Để tưởng nhớ tới cậu ruột của tôi, Trung Tướng Dư Quốc Đống
DB Trần Thái Văn

LTS: Đây là bài tưởng niệm về cố Trung Tướng Dư Quốc Đống của Dân biểu Trần Thái Văn đã được đọc trong phiên họp khoáng đại Hạ Viện Tiểu Bang California vào ngày thứ Hai 28/4 vừa qua.
Trung Tướng DƯ QU-C Đ-NG, Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn Dù, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã tạ thế ngày 22 tháng 4 năm 2008 vừa qua, tại Huntington Beach - CA, Hoa Kỳ, hưởng thọ 76 tuổi
*
Tôi vô cùng đau buồn và thương tiếc khi đứng lên kết thúc buổi họp này để tưởng nhớ tới người cậu ruột yêu quý của tôi, ông Dư Quốc Đống, vừa từ trần sau một thời gian dài lâm bệnh tại thành phố Huntington Beach, hưởng thọ 76 tuổi.
Đối với tôi và nhiều người từng phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa dưới quyền của ông, Cậu Đống là một người có nhiều huyền thoại. Ông là vị tướng 3 sao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến Việt Nam. Như bao thanh niên Việt Nam trẻ vào thời điểm chiến tranh đó, ông đã dành trọn tuổi thanh xuân và những năm đẹp nhất của cuộc đời mình đứng lên bảo vệ người dân miền Nam Việt Nam khỏi tai họa Cộng sản. Ông là một người có vóc dáng cao lớn, được hiểu theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Đối với hàng triệu người Việt từng sống trong thời chinh chiến, Cậu Đống là một nhân vật được cả nước biết đến và là một nhà lãnh đạo quân đội lỗi lạc của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông được người Pháp huấn luyện để trở thành lính nhảy dù và đã tốt nghiệp Khóa 5 sĩ quan hiện dịch Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt vào năm 1952. Qua nhiều thành tích quân sự, Cậu Đống đã dần dần thăng tiến đời binh nghiệp trong Sư Đoàn Nhảy Dù thiện chiến gồm toàn những người lính tình nguyện. Đây cũng chính là gia đình và mái ấm thứ nhì của ông. Dấu vết của cuộc chiến vẫn còn hằn trên thân xác của ông.
Trong cuộc đời binh nghiệp, Cậu Đống đã đảm nhận nhiều chức vụ chỉ huy từ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn, chiến đoàn, lữ đoàn và cuối cùng là tư lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù. Ông là một vị tướng và nhà quân sự thật sự xông pha trận mạc. Trong cương vị một nhà chỉ huy quân sự, ông đã làm cho quân thù khiếp sợ, nhưng những người lính dưới quyền kính trọng.
Chức vụ cuối cùng của ông là Tư Lệnh Quân Đoàn III và Quân Khu III bao gồm thủ đô Sàigòn và 11 tỉnh phụ cận. Ông từ chức vào đầu năm 1975 như một hành động phản đối thầm lặng khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chối yêu cầu tăng viện cho mặt trận Tỉnh Phước Long, mà sau đó mặt trận này đã bị Cộng sản Bắc Việt tràn vào. Lịch sử cho thấy việc mất tỉnh Phước Long là khởi đầu cho sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Ông không còn giữ chức vụ chỉ huy nào nữa cho đến khi Sàigòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ông rời khỏi Sàigòn vào ngày 29 tháng 4 khi miền Nam sụp đổ.
Trong 26 năm phục vụ trong quân ngũ, Cậu Đống đã được trao tặng nhiều huy chương và bằng tưởng lục của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Quân đội Hoa Kỳ cũng trao cho ông những huy chương cao quý, trong số đó có huy chương Legion of Merit và Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao bạc (Silver Star). Tôi có tò mò dò hỏi ông được vài điều lý thú. Ông cho biết vị tư lệnh quân lực Hoa Kỳ trong chiến dịch Bão Sa Mạc là tướng Norman Schwarzkopf nổi tiếng với biệt danh "bão táp" đã từng phục vụ dưới quyền Cậu Đống trong vai trò thiếu tá cố vấn quân sự cho tiểu đoàn nhảy dù trong các năm 1965 và 1970. Cậu Đống cũng đã từng quen biết Đô Đốc Jack McCain, là Tổng Tư Lệnh của tất cả lực lượng Hoa Kỳ tại vùng Châu Á -- Thái Bình Dương. Cố Đô Đốc này là thân phụ của Thượng Nghị Sĩ John McCain. Vì mối quan hệ cá nhân này mà tôi, với tư cách là cháu của Tướng Đống, đã quyết định ủng hộ Thượng Nghị Sĩ McCain trong cuộc tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ để tỏ lòng biết ơn ông và thân phụ của ông đã sát cách chiến đấu chống Cộng Sản cùng chúng ta.
Nhưng đối với tôi, Tướng Dư Quốc Đống chỉ đơn giản là cậu Ba của tôi, là anh của mẹ tôi, là người mà trong suốt bao nhiêu năm qua những đứa cháu như tôi coi Cậu như là một người cha thứ hai. Cậu và Dì tôi không có con nên nhận những đứa cháu như là con ruột của mình. Chúng tôi gần gũi thân thiết với ông. Em trai tôi, John (Sinh), một bác sĩ chỉnh nha hiện sống tại Sunnyvale, đã trở thành con nuôi của ông và lấy họ của ông làm họ của mình. Mặc dù dày dạn chinh chiến trận mạc nhưng Cậu tôi lại là một người hay quan tâm tới người khác, đầy lòng độ lượng, và có một trái tim bao dung.
Khi tôi bước chân vào nghiệp chính trị, thoạt đầu Cậu Đống không đồng ý. Ông là loại người thẳng thắn có sao nói vậy, không thích những nhà chính trị nói nhiều và ông cũng chẳng có coi trọng nghề này. Nhưng vì thương và muốn ủng hộ người cháu ruột của mình, cậu và dì đã bỏ thì giờ tham dự nhiều buổi gây quỹ khi tôi vận động tranh cử cho chức vụ nghị viên thành phố và sau này cho chức chức vụ dân biểu tiểu bang. Tôi luôn tự hỏi không biết ông cậu mình nghĩ gì khi phải ngồi đó và kiên nhẫn lắng nghe nhiều bài diễn văn và những lời ca tụng tâng bốc trong một khung cảnh đầy người lạ.
Từ ngày định cư tại Hoa Kỳ, Cậu Đống sống đời lặng lẽ và bình dị, chẳng bao giờ nhìn lại quá khứ và khơi lại cuộc chiến đã qua. Như một chiến sĩ cố gắng hết sức làm tròn bổn phận, ông chấp nhận số phận và kết quả bi thảm của cuộc chiến Việt Nam mà không hề than trách hay đổ thừa trách nhiệm. Nhưng đôi khi tôi nhận ra trong ánh mắt có sự đau buồn chiến bại và sự mất mát của cả một thế hệ, dĩ nhiên trong đó có ông.
Cậu Đống xem Hoa Kỳ như quê hương thứ hai, đã cưu mang gia đình ông, và yêu quý những cơ hội và sự tự do đất nước này đã đem đến. Ông cần mẫn làm việc để nuôi dưỡng trong cuộc sống hàng ngày. Ông đã về hưu sau 13 năm phục vụ cho Hội Bác Ái Công Giáo (Catholic Charities) tại Los Angeles trong cương vị là người cố vấn tìm công ăn việc làm cho người di dân.
Cậu Đống đã ngã bệnh trong vài năm gần đây nhưng ông vẫn sáng suốt và nói chuyện rất nhiều vào lần cuối khi tôi viếng thăm ông vài tuần trước đây tại một nhà dưỡng bệnh trong vùng. Tôi đem cho ông gói bắp rang hiệu Cracker Jack, loại có đường thắng và cereals theo như ông yêu cầu. Cậu tâm sự với tôi, Cậu sẽ không sống khỏi năm nay. Tôi vấn an Cậu, hãy bỏ những ý nghĩ đó đi và cố gắng chữa trị để mau sớm bình phục. Cho nên, được tin Cậu mất không làm tôi bàng hoàng sửng sốt nhưng làm tôi ngạc nhiên cho một chung cuộc đến thật mau lẹ như vậy. Khi tôi đứng tại phòng họp của Hạ Viện Tiểu Bang, tôi nhìn lại một lần nữa, cuộc đời mong manh và phù du, ngay cả đối với một người chiến sĩ không biết sợ hãi là gì như Cậu tôi.
Trong khoảng khắc thương tiếc và suy ngẫm về cậu Đống, tôi chỉ muốn chia sẻ với quý vị, là những bạn hữu và đồng viện của tôi tại Quốc Hội, một câu chuyện về đời tư cũng như công của người Cậu vừa quá cố của tôi, Trung Tướng Dư Quốc Đống. Ông là người đã tham gia ở tuyến đầu và là một nhân vật dự phần trong một cuộc chiến lịch sử và đầy tranh luận, mà sẽ mãi mãi ảnh hưởng đến tất cả chúng ta, người Việt cũng như Mỹ. Chúng ta hãy cầu xin cho ông ra đi trong thanh thản, sớm được hưởng Nhan Thánh Chúa. Kể từ nay, sự đau đớn về thể xác lẫn tinh thần, Cậu tôi không còn phải âm thầm chịu đựng như những ngày tháng, năm qua. Nay tất cả đã qua đi. Xin cám ơn Thượng Đế./.
30 tháng Tư, người lính nghĩ gì?
Bỉnh bút Phạm Lễ, BMD
Người lính mang số quân 700426
KBC.4339. CTF.228
11 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 đài phát thanh Saigòn đã phát thanh lời kêu gọi buông súng của Đại Tướng Dương Văn Minh. Lời tuyên bố này đã làm cho dân chúng cả ba miền Nam, Trung, Bắc bàng hoàng sửng sốt.
Một mầu đen tăm tối đã phủ xuống đất nước Việt Nam.
Khi lệnh đầu hàng phát đi từ Dinh Độc Lập và những tiếng xích sắt của T.54 nghiến trên các nẻo đường tiến vào Thủ đô Sàigòn của Việt Nam Cộng Hòa. Chính lúc đó có những người Lính VNCH đã tự bắn vào đầu, đã tự ôm nhau cùng rút chốt lựu đạn tự sát để khỏi bị rơi vào tay giặc thù Việt Cộng.
Họ là những anh hùng của dân tộc trong quan điểm nếu không giữ được nước, không bảo vệ được đồng bào của mình thì phải chết vinh còn hơn là sống nhục.
Những hoạt cảnh bi thảm của ngày 30 tháng 4 từ ba mươi ba năm trước đã "Hạ Màn Của sân Khấu Chính Trị" Việt Nam Cộng Hòa.
Người Lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa khi trước chỉ vì ba chữ:
"Tổ quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm", tôn trọng quân phong quân kỷ và tuân theo quân luật.
Nên người Lính Việt nam Cộng Hòa luôn luôn sẵn sàng và hãnh diện chiến đấu cho Mầu Cờ, Sắc Aùo để giữ vững vùng đất Tự Do, Dân Chủ của VNCH và bảo vệ đồng bào của mình.
Vì cuộc chiến miễn viễn này, người Lính VNCH ít khi nào có đủ thì giờ để bình tâm suy nghĩ đến những hoạt cảnh chính trị, để kịp nhận định thời cuộc về đất nước.
Vì thế vai trò của người Lính VNCH vì thế đôi khi đã bị bạc đãi một cách bất nhân và thiếu sự đánh giá khách quan của đồng bào là những người khán gỉa đã dự khán vở Bi Trường Kịch chiến tranh giữa VNCH và Cộng Sản Bắc Việt của những tay phù thủy đạo diễn chính trị. Kế đó là những ngòi bút thiếu lương tâm khi viết bôi nhọ lên sự chiến đấu của người Lính VNCH.
Sự lơ là của đồng bào khi nhìn về sân khấu trình diễn tấm thảm kịch Chiến Tranh Việt Nam đã không xử dụng hết quyền phán xét của mình trong khi dự khán. Trong khi đó những diễn viên chính lànhững người Chiến Sĩ VNCH đã và đang xả thân giữ từng tấc đất, bảo vệ đồng bào của mình đã bị các diễn viên phụ là người lãnh đạo, là người lên kế hoạch, là người cố vấn chính trị và người làm Tổng Tham Mưu Trưởng của mình vì thiếu nhạy cảm, thiếu đầu óc sáng suốt trong trận tranh hùng qua bàn cờ quốc tế. Vì thế những diễn viên phụ ấy đã làm lu mờ, đã làm cho danh dự của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH bị trà đạp chết một cách tức tưởi...
Máu của các diễn viên chính, những người Lính VNCH đã đổ xuống trên quê hương Việt Nam chưa chấm dứt ở ngày 30 tháng 4 năm 1975, mà vẫn còn tiếp tục đổ xuống sau đó trong các lao tù cộng sản miền bắc, trên chặng đường vượt biên tìm Tự Do.
Những tay đạo diễn ngoại bang và những diễn viên chính trị phụ của Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Sản Bắc Việt vẫn đang cố gắng dựng lại vở Bi Hài Kịch này dưới một danh từ mới
"Hòa Hợp Hòa Giải - Hãy Xếp Lại Chuyện Quá Khứ Để Nhìn về Tương Lai..." những từ ngữ đao to buá lớn, mỹ miều này đang quảng cáo rầm rộ để làm nhạt phai đi ngày mà chúng ta gọi là Quốc Hận 30 tháng 4.
Trên quan điểm đoàn kết là sức mạnh, người Lính VNCH chúng tôi minh định không đứng trong bất cứ một phe phái hay đảng chính trị nào. Những tranh chấp tị hiềm có tính cách cá nhân, đảng phái người Lính VNCH không màng tới. Mà không những thế người lính VNCH còn cho đó là những âm mưu xảo trá của cộng sản qua đường lối tuyên vận tại hải ngoại bằng nghị quyết 36 từ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm phá nát tiềm năng chống cộng của mọi người quốc gia chân chính nói chung và của tập thể anh em chiến sĩ VNCH nói riêng.
Đây là mối hiểm họa rất tai hại giống như những "Trái Lựu Đạn Ngôn Ngữ" mà Cộng Sản Việt Nam đang mượn bàn tay bọn nằm vùng, bọn đón gió trở cờ, tầng lớp trí thức chính trị xa lông đang ném và cho nổ tung vào cộng đồng người Việt Tị Nạn Cộng Sản.
Trước khi vở kịch mới đang diễn xuất, người viết chỉ muốn quý đọc gỉa, quý chiến hữu trong Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa khi trước phải dành lại thế đứng của mình sau 30 năm tập dợt lại, bên cạnh những học hỏi, cố gắng của những diễn viên trẻ bắt đầu nhập cuộc. Chúng ta phải thuần thục vai trò và trách nhiệm của từng diễn viên ngõ hầu làm cho vở kịch mới "Đường Về Quê Hương"này phải được sự ủng hộ nhiệt tình của khán thính gỉa là những đồng bào của chúng ta từ hải ngoại đến quốc nội. Cũng như làm thức tỉnh những phù thủy đạo diễn phải kinh ngạc về sự thực hiện vai trò diễn viên chính của chúng ta.
Vì chính lề lối suy tư và hành xử tự tôn, tự mãn, mục hạ vô nhân của những người đạo diễn chính trị này đã phá vỡ mọi nỗ lực kết hợp từng bị trì hoãn trong công cuộc vận động mang lại sự Tự Do và Dân Chủ cho đất nước Việt Nam. Cũng những người này tự coi minh là người lãnh đạo có khả năng, nhưng thật ra họ chỉ là những chuyên viên chính trị xa lông tiếp tục muốn tự giam cầm trong các khuôn đúc cũ theo kiểu "Sông Lạch" của xã hội nông nghiệp, và đã làm che khuất đôi mắt nơi họ về thứ viễn kiến "Đại Dương" tối cần thiết trong kỷ nguyên mới hiện đại.
Vì bất hạnh của biến cố 30 tháng 4 năm 1975 cho đến nay đã là 33 năm. Nhưng cũng là một cơ may để cho gần một triệu người Việt Nam đang quen nếp sống chậm tiến được viễn du trong thập tử nhất sinh, xuất dương tìm học những điều văn minh mới trong đó có thêm tầng lớp thế hệ thứ hai, thứ ba đang cố gắng với chúng ta trên con đường đấu tranh đòi hỏi Tự Do Dân Chủ và sẵn sàng về xây dựng đất nước sau khi có bầu cử tự do dưới sự giám sát của quốc tế.
Những người Chiến Sĩ VNCH chúng tôi nhận thức rằng, công cuộc Kháng Chiến không thể thành công với sự lãnh đạo của vài ba quân nhân chuyên nghiệp già nua, của những chính khách xa lông một thời vang bóng, trí thức biển lận đang tiếc nuối quyền lực chưa chịu thức tỉnh với kiến thức khoa học và siêu tốc độ như hiện nay.
Công cuộc phục quốc đòi hỏi phải được lãnh đạo, quản trị một cách tối tân với những kế hoạch, sách lược chính trị, kinh tế, kỹ thuật tinh vi và dài hạn. Như vậy chỉ còn trông cậy vào giới trẻ có tài và thực tâm đóng góp với cha anh...
Phục hoạt đất nước theo chiều hướng kháng chiến phục quốc không thể được lãnh đạo theo kiểu hội kín cổ xưa. Mà phải được theo lối điện toán hoá, chuyên môn hoá, kỹ thuật hoá. Lãnh tụ không thể là một người.
Mà lãnh tụ phải là một tập đoàn Đa Năng Đa Hiệu, biết Cư An Tư Nguy cho người dân, biết Tự Thắng Để Chỉ Huy, biết Vì Dân...Có thế mới mong canh tân đất nước, mới bắt kịp được sự tiến bộ của các nước khác trên thế giới.
Người Lính VNCH hôm nay không chống cộng theo kiều thập niên 30-40, không tố cộng theo kiểu thập niên 50-60. cũng như khống chống cộng theo kiểu máy móc của nửa thập niên 1970-75, theo lối kháng chiến 5-7 người tại Thái Lan vào những năm giữa thập niên 80. Tất cả hiện nay đều là những sự xa vời thiếu thực tế đối với chính trường và ngay cả chiến trường cũng vậy.
Vấn đề căn bản đặt ra cho người Lính VNCH còn yêu nước hiện nay là phải nghĩ gì, hành động ra sao cho thích nghi, để ra khỏi những con lạch, con sông hạn hẹp thì mới tiến tới đại dương của vận hội mới được. Với hoàn cảnh đấu tranh mới cho sự đòi hỏi Tự Do, Dân Chủ cho đất nước rút ngắn lại con đường phục hồi xứ sở chúng ta những ngừơi Lính VNCH còn hiện diện nơi đây hãy cùng nhau cúi đầu tưởng niệm những anh linh chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do đã vị quốc vong thân.
Sau ba mươi ba năm vở trường kịch cộng sản rồi cũng phải chấm dứt bởi sự hạ màn. Vở kịch diễn trong ba mươi ba năm qua trên đất nước Việt Nam cũng như ở hải ngoại có gì gọi la mang lại hạnh phuc cho đồng bào hay không?
Dở như thế nào?
Nội dung có được nhiều ngừơi khen hay chê ra sao?
Và những đoàn kịch hát "Live" sẽ tồn tại như thế nào khi đất nước chúng ta có
Tự Do - Dân Chuủ thật sự trở lại.
Chúng ta hãy tạm khép kín nỗi buồn riêng tư, để đêm đêm chúng ta không còn phải khắc khoải u sầu vì đời của người lưu vong. Chúng ta hãy nhìn thẳng vào đại sự để nhận lấy vị trí diễn viên khiêm nhường của chính mình trong công cuộc chung mà mọi người khi còn tấm lòng nghĩ về đồng bào, về quê hương Việt Nam bên kia bờ Thái Bình Dương.
Viết cho muà tưởng niệm 30 tháng 4.
Bỉnh bút Phạm Lễ, BMD
|