau đó.
Đây cũng là 1 đại hội quy tụ được tất cả những vận động viên xuất sắc trong làng bơi quốc tế với đặc điểm là thường có rất nhiều kỷ lục thế giới bị phá qua các lần tranh tài trong quá khứ nếu so với thành tích tại Thế Vận Hội hoặc các giải bơi lội khác. Hơn nữa, vì được tổ chức vào năm trước kỳ Thế Vận Hội nên Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới đã trở thành một chiến trường thử thách rèn luyện và kích thích rất hữu ích cho các tuyển thủ bơi lội trong ý nghĩa nâng cao đẳng cấp để chuẩn bị cho những cuộc tranh tài tại Olympic. Đặc biệt hơn qua giải đấu này, các tuyển thủ còn được tranh tài ở cự ly 50m ở tất cả cách hình thức bơi lội khác nhau, trong khi tại Thế Vận Hội chỉ chấp nhận duy nhất bộ môn bơi tự do ở cự ly này.
Ngoài ra, Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới còn có thêm 1 giải đấu dành cho các bộ môn tranh tài tại các hồ bơi có chiều dài 25m gọi là FINA World Championships - Short Course cũng được tổ chức 2 năm 1 lần sau khi chính thức khởi tranh lần đầu tiên vào năm 1993 tại thành phố Palma de Mallorca của Tây Ban Nha.
Với sự tham dự của 686 tuyển thủ đến từ 47 quốc gia, Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới được tổ chức lần đầu tiên tại thủ đô Belgrade của cựu Nam Tư vào năm 1973. Nhưng đến thời điểm của giải 2003 tổ chức tại Barcelona đã có 157 quốc gia tham chiến với số lượng vận động viên bơi lội lên đến 2015 người đã cho thấy được rằng tuy có dòng lịch sử phát triển rất ngắn ngủi nếu so với Thế Vận Hội, nhưng Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới đã nhanh chóng phát triển và thu hút nhiều sự quan tâm của giới yêu chuộng không kém qua bộ mộn thể thao vượt tốc độ trên mặt nước này.
Tại Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới lần thứ Nhất nói trên, các tuyển thủ Hoa Kỳ và cựu Đông Đức đã chứng tỏ một thực lực hùng hậu mang tính cách áp đảo thế giới với những thành tích vượt trội các quốc gia khác nên từ đó Hoa Kỳ cùng cựu Đông Đức đã trở thành 2 cường quốc bơi lội. Thế nhưng, từ khoảng giải đấu lần thứ 3 trở đi thế lực của những tuyển thủ cựu Liên Xô dần lớn mạnh và nổi bật hẳn trên các bục đăng quang nhận huy chương nên quốc gia này cũng được sánh vai cùng Hoa Kỳ và cựu Đông Đức và liệt vào danh sách "Tam Cường" khét tiếng thiên hạ. Tuy nhiên, bước vào đầu thập niên 1990 thì một thế lực mới xuất hiện đến từ vùng châu lục riêng biệt rộng lớn mênh mông là các tuyển thủ Úc Đại Lợi đã đẩy lùi thành tích của Hoa Kỳ, Đức Quốc cùng Liên Xô đi vào quá khứ với những kỷ lục mới gây chấn động làng bơi quốc tế, nhất là ở giải năm 1998 được tổ chức tại Perth tức hồ bơi trên sân nhà đội tuyển Úc Đại Lợi đã đè bẹp Hoa Kỳ cùng Cộng Hòa Nga và đứng Nhì về thành tích đoạt tổng số huy chương. Cũng từ sau giải 1998 này thì Hoa Kỳ cùng Úc Đại Lợi đã thay phiên nhau chế ngự thế giới trong cục diện luôn có 2 đối thủ cạnh trạnh gay gắt là Đức Quốc cùng Cộng Hòa Nga bám theo sát vị trị hạng 3 và hạng 4. Trong giai đoạn từ hậu bán thập niên 1990 đến đầu thập niên 2000, ngoài những tuyển thủ thuộc khu vực Âu Mỹ, còn có Nhật Bản, Trung Quốc và 1 số quốc gia châu Á khác cũng bắt đầu tạo được những tiếng vang tương đối nhưng cho đến giải 2005 tổ chức tại Montréal, Canada thì thế lực của châu Phi mới chính thức gây chú mục nơi giới hâm mộ qua tài năng của những tuyển thủ Cộng Hòa Nam Phi và Zimbabwe.
Riêng trường hợp Nhật Bản, thì ngay từ giải đầu tiên tại Belgrade và giải lần thứ 2 tại Cali, Colombia tuy nam tuyển thủ Taguchi Nobutaka đã liên tiếp đoạt được huy chương đồng ở bộ môn bơi sải cự ly 100 m, nhưng sau đó đã không có vận động viên nào tỏ ra nổi bật tại vũ đài quốc tế này. Mãi từ năm 1991 tức giải lần thứ 6 trở về sau Nhật Bản mới dần phục hồi phong độ qua thành tích cao nhất tại Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới vào năm 2005 tại Montreal, Canada với sự tỏa sáng của nam tuyển thủ bơi sải Kitajima Kosuke và nữ tuyển thủ bơi tự do Shibata Ai đoạt được 9 huy chương, giúp Nhật Bản lần đầu tiên đứng hạng Ba sau thế lực của các quốc gia Âu Mỹ tại giải đấu này.
Tính đến nay, Giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới đã được diễn ra qua 12 lần với quá trình tổ chức tại các địa điểm và thời gian như sau:
Lần thứ 1: từ ngày 31.8 đến 9. 9 năm 1973 tại Belgrade, cựu Nam Tư
Lần thứ 2: từ ngày 19.7đến 27. 7 năm 1975 tại Cali, Colombia.
Lần thứ 3: từ ngày 18.8 đến 23. 8 năm 1978 tại Berlin, cựu Tây Đức.
Lần thứ 4: từ ngày 29.7 đến 6. 8 năm 1982 tại Guayaquii, Ecuador.
Lần thứ 5: từ ngày 13.8 đến 23. 68 năm 1986 tại Madird, Tây Ban Nha
Lần thứ 6: từ ngày 3.1 đến 13. 1 năm 1991 tại Perth, Úc Đại Lợi.
Lần thứ 7: từ ngày 1.9 đến 11. 9 năm 1994 tại Rome, Ý Đại Lợi.
Lần thứ 8: từ ngày 8.1 đến 17. 1 năm 1998 tại Perth, Úc Đại Lợi.
Lần thứ 9: từ ngày 16.7 đến 29. 7 năm 2001 tại Fukuoka, Nhật Bản.
Lần thứ 10: từ ngày 12.7 đến 27. 7 năm 2003 tại Barcelona, Tây Ban Nha.
Lần thứ 11: từ ngày 16.7 đến 31. 7 năm 2005 tại Montreal, Canada.
Lần thứ 12: từ ngày 18.3 đến 1. 4 năm 2007 tại Melbourne, Úc Đại Lợi. w

 

 

Cá mẹ đi tìm giấc mơ

Mỹ Lệ Thi

Vở kịch của nhà viết kịch và đạo diễn Đỗ Khoa
Người đã đạo diễn các phim THE FINISHED PEOPLE và FOOTY LEGENDS
Thời gian:
3 giờ chiều và 7 giờ 30 tối
24 và 25 tháng Năm, 2008
Điạ điểm: Parramatta Riverside Theatres
Cá Mẹ đã được thực hiện với sự tài trợ của Hội Đồng Nghệ Thuật Úc và Chương Trình "Sinh Động Hoá Thành Phố" của Hội Đồng Thành Phố Parramatta, và là sản phẩm của sự hợp tác giữa Imaginefly Entertainment và Powerhouse Youth Theatre.

Nội Dung
1. Nhóm cộng tác
2. Về kịch bản Cá Mẹ
3. Bản tóm tắt cốt truyện (rất ngắn)
4. Hoàn cảnh thực hiện
5. Bản lược truyện (dài hơn)
6. Bối cảnh của những cuộc vượt biển
7. Các đề tài
8. Tiểu sử

Nhóm Cộng Tác
Kịch tác gia và Đạo diễn: Đỗ Khoa
Vẽ kiểu sân khấu và trang phục: Kate Shanahan
Âm nhạc: Alan John
Cố vấn kịch bản: Claudia Chidiac
Ánh sáng và giám đốc sản phẩm: Chris Clough
Cố vấn nghệ thuật: My Lệ Thi
Trợ lý đạo diễn: Jason McGoldrick
Biên tập kịch bản: Kate Mulvany
Giám đốc đoàn kịch PYT: Eleanor Winkler
Điều hợp viên của
HĐTP Parramatta: Andrew Overton
Khai triển kịch bản: Jason McGoldrick, Guido Gonzalez, Joe Le
Thiết kế sân khấu: Jason McGoldrick với Michael McGoldrick, Shane MacDonald
Thông tin liên lạc: Catherine Lavelle, CLPR

Về Kịch Bản Cá Mẹ
Được viết và đạo diễn bởi Khoa Đỗ (THE FINISHED PEOPLE và FOOTY LEGENDS, YOUNG AUSTRALIAN OF THE YEAR 2005), và được thực hiện với sự tham khảo ý kiến cùng cộng đồng người Việt Nam tỵ nạn ở Úc, Cá Mẹ là sản phẩm kịch nghệ đầu tiên kể lại kinh nghiệm của những người Việt Nam vượt biển tỵ nạn.
Từ năm 1975 đến 1991, UNHCR ước lượng khoảng 1 triệu rưỡi đến 2 triệu người Việt Nam đã tỵ nạn bằng ghe. Trong số đó, 850 ngàn người sống sót. Số còn lại đã chết vì đắm tàu, hải tặc, và đói khát. Trong số người sống sót, có nhiều người đang định cư tại Úc. Đây là một câu chuyện cả thế giới đều biết về lòng can đảm, sự tranh đấu để sinh tồn và hy vọng giữa muôn vàn tai ương bất trắc.

Bản Tóm Lượt Cốt Truyện (Rất Ngắn)
Năm 1980, hai chị em ở tuổi mới lớn đã dấn thân vào một cuộc hành trình không thể nào quên trên một chiếc ghe đánh cá lúc họ trốn thoát khỏi Việt Nam. Cùng ra đi với ông chú và một người đánh cá trẻ tuổi, cả bốn người phải vượt qua những thử thách khủng khiếp trong thời gian họ phải làm mọi cách để tìm đến bến bờ tự do.
Khoa Đỗ, người đạo diễn đoạt giải, mang đến cho khán giả một câu chuyện cảm động sâu sắc qua những giây phút khôi hài, thương tâm và hy vọng. Trình diễn bằng tiếng Anh, CÁ MẸ giới thiệu một nhóm diễn viên mới đầy sức lôi cuốn, xuất thân từ cộng đồng người Việt Nam tỵ nạn, chưa từng giống như bất cứ những gì khán giả đã xem trên sân khấu Úc từ trước đến nay.

Hoàn Cảnh Thực Hiện
Cá Mẹ là một kịch phẩm xuất hiện đúng lúc. Có một mối liên quan mạnh mẽ giữa kinh nghiệm Việt Nam và kinh nghiệm về các biến cố đương thời trên thế giới, giữa những người Việt Nam tỵ nạn đã trốn thoát khỏi quê hương năm 1980 và những gì đã xảy ra cho những người tỵ nạn trốn thoát khỏi Iraq, Afghanistan, Sudan và những nước khác.
Nhà hát Parramatta River nằm ở trung tâm miền Tây Sydney, tụ điểm của các động đồng di dân và tỵ nạn từ mọi gốc rễ văn hoá khác nhau. Kịch phẩm này được thực hiện nơi đây tạo nên độ vang, tính biểu tượng và ý nghĩa to lớn hơn cho câu chuyện.

Bản Lượt Truyện (Dài Hơn)
Năm 1980, hai chị em ở tuổi mới lớn đã bước xuống một chiếc ghe đánh cá rất nhỏ, gọi là "Cá Mẹ", cùng với ông chú và một người đánh cá trẻ tuổi ở Việt Nam. Họ muốn trốn thoát khỏi quê hương để tìm gặp lại người cha ở Mỹ. Đó là cuộc hành trình không thể nào quên, và họ đã làm mọi cách để tìm đến bến bờ tự do.
Từng ngày trôi qua, nước uống cạn dần. Mỗi người đều mơ về một tương lai tươi sáng hơn, và họ cầu nguyện với cả Chúa và Phật trong cùng một luc. Máy bị hỏng, và chiếc ghe trôi dạt -- mọi người phải cùng tát nước biển ra khỏi khoang ghe. Trong những ngày cuối cùng, họ chỉ còn thấy đại dương xanh ngắt và một chiếc dép trôi trên mặt biển. Kim thầm nghĩ một ngày nào đó cô sẽ lấy chống và có một gia đình đầy yêu thương hạnh phúc.. nhưng giờ đây, tất cả những gì Hạnh có thể nghĩ đến là những người bạn, người mẹ, nụ hôn đầu tiên... niềm hy vọng duy nhất của họ về tương lai nằm trong đám mây trôi dạt cuối chân trời. Liệu họ có đạt được không?
Cá Mẹ là một câu chuyện cảm động sâu sắc, đầy những giây phút khôi hài, thương tâm và hy vọng giữa niềm tuyệt vọng và những thử thách phi thường.

Bối Cảnh Của Những Cuộc Vượt Biên
Suốt hơn 40 thế kỷ của lịch sử Việt Nam, chưa từng có điều gì giống như thế. Dù cho tình thế khó khăn đến đâu, người Việt Nam vẫn luôn luôn ở lại với quê hương. Đối với người Việt Nam, tiếng gọi của quê hương vô cùng mãnh liệt, và họ chưa từng nổi danh về việc du hành, đẵc biệt là du hành qua biển cả. Theo truyền thuyết thần thoại, người Việt Nam tin rằng họ là con cháu của cha rồng và mẹ tiên -- một người ở trên núi, một người ở dưới biển. Suốt 40 năm liền, Việt Nam không ngừng có chiến tranh, nhưng không có một cuộc chạy nạn rời bỏ đất nước. Tuy nhiên, năm 1975, sau khi Sàigòn thất thủ, đời sống trở nên khốn cùng cho rất nhiều người. Bất chấp những hiểm nguy chết người trên biển cả, cuộc ra đi đã bắt đầu. Bất chấp mọi sợ hãi -- họ đã ra đi bằng những chiếc thuyền đánh cá mong manh, ọp ẹp. Và gần 2 triệu người đã ra đi.
Theo con số thực tế của UNHCR, trong hai người ra đi chỉ còn một người sống sót. Những hiểm nguy thì khôn xiết -- bão tố, hải tặc, thiếu thốn thức ăn và nước uống, máy hỏng, và có khi đã đến bờ thì lại bị xua đuổi ngược ra biển. Thử nêu một ví dụ về những hiểm nguy, theo một cuộc điều tra tại hai trại tỵ nạn ở Thái Lan vào năm 1981, thì 77 phần trăm thuyền nhân sống sót đã bị hải tặc tấn công -- trong đó có 590 phụ nữ bị hiếp dâm và 355 người khác bị bắn chết, bị đâm chết, và chết đuối vì bị ném xuống biển. Trong thời gian đó, Thái Lan và Mã Lai đưa ra chính sách "xua đuổi", và họ đã đẩy hoặc kéo các thuyền tỵ nạn ngược ra biển. Một chính sách "bắn chết tại chỗ" được thi hành đối với bất cứ ai cưỡng lại.
Tuy nhiên, người Việt Nam vẫn tiếp tục ra đi. Và họ được cả thế giới biết đến như những thuyền nhân. Hôm nay, có những "thuyền nhân Việt Nam" trong mọi thành phần xã hội ở Úc, và trong mọi lãnh vực hoạt động. Kể từ chiếc thuyền Việt Nam đầu tiên, chiếc Kiên Giang, đến Darwin vào tháng Tư 1976, câu chuyện của họ đã đan quyện vào dòng lịch sử của xã hội Úc. Câu chuyện của các thuyền nhân là câu chuyện cần được kể ra.

Các Đề Tài
Đây là một câu chuyện bao gồm các đề tài phổ quát như tình yêu, sự mất mát, tự do và chiến đấu. Một câu chuyện của sự rời bỏ quê hương, của những con người mà cuộc sống bị đảo lộn vì chiến tranh và mất mát. Trên hết, câu chuyện nhắm vào câu hỏi -- điều gì đã khiến con người vất bỏ tất cả và chạy trốn khỏi quê hương của họ? Cuối cùng họ như thế nào, và họ đã thay đổi ra sao qua kinh nghiệm đó?

Tiểu Sử
POWERHOUSE YOUTH THEATRE
Powerhouse Youth Theatre (PYT) là đoàn kịch trẻ hàng đầu ở miền Tây Nam và miền Tây Sydney. Cộng tác với các diễn viên trẻ trong vùng, PYT sáng tạo những cuộc trình diễn mới mẻ và thực hiện những dự án nghệ thuật qua tiến trình hợp tác và tham dự. Qua nghệ thuật, PYT đối diện với những vấn đề xã hội thiết thực của cộng đồng chúng ta.
Chương trình hoạt động của chúng tôi đón nhận những khuôn mặt trẻ sống ở miền Tây Sydney, không phân biệt nguồn gốc văn hoá, xã hội và giai tầng kinh tế. Các dự án của chúng tôi tạo điều kiện cho giới trẻ làm việc với các nghệ sĩ chuyên nghiệp để sản xuất những kịch phẩm gắn bó một cách sáng tạo với cộng đồng chung, qua những câu chuyện và kinh nghiệm độc đáo của dân cư trong vùng này.

Đỗ Khoa (Người Viết Kịch Và Đạo Diễn)
Đỗ Khoa là một nhà văn, đạo diễn phim và thầy giáo. Tháng Giêng 2005, Khoa được trao danh hiệu Young Australian of the Year, và là nhà làm phim đầu tiên được vinh dự nhận danh hiệu này.
Khoa sinh ra ở Việt Nam, nhưng cùng cha mẹ và anh trai là Anh Đỗ rời quê hương trên một chiếc thuyền đánh cá nhỏ vào năm 1980, lúc anh mới hai tuổi. Họ đến Úc và định cư ở miền Tây Sydney, nơi Khoa lớn lên và mang một niềm đam mê trong việc kể chuyện và làm phim.
Năm 2006, cuốn phim gần đây nhất của Khoa, FOOTY LEGENDS, đã được Icon Films phát hành. Khoa là đạo diễn và đồng-tác giả của FOOTY LEGENDS, và đã được giới phê bình khen ngợi, trong đó có những lời đánh giá cao, chẳng hạn "một câu chuyện về sinh hoạt thể thao trong gia đình, cuốn phim đầy tinh thần tích cực, được thực hiện một cách đẹp đẽ và hết sức thú vị" (FILMINK Magazine), "cuốn phim gây cảm giác hưng phấn nhất trong năm" (yourMovies) và "Footy Legends toàn thắng!" (IF Magazine).
Năm 2003, Khoa đã làm cuốn phim đầu tay, THE FINISHED PEOPLE -- một câu chuyện can đảm và hiện thực về đời sống vất vưởng của trẻ bụi đời. Cuốn phim không có một nguồn tài trợ nào, nhưng Khoa đã đạo diễn, sản xuất và cùng viết cốt truyện, trong khi làm việc với những thanh thiếu niên có cuộc sống hàng ngày đầy bất trắc.
THE FINISHED PEOPLE đã được chiếu trong cuộc tranh tài điện ảnh tại Montreal World Film Festival và được phát hành bởi Dendy Cinemas vào tháng Mười 2003. Nó được chiếu suốt 9 tuần ở Sydney, sau đó là Melbourne, Brisbane và Canberra, thu hút khán giả mua hết vé, được những bài điểm phim vô cùng khen ngợi và gây xúc động cho khán giả. Nhà phê bình David Stratton của THE MOVIE SHOW đã cho cuốn phim 4.5 sao, và nói về THE FINISHED PEOPLE rằng "nếu bạn yêu thích điện ảnh, hãy đặt cuốn phim này lên đầu danh sách của bạn." Khoa đã được đề cử hai giải AFI (trong đó có giải cho Đạo Diễn Xuất Sắc Nhất), được đề cử ba giải Film Critics Circle của Úc (trong đó có giải cho Phim Hay Nhất và Đạo Diễn Xuất Sắc Nhất), và được đề cử giải AWGIE. Ở tuổi 25, Khoa là đạo diễn trẻ nhất trong lịch sử nước Úc được đề cử giải AFI cho Đạo Diễn Xuất Sắc Nhất.
Năm 2001, Khoa được đề cử giải AFI về Kịch Bản Phim Hay Nhất cho cuốn phim ngắn 30 phút DELIVERY DAY do anh viết. Đó là cuốn phim về một bé gái 11 tuổi có người mẹ làm việc trong hãng may. Kịch bản phim DELIVERY DAY của Khoa đã đoạt giải nhất tại St Kilda International Short Film Festival ở Melbourne. DELIVERY DAY sau đó được chiếu ở nhiều liên hoan phim quốc tế và đoạt nhiều giải, trong đó có giải Phim Ngắn Hay Nhất tại Locarno International Film Festival, giải Phim Úc Hay Nhất tại Flickerfest International Short Film Festival, một bằng Khích Lệ Đặc Biệt tại Berlin International Film Festival và Giải Nhất tại Palm Springs International Film Festival.
Trước khi làm việc trong điện ảnh, Khoa đã bắt đầu sự nghiệp như một diễn viên và cộng tác dàn dựng các cuộc trình diễn với Urban Theatre Projects, một trong những đoàn kịch đương đại hàng đầu ở Sydney, và anh là diễn viên trong các vở RUNNING IN CIRCLES (1998), SUBTOPIA (1999), INDIVIDUALS ONLY (1999), TABERNACLE (1999), và MANUFACTURING DISSENT (2000). Năm 2001, Khoa làm cố vấn kịch bản cho vở ASYLUM của UTP, một vở kịch về những trung tâm tạm giam và những người tỵ nạn, đã được chiếu trên chương trình INSIGHT của SBS và được khen ngợi nồng nhiệt. Gần đây, vở hài kịch âm nhạc CABRAMATTA STORY của anh hợp tác với PYT đã lưu diễn ở tiểu bang NSW trong năm 2004 và được đề cử giải Australian Writer's Guild Award.
Trong những năm 1998 và 1999, Khoa làm việc thiện nguyện với Open Family Australia tại Cabramatta, giúp đỡ các thiếu niên khốn khó. Ngày quốc khánh nước Úc năm 2002, anh đã được trao tặng danh hiệu Công Dân Trẻ Xuất Sắc Nhất của Thành Phố Bankstown. Anh được Cộng Đồng Người Việt Tự Do trao giải thưởng Thanh Niên Việt-Úc Xuất Sắc Nhất năm 2001 về các đóng góp trong kịch nghệ và công việc từ thiện cho giới trẻ ở vùng tây-nam Sydney. Năm 2003, Khoa được trao Centenary Medal và IF Independent Spirit Award cho phim THE FINISHED PEOPLE. Năm 2004, anh được đề cử giải ASDA cho Đạo Diễn Xuất Sắc Nhất của một cuốn phim dài. Năm 2005, anh nhận giải thưởng Powerhouse Wizard, một giải thưởng do Powerhouse Wizard trao hàng năm cho một cá nhân đang trở thành người dẫn đầu trong lãnh vực chuyên môn của mình.

Tiểu Sử Các Diễn Viên
Phạm SHEENA (trong vai Hạnh)
Sheena Pham sinh năm 1995 tại Sàigòn, Việt Nam. Lúc được nửa tuổi, Sheena cùng gia đình sang định cư ở Úc. Hiện nay Sheena đang học lớp 8, và đã tham dự vào nhiều vở kịch nói và nhạc kịch ở trường, chẳng hạn như đã thủ vai chính "Noil" trong vở THE GIRL WHO FELL THROUGH A HOLE IN HER JUMPER. Sheena thích múa, kịch, vẽ và biết chơi đàn bass guitar, piano và cello. Cá Mẹ là vở kịch chuyên nghiệp đầu tiên Sheena đóng vai chính.

Nguyễn KATHY (trong vai Kim)
Sinh tại Úc năm 1987, Kathy có cha mẹ là dân tỵ nạn Việt Nam, và Kathy lớn lên ở vùng Tây-Nam Sydney cùng với 2 em gái. Trường trung học là nơi Kathy lần đầu yêu thích kịch nghệ và mỹ thuật, tuy nhiên, vì thiếu tự tin, cô đã chuyển sang học ngành truyền thông báo chí ở đại học. Ở năm thứ nhất đại học, cô bắt đầu làm việc ở một công ty tuyển diễn viên phụ, và bắt đầu yêu thích kỹ nghệ phim. Vừa học ngành truyền thông báo chí, cô vừa học thêm nhiều lớp về diễn xuất tại trường đại học và tại NIDA. Cô đã học xong cử nhân ngành truyền thông báo chí và sẽ ra trường vào tháng Tư 2008. Cô hy vọng được theo đuổi nghề diễn viên và xem Cá Mẹ là cơ hội đầu tiên để cô đóng một vai quan trọng trong vở kịch.

Phan Hiếu (trong vai ông Chú)
Hiếu Phan học ngành Kỹ Sư ở Việt Nam, trước khi cuộc sống của ông hoàn toàn đổ vỡ vì chiến tranh. Ông cùng vợ và em vợ trốn thoát khỏi Việt Nam trên một chiếc thuyền chở người quá trọng tải vào năm 1979, sống sót sau một hải trình nguy hiểm trên biển trước khi đến Úc với vài đồng bạc trong túi. Năm 1980 ông làm lao công cho Sunbeam Corporation, và năm 1982 ông là Commissioning & Maintenance Engineer tại trạm biến điện Earring và Bayswater. Năm 1987 ông trở thành Kỹ Sư Trưởng tại Bệnh Viện Nhi Đồng, và ông giữ chức vụ đó cho đến hôm nay. Hiếu đã tham dự vào việc vẽ kiểu và thiết kế Bệnh Viện Nhi Đồng ở Westmead, và được tặng giải Kỹ Sư Xuất Sắc Nhất Bệnh Viện năm 2002.
Kinh nghiệm đầu tiên về diễn xuất đến với ông khi ông đóng vai chính trong phim DELIVERY DAY (2001), một cuốn phim dài 30 phút do Khoa Đỗ viết. Từ đó, ông đã xuất hiện trong những vai trò phụ trong một số phim truyền hình. Đây là vở kịch đầu tiên ông thủ diễn trên sân khấu.

Thái VICO (trong vai Châu)
Vico Thái sinh tại Việt Nam. Anh cùng gia đình định cư ở Sydney, và anh theo học tại The Australian Theatre for Young People, nơi anh đã được tặng thưởng một học bổng 2 năm. Trong thời gian học ở ATYP, Vico đã xuất hiện trong một số kịch phẩm như CORRAGIO, MACBETH và BEYOND THE GAME. Gần đây, anh đã diễn trong vở kịch FAST CARS AND TRACTOR ENGINES của đoàn Urban Theatre Projects, và cộng tác với Hillsong tại Seymour Centre. Vico cũng không phải là khuôn mặt xa lạ trên màn ảnh Úc, vì anh đã xuất hiện trong nhiều phim ngắn và phim quảng cáo. Vico là một trong những diễn viên trong DANGEROUS, bên cạnh Joel Edgerton, Brooke Stachwell và Khan Chittenden, trong chương trình đề cử giải AFI trên màn ảnh Foxtel. Anh cũng là diễn viên phụ trong YOUNG LIONS, EAST WEST 101 và cuốn phim phóng sự quốc tế IN OUR NAME.
Mỹ Lệ Thi