banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Những cuộc Nam tiến

 

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Người Mỹ có cuộc Tây tiến (Westward). Họ tới miền Đông Hoa Kỳ trước, sau đó, dần dần mở rộng lãnh thổ về phía Tây, mạnh nhất là trong những cuộc đi tìm vàng ở California, hồi thế kỷ thứ 18. Năm 1910, việc xây dựng các thành phố lớn ở bờ biển Thái Bình Dương như San Francisco, Los Angeles coi như hoàn thành, cuộc Tây tiến chấm dứt. Đó là theo quan điểm của một số nhà sử học Mỹ.
Có người nói là chưa!
Biên giới phía Tây, người Mỹ gọi là Frontier. Nhóm anh em ông Kennedy chủ trương một vùng biên cương mới, gọi là New Frontier.
New Frontier thì đi tới đâu? Tới bờ biền Thái Bình Dương là hết đất rồi! Không, thằng bé Judy trong The Red Pony của John Steinbeck (February 27, 1902 - December 20, 1968) nói rằng nó sẽ đóng thuyền đi nữa. Đóng thuyền đi đâu nữa? Qua châu Á, biến Thái Bình Dương thành "biển nội địa" của Mỹ. Đó có phải là tinh thần nhóm New Frontier mà anh em nhà Kennedy đứng hàng đầu hay "tinh thần viễn Tây" của người Mỹ. Trong bài viết "The Red Pony", tôi có so sánh tinh thần trẻ của người Mỹ muốn vượt qua Thái bình Dương được bằy tỏ trong truyện ngắn The Red Pony và tinh thần già cỗi của người Việt qua bài thơ "Ngắm Non Hồng" của Võ Liêm Sơn.
Người Việt Nam có cuộc Nam tiến nổi tiếng trong lịch sử. So với Tây tiến của người Mỹ, chúng ta thua họ, bằng ngang với họ, hay hơn họ?
Nhiều người biết chuyện xung đột giữa các con ông Nguyễn Kim với ông anh rể Trịnh Kiểm, chồng công chúa Ngọc Bảo. Nguyễn Uông bị giết, Nguyễn Hoàng sợ chung số phận, bèn giả điên, rồi nhờ chị xin với Trịnh Kiểm vào trấn thủ đất Thuận Hóa.
Một mặt thì Trịnh Kiểm đang lo ngại việc ông ta lấn quyền vua Lê, một mặt, chưa tiêu diệt xong nhà Mạc ở Bắc Hà, một mặt lại vừa giết em vợ, sợ lòng người không phục. Nguyễn Hoàng lại đang ở bên cạnh, biết Nguyễn Hoàng sẽ phục thù lúc nào để giành lại quyền bính trong tay Nguyễn Kim đã bị rơi vào tay Trịnh Kiểm sau khi Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết.
Lịch sử Nam tiến bắt đầu từ đó?
Không, trước nữa, từ đời nhà Lý, nhà Trần, nhưng chỉ xin kể từ Nguyễn Hoàng vào Nam là biến cố Nam tiến lớn nhứt. Từ đó, các chúa Nguyễn lo bình định và mở mang bờ cõi về phương Nam, chiếm Mô Xoài và Đồng Nai do công của công chúa Ngọc Vạn, rồi chiếm vùng thủy Chân Lạp do công của những người... Tàu, giống như công của người Xì (Spanish) đối với vùng viễn Tây Hoa Kỳ vậy.
Bến Nghé ngày xưa là hoang địa sình lầy. Đường Hàm Nghi là một con rạch lớn vô tới tận chợ Bến Thành, hồi ấy là một cái bến. Cá sấu thường lên bờ kêu như nghé ngọ nên người ta mới đặt tên là Bến Nghé. Đất Saigon lúc đó còn tên gọi là... Sài Côn. Đó là cách giải thích của ông Vương Hồng Sển trong "Saigon năm xưa." Đúng hay sai, đúng bao nhiêu phần trăm, chuyện đó để cho các nhà sử học. Nhưng rõ ràng Sai Côn hồi ấy là hoang địa và chính người Tàu khai phá, mở mang vùng nầy.
Sử chép:
"Năm kỷ tỵ (1679) có quan nhà Minh là tổng binh trấn thủ đất Long Môn (Quảng Tây) Dương Ngạn Địch, phó tướng Hoàng Tiến; tổng binh châu Cao, châu Lôi và châu Liêm (thuộc Quảng Đông) là Trần Thượng Xuyên, phó tướng Trần An Bình, không chịu làm tôi nhà Thanh, đem ba ngàn quân cùng năm mươi chiếc thuyền sang xin làm dân Việt Nam. Chúa Hiền nhân muốn khai khẩn đất Chân Lạp, bèn cho vào ở đất Đông Phố (tức đất Gia Định). Bọn Ngạn Địch chia nhau ở đất Lộc Dã (tức là đất Đồng Nai thuộc Biên Hòa), ở Mỹ Tho (thuộc Định Tường) ở Ban Lan (thuộc Biên Hòa) rồi cày ruộng làm nhà, lập ra phường phố, có người phương tây, người Nhật bản, người Chà và đến buôn bán đông lắm.
....
"Năm mậu dần (1698) chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai ông Nguyễn Hữu Kính làm kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố ra làm dinh, làm huyện, lấy Đồng Nai làm huyện Phúc Long và Saigon làm huyện Tân Bình. Đất Trấn biên dinh (tức Biên Hòa) và Phiên trấn dinh (tức Gia Định) sai quan vào cai trị. Lại chiêu mộ những kẻ lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất. Còn những người Tàu ở đất Trấn biên (Biên Hòa) thì lập làm xã Thanh Hà, những người ở Phiên trấn (Gia định) thì lập làm xã Minh Hương.
(Việt Nam Sử Lược - II, Trần Trọng Kim, trang 81)
Hai phần tôi trích ở trên, phần của ông Vương Hồng Sển thì thuộc về ngoại sử, phần của ông Trần Trọng Kim, thuộc về chánh sử. Ngoại sử hay chính sử đều nói tới lai lịch xứ Sai Côn, tức Saigon sau nầy.
Mãi đến khi người Pháp sang cai trị nước ta, phá được chiến lũy phòng thủ của Nguyễn Tri Phương, đuổi quân triều đình ra khỏi ba tỉnh miền Đông, chiếm luôn ba tỉnh miên Tây, cướp đất Nam Kỳ thành đất thuộc địa, khiến xứ nầy thành một lãnh thổ khác, không còn trong quyền hạn của nhà Nguyễn nữa. Người Tây đã cho xây dựng và phát triển đất Sai Côn thành ra thành phố Saigon, đầu thế kỷ 20, vang danh là hòn ngọc Viễn Đông.
Nếu chỉ tính trong khoảng thời gian từ đầu đến cuối thế kỷ 20, Saigon và các vùng chung quanh tiếp nhận ba đợt Nam tiến của người miền Bắc.
Đợt đầu tiên (thế kỷ 20)
Sau khi thế giới chiến tranh thứ nhất chấm dứt khoảng hơn 10 năm, hầu hết các nước trên thế giới đều chịu hậu quả cuộc khủng hoảng kinh tế. Nặng nề nhứt là ở Mỹ.
Nước Việt Nam hồi bấy giờ nhỏ bé, chưa tới 20 triệu dân, cũng không tránh khỏi tai họa.
Ít có những sử liệu nói về hậu quả cuộc khủng hoảng kinh tế ấy ở Việt Nam, nhưng trong các tiểu thuyết của Lê Văn Trương, Ngọc Giao,... không thiếu trường hợp người miền Bắc bỏ vào "Nước Saigon" (tiếng dân chúng miền Bắc hồi ấy) để kiếm sống. Sự kiện nầy là tự phát, do từng cá nhân, từng gia đình chớ không phải các chương trình mộ phu của Tây đồn điền - những tên Tây thực dân mở đồn điền cao su ở miền đông Nam Bộ, hay các dinh điền trồng lúa ở miền tây Nam Bộ.
Trước 1975, nếu quí vị cứ đi dọc theo các phố Gia long, Lê Thánh Tôn, khu vực gần chợ Bến Thành, quí vị sẽ thấy nhiều người dân Saigon ở đây, sinh đẻ, lớn lên và học hành ở đây nhưng nói tiếng Bắc. Những gia đình nầy từ miền Bắc vào Saigon trong những năm cuối thập niên 1930 hoặc đầu 1940.
Số người nầy không phải ít, phần đông buôn bán làm ăn phát đạt, giàu có nhờ sự khôn khéo, cần cù và chăm chỉ. Ngoài việc buôn bán, mở mang những công nghiệp nhỏ, họ còn tham gia hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau thuộc báo chí, văn học, âm nhạc, kịch nghệ và khá thành công. Thế hệ kế tiếp, tức con cháu của họ, nhiều người đổ đạt cao, là bác sĩ, kỹ sư, luật sư, hoặc chuyên viên trong nhiều lĩnh vực.
Điều đáng nói là họ không tạo ra sự mâu thuẫn, xung khắc, tranh giành hoặc đố kỵ với người địa phương. Chính người Saigon cố cựu cũng biết tới công lao và sự đóng góp của họ cho Hòn Ngọc Viễn Đông. Không ít người trong số người Bắc nầy đã cùng dân Saigon đứng lên biểu tình chống Pháp trở lại hồi tháng 9 - 1945 và chính họ cũng tham gia khánh chiến chống Pháp trong các lực lượng vũ trang của dân chúng Saigon.
Cũng không quên nhắc lại, sự thành công của họ làm cho một số người Saigon có tính đố kỵ ganh ghét họ. Đó là lý do khiến bọn thực dân Pháp lợi dụng, tạo nên phong trào gọi là "đánh Bắc Kỳ" sau biến cố "Nam Kỳ khởi nghĩa" năm 1940. Thực ra, lúc bấy giờ trung ương đảng Cộng Sản đã dời từ Hà Nội vào Saigon để dễ liên lạc với các đảng Cộng Sản Quốc tế, nhứt là Cộng Sản Pháp đang hết sức ủng hộ Cộng Sản Việt Nam.
Đợt thứ nhì (Cuộc di cư vĩ đại)
Do hiệp định Genève chia đôi nước Việt Nam, gần một triệu người bắc vĩ tuyến 17 di cư vào Nam. Đây là một gánh nặng rất lớn cho một thủ tướng mới nắm chính quyền. Một mặt, ông Ngô Đình Diệm đấu tranh với Pháp giành độc lập cho đất nước sau hơn 100 năm cai trị, một mặt ổn định đời sống cho cho hơn một triệu người trốn bỏ Cộng Sản, mặt khác nữa, lo canh tân đất nước như ước muốn của các cách mạng đi trước.
Nhìn chung, có hai thành phần trong số những người di cư: Một là dân thành thị, gồm tư sản, - không nhiều - tiểu tư sản thành thị, trong đó không ít là công chức, quân nhân của chính quyền quốc gia ở ngoài vĩ tuyến 17, thương gia, tiểu thương, v.v... Phần đông, những người nầy định cư ở Saigon, Biên Hòa, Vũng Tàu và các thành phố từ đây trở ra phía Bắc, tới Huế, Quảng Trị, một số rất ít định cư tại Cần Thơ. Tôi từng đi qua các thành phố Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long xuống tới Rạch Giá, Hà Tiên, thấy rất ít, hoặc không thấy người di cư định cư ở các thành phố nầy.
Thứ hai là nông dân, không thấy địa chủ, phần đông là trung nông, tiểu nông. Đa số những người nầy được định cư trong những khu dành cho người di cư: Ở Saigon thì có xứ Bùi Phát (Bùi Chu, Phát Diệm gọi tắt), Xóm Mới (Gò Vấp), tại tỉnh Biên Hòa (Tam Hiệp, Hố Nai, Dốc Mơ, Gia Kiệm). Sau năm 1955, một số không ít định cư tại các vùng dinh điền, khu trù mật. (Cái Sắn, Bắc Đậu, v.v...)
Ngoài lý do kinh tế, các khu dinh điền nầy được thành lập không thiếu yếu tố chiến lược quân sự như tôi đã trình bày về vị trí dinh điền Cái Sắn trong loạt bài "Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng - Hương Tràm Trà Tiên).
Nói riêng ở Saigon, cũng như các thế hệ trước, người dân di cư hoạt động hăng hái, tích cực và thành công trên nhiều lĩnh vực. Vì là nạn nhân Cộng Sản lìa bỏ quê hương vì lý do chính trị; dĩ nhiên, họ đóng góp không nhỏ cho công cuộc chống Cộng của chính quyền miền Nam Việt Nam trên bình diện văn hóa, văn học, báo chí, thông tin, truyền thanh, truyền hình và trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Trong nhiều lãnh vực, họ là những người lãnh đạo, chủ đạo, chỉ huy, điều hành. Thành phố Saigon mở mang thêm, lớn rộng thêm. Trong nhiều lãnh vực, Saigon trở thành trung tâm điểm của vùng Đông Nam Á. Sau 1975, vai trò đó của Saigon đã mất đi, Saigon phải đứng sau Bangkok. Cho đến bây giờ, về mặt hàng không, Saigon chưa giành lại được vị thế hàng đầu, sau khi vị thế ấy bị mất sau 10 năm Việt Cộng thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng thời vua Tự Đức.
Điều đáng vui mừng là cuộc Nam tiến nầy không tạo ra mâu thuẫn giữa người Saigon địa phương và những người mới tới mà phải nói ngược lại, trong nhiều lãnh vực như truyền thông, báo chí thì việc cộng tác, hợp tác giữa hai lớp người nầy lại rất tích cực, đoàn kết và thành công.
Đợt thứ ba (Nam tiến, giải phóng hay xâm lược?)
Đợt thứ ba là đợt người Bắc vào Saigon (nói riêng) sau năm 1975.
Dĩ nhiên, không ít người không đồng ý với tôi về đợt người vào Saigon sau 1975 là Nam tiến. Nó cũng không phải là "giải phóng Saigon khỏi ách kềm kẹp của Mỹ Ngụy" mà chính hiệu là "Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam". Ấy là nói theo các bài bản chính trị.
Tâm lý của kẻ xâm lược và chiến thắng liệu có khác với tâm lý người rời bỏ quê hương trốn chạy vì chính trị hay xa nhà kiếm sống?
Dĩ nhiên khác xa. Ít khi có quân viễn chinh hiền từ, không tham lam và không phá phách.
Có hai cách cướp bóc của kẻ chiến thắng:
Có chính sách và cá nhân tự phát:
Ví dụ: Về chính sách thì 16 tấn vàng đi đâu? Bao nhiêu nhà máy bị tháo gở đưa ra Bắc, bao tiêu tài sản vật dụng chở về Bắc...
Về cá nhân tự phát thì thiên hình vạn trạng, không nói sao hết được. Sự cướp bóc của kẻ chiến thắng, nhìn trên bình diện tâm lý khá phức tạp. Điều đó, tôi có trình bày trong bài "Tham nhũng". Tóm gọn trên mặt tâm lý mà thôi thì nó bắt nguồn từ tâm lý kẻ chiến thắng đối xử với kẻ chiến bại, từ bệnh công thần rằng đã đóng góp cho "cách mạng" có ngày "đại thắng lợi" hôm nay, từ nguồn gốc gia đình vốn dĩ ở cấp thấp đã bao nhiêu đời nay, từ cuộc sống nghèo đói, khổ sở triền miên, từ tâm lý người Bắc khác với cá tính nông cạn và bộc trực của người miền Nam, từ ách thống trị bóc lột và đàn áp của chế độ Cộng Sản Bắc Việt.
Dân Saigon và cả người miền Nam không phải là không biết, và có thể biết trước những điều đó, nhưng kẻ thua trận thì vô phương. Tuy nhiên, ở nhiều tỉnh, đặc biệt như ở Bến Tre, vì người cầm quyền ở đây có quyền hạn và có kinh nghiệm với người Bắc nên họ đã từ chối, nói trắng ra là không nhận hay đuổi ra khỏi tỉnh những cán bộ từ miền Bắc "chi viện" cho miền Nam.
Dĩ nhiên, bây giờ, sự "chi viện" ấy đầy đặc ở Saigon. Vào bất cứ đâu, cơ quan chính quyền, giáo dục, quốc doanh, kinh tế, y tế, v.v... đâu đâu cũng thấy "cán bộ miền Bắc chi viện" đang thay mặt "nhân dân quản lý" các cơ quan vừa có quyền vừa có tiền nầy. Những người Bắc nầy, nói cho đúng với thực tế, chính là họ đang cai trị Saigon.
Trong viễn tượng đó, ta gọi đây là cuộc Nam tiến với ý nghĩa như thế nào để nghe cho hợp tình hợp lý?!
hoànglonghải

 

 

 

Kể lại vài việc diễn ra trong Dinh Độc Lập

Thanh Thương Hoàng

Hàng năm cứ tới ngày 30 tháng Tư đa số người Việt nơi hải ngoại chúng ta lại không khỏi bâng khuâng xao xuyến, không khỏi thở ngắn than dài, không khỏi ăn năn hối tiếc, và nhất là không khỏi oán hờn (cả bạn lẫn thù).
Mặc dầu đã hơn 30 năm trời trôi qua, thời gian đã phôi pha, biết bao vật đổi sao rời, mà lòng người Việt vẫn" đá mòn nhưng dạ chẳng mòn". Tới ngày này là dư luận lại như nổi sóng và mọi việc người ta nói tới khiến có cảm tưởng như mới xẩy ra ngày hôm qua. Chuyện thật, chuyện giả, tuyên truyền, bênh vực, xuyên tạc, khiến cho lớp hậu sinh (thuộc các thế hệ sau) sinh ra và lớn lên ở đất nước người này sẽ chẳng biết đâu mà lần. Và tất nhiên dù muốn dù không rồi người ta cũng sẽ tin vào lời nói và sách viết của những kẻ tự coi là thắng trận vì mấy ai chịu tin kẻ bị thua (?). Do đó sẽ rất thiệt thòi cho chúng ta, những người quốc gia. Chúng ta sẽ bị mang tiếng và sẽ "mất mặt", vì theo luận cứ của kẻ (tự coi là) chiến thắng, thì chúng ta là người có "tội" với đất nước.
Vậy theo tôi, trong khi chúng ta, những người quốc gia cuối cùng còn lại (của cuộc chiến) nên nói, nên viết ra hết những gì mình tai nghe mắt thấy, dù lớn dù nhỏ, trong cơn biến động long trời lở đất của non sông đất nước để may ra góp được phần nào trong muôn một của sự thật, ngõ hầu con cháu chúng ta mai sau có thể "nhìn" thấy để biết sự thật (lịch sử) một cách vô tư trong sáng.
Tôi may mắn được quen biết một ông bạn già nhà binh từ khá lâu và được ông cho biết ông có một người bạn từng chứng kiến nhiều sự việc xẩy ra trong và quanh Dinh Độc lập, vì ông giữ một vai trò khá quan trọng (trong Dinh) những ngày Saigon hấp hối - 30 tháng Tư 1975. Ông vốn là người khiêm tốn, kín tiếng, không muốn "lời qua tiếng lại ồn ào", thầm lặng sống những ngày tháng còn lại nơi xứ người. Tôi nghe cũng để biết vậy mà thôi.
Một buổi tối tôi "coi" truyền hình thấy một ông nhà thơ phỏng vấn một cựu sĩ quan VNCH về những vấn đề có tính cách "ngoại sử" nhưng lại rất hữu ích cho những người còn ôm mối hận lưu vong. Tôi chợt nhớ tới "ông bạn của ông bạn tôi", một nhân vật từng một thời "trấn nhậm" trong Dinh Độc lập. Tôi nghĩ ông phải biết nhiều sự việc xẩy ra trong mấy ngày Dinh đổi chủ, biết đâu chẳng giúp giải đáp cho mình nhiều nghi vấn. Tôi nhờ ông bạn nhà binh già dàn xếp cho một cuộc phỏng vấn. Lúc đầu ông (người tôi muốn phỏng vấn) tỏ ý ngại ngùng vì "không muốn dư luận bàn tán đàm tiếu". Nhưng rồi nể lời ông " bạn đồng cấp"của ông, ông bằng lòng với sự dè dặt thường lệ: "Biết gì, thấy gì tôi nói, thế thôi, vì tôi không phải là yếu nhân, chỉ là kẻ thừa hành của người trong cuộc." Chuyện ông cho tôi biết, dù nếu chẳng có gì to tát hay quan trọng, tôi nghĩ đó cũng là những sự việc mà chúng ta nên ghi nhận để (nếu đúng là vậy) trả lại sự thật cho những sự việc mà bấy lâu nay chúng ta vẫn cứ đinh ninh là như vậy. Hơn nữa, một vài viên gạch của ngôi nhà sụp đổ biết đâu lại chẳng giúp chúng ta khi cần có thêm vật liệu để xây lại một bức tường!
Ông không muốn tôi kể tên ông trong bài viết. Tôi nói nếu vậy bài viết sẽ khó tạo được niềm tin nơi người đọc và giá trị sự thật giảm đi nhiều (vì có thể người ta cho là tôi bịa). Vậy thì tôi cứ xin phép kể tên và chức vụ ông ra đây. Ông có trách tôi xin chịu. Nhưng dù sao, nể lời ông, tôi xin ghi tắt tên họ ông. Đó là (nguyên) đại tá VQC, chánh võ phòng Dinh Độc lập dưới "trào" Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho tới ngày 30.4.1975.
Cuộc chuyện trò diễn ra dưới hình thức phỏng vấn, hỏi đáp.
Được hỏi về những việc xẩy ra trong ngày 30.4.1975 trong và quanh Dinh Độc lập (mà ông tai nghe mắt thấy) ông VQC cho biết: hai cánh cổng chính (mặt tiền) Dinh Độc lập ngày 30.4 được mở từ buổi sáng. Khi đó trong Dinh mọi người vẫn qua lại tuy với một cung cách không bình thường. Ông Nguyễn Văn Hảo (nguyên phó Thủ tướng) thấy ông vẫn mặc bộ đồ nhà binh nói ông và các nhân viên quân đội làm việc trong Dinh nên thay đồ dân sự là hơn.. Thế là từ lúc đó trong Dinh chỉ còn một người duy nhất bận đồ nhà binh, cổ áo mang ngôi sao: đó là cựu chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh vừa được "phong" quyền Tổng tham mưu trưởng.
Vào lúc 10 giờ 30 có một xe bọc sắt (hình như là loại V10) của Lôi Hổ (lực lượng đặc biệt) chở mấy sĩ quan mặc đồ rằn ri tới. Họ vào trong Dinh mời ông Nguyễn Hữu Hạnh ra trước cửa Dinh đứng trước chỗ xe bọc sắt đậu và lớn tiếng chất vấn: "Chưa có gì sao đã bắt (chúng tôi) buông súng?" Sau một hồi nói qua nói lại, không biết ông Hạnh nói gì đó, mấy sĩ quan này bỏ ra xe bọc sắt phóng đi. Ông Hạnh vào trong Dinh nói với ông VQC muốn có một xe díp để đến Bộ Tổng tham mưu. Ông VQC kiếm cớ từ chối là tài xế đã bỏ đi mất.
Tới khi bị nhốt chung trong phòng, ông Hạnh nói với ông VQC: "Tôi cám ơn anh lắm. Sự việc mà anh không giúp tôi (cái xe) để trở về Bộ Tổng Tham Mưu đã cứu sống tôi." Ý ông ta nói là nếu lúc đó ông trở về Bộ Tổng tham mưu thì có thể đã bị (quân ta) giết chết.
Vẫn theo lời kể của ông VQC mãi tới 12 giờ 30 trưa mới có hai xe tăng, một xe nơi cần "ăng ten" có treo cờ Mặt trận giải phóng miền Nam xanh đỏ, lao qua cổng chính vào trong Dinh.
Sau khi hạ cờ VNCH trên nóc Dinh Độc lập và treo cờ Giải phóng miền Nam xong (chính là lá cờ trên xe tăng), binh lính Việt cộng trên hai xe tăng đậu trước sân Dinh đồng loạt nổ súng chỉ thiên để mừng chiến thắng.
Tôi hỏi: "Lúc ấy các ông ở đâu?"
Ông VQC: "Ở trong Dinh".
"Nghĩa là vẫn chưa bị họ nhốt?"
Ông đáp: "Anh em chúng tôi vẫn chưa bị nhốt, lúc họ mới vào thì họ chưa có hành động gì hung hăng cả."
Và ông cho biết thêm: "Khi đó rất đông dân chúng tụ tập ngoài hàng rào sắt của Dinh Độc Lập, có lẽ vì hiếu kỳ, thấy hai bên không có bắn nhau họ bèn tràn vào trong sân rồi cả trong Dinh để coi cho biết.
Kể từ lúc hai cái xe tăng vào trong Dinh cho đến khoảng 1 giờ sau, trong Dinh coi như ai muốn đi ra ngoài hay ở lại cũng được, chưa có sự kiềm chế nào. Các viên chức trong Nội các mới đều ở lại trong Dinh. Hai ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu ở trên lầu. Lúc đó vào khoảng 2 giờ chiều, một lính VC đứng ở ngay gần cầu thang đi lên lầu dùng tay đưa lên miệng làm loa và nói lớn: "Ai có phận sự trong Dinh thì vào làm việc với chúng tôi trong phòng họp này (chỉ vào phòng lớn mà trước đây vẫn dùng làm phòng họp nội các), phòng này nằm ở tầng dưới, phía bên cánh trái dinh Độc Lập. Còn không thì ra về."
Lúc ấy dân chúng lục tục ra về hết. Vào khoảng 3 giờ chiều chúng tôi bị họ đưa xuống nhốt trong một phòng dưới tầng hầm là chỗ làm việc dành cho Tổng thống khi có biến cố đảo chánh xảy ra, (phòng này ở liền bên cạnh có phòng đặt máy móc truyền tin). Buổi tối họ chuyển chúng tôi lên phòng họp nội các trước đây, là ngay tầng trên của căn phòng dưới hầm, tức là căn phòng mà họ đã chỉ định cho chúng tôi vào trong đó không được đi ra ngoài, bên ngoài cửa thì có một binh sĩ VC mang súng AK đứng gác.. Có tất cả 23 người bị nhốt hai ngày tại phòng đó..
Trong số này tôi nhận thấy có các ông Bùi Tường Huân, Bùi Thế Dung, chủ tịch Giám sát viện Bùi Hòe Thực, hai đại tá giữ chức vụ Giám sát viên, cựu chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, một số anh em sĩ quan cấp úy và binh sĩ, có cả anh lính lái xe cho tôi. Nhìn ra ngoài phòng (qua cửa kính) tôi thấy ông Nguyễn Văn Hảo đi qua lại thong thả và chuyện trò với binh lính Việt cộng. (Lời ghi thêm của người viết: ông Nguyễn Văn Hảo khi đó không giữ một chức vụ nào trong Nội các Vũ Văn Mẫu. Ông tự động vào trong Dinh Độc lập với những ý đồ riêng).
Chúng tôi bị giữ từ chiều ngày 30 mãi tới sáng ngày 2 tháng 5 thì tôi được tha về. Tôi không hiểu sao họ chỉ gọi mình tôi. Trước khi thả, một người xưng là Đại tá phó chính uỷ quân đoàn (chiếm Dinh Độc lập) trao tôi một tờ giấy nhỏ bằng bàn tay đánh máy, do ông ta ký tên chứng nhận cho tôi về nhà chờ lệnh sau. Và ông ta cũng thông báo với tôi là "ngày mai sẽ cho các anh về hết". Trước khi về tôi lên lầu chào tướng Dương Văn Minh. Tôi nhớ mãi câu ông nói với tôi khi chia tay một cách rất chân tình và cảm động: "Anh C. à! Tôi nghĩ việc tôi làm không có gì ân hận cả. Vì việc làm của tôi đã cứu rất nhiều người giúp cho Saigòn không bị đổ máu." Kể tới đây ông VQC nhớ lại buổi tối 29 tháng tư, lúc 11 giờ đêm, ông cùng Trung tá Võ Ngọc Lân (chỉ huy trưởng Liên đoàn phòng vệ phủ Tổng thống) thấy ông Dương Văn Minh đang đi qua lại trước cửa Dinh, ông hỏi ông Dương Văn Minh cốt ý để cho ông Trung Tá Võ Ngọc Lân cùng nghe thấy lệnh: "Thưa Trung Tướng nếu ngay đêm nay các đơn vị của quân đội ở bên ngoài không còn chiến đấu, để bỏ trống rồi Việt Cộng vào tới đây, bọn họ tấn công thẳng vô Dinh, mình có chiến đấu đến cùng để giữ không?" Ông Minh sau một lúc có vẻ khó trả lời rồi chỉ nói vắn tắt: "Thôi anh à!"
Sau khi được cái lệnh đó của ông Dương Văn Minh, ông VQC nói cho Trung Tá Võ Ngọc Lân thi hành ở trong Dinh rồi dùng xe đi ra ngoài cổng Dinh Độc Lập, qua phía bộ Ngoại giao, nơi có một tiểu đoàn Nhẩy Dù trấn đóng. Ông gặp Thiếu tá chỉ huy tiểu đoàn Dù nói lại lệnh của tổng thống Dương Văn Minh. Ông Thiếu tá Dù đòi ông VQC viết giấy làm bằng. Ông VQC đã viết mấy chữ trên tờ giấy nhỏ rồi ký tên. Sau đó ông trở vào Dinh và khoảng 12 giờ đêm thì ông cùng ông Dương Văn Minh và một số người trong Nội các mới ra về Dinh Hoa Lan, ngủ lại đó tới sáng hôm sau (30.4) thì tất cả đến Dinh Độc lập. Ông VQC nói là cả ngày 30 tháng Tư, bọn ông bị bỏ đói cả ngày, và khát thì uống nước máy. Buổi tối ông được một người lính dưới quyền kiếm cho ít cơm cháy chia nhau ăn và rồi tất cả 23 người đều phải ngủ ngồi trong phòng. Tối đó ông thấy bộ đội kéo vào trong Dinh rất đông. Họ tấp nập nấu nướng ăn uống tắm rửa giặt dũ..
Tôi hỏi: "Có sự chống đối nào trong Dinh không?" Đáp: "Vì bị nhốt trong phòng nên tôi không biết những việc xẩy ra bên ngoài. Sau này tôi có nghe nói một trung úy trong đội cận vê bị bắn chết, không hiểu rõ nguyên do."
Tôi muốn biết về việc các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh được "họ" cho về khi nào, ông VQC cho biết buổi sáng ông về thì buổi chiều được tin các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh và những người khác cũng được về ngay buổi chiều hôm đó. Câu chuyện "Dinh Độc lập" tới đây coi như chấm dứt. Trước khi chia tay ra về, ông VQC như chợt nhớ ra nói: "Còn một chuyện này nữa, ngày 6 tháng Tư (1975) anh Võ Văn Cầm, (đại tá chánh văn phòng phủ Tổng thống, người trực tiếp nhận lệnh Tổng thống rồi truyền lại cho các viên chức hữu trách trong Dinh) nói với tôi: "Kể từ hôm nay và trong 3 ngày sắp tới, nếu có biến cố gì xảy ra, anh ráng điều động lực lượng phòng vệ Dinh cố thủ cho bằng được từ cổng Dinh vào tới trong Dinh độ nửa giờ. Sau đó tôi có người lo." Tôi thắc mắc: "Tại sao có chuyện đó? Anh Cầm nói có thể có đảo chánh và sẽ có lực lượng nhẩy dù và thiết giáp tiếp cứu."
(Không thấy có đảo chánh xẩy ra như chúng ta biết nhưng sáng ngày 8 tháng Tư viên phi công Nguyễn Thành Trung lái F5 thả bom Dinh Độc lập).
Trên đây là cuộc phỏng vấn cựu đại tá VQC, nguyên chánh võ phòng phủ Tổng thống thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Người viết nghe sao ghi lại vậy, không hề thêm bớt hay bình luận. Mong rằng bài viết này sẽ giúp ích phần nào cho các nhà viết sử và nghiên cứu sử về một ngày tháng đen tối bi thảm của Việt Nam Cộng Hòa. (TTH)

*Xe tăng Bắc Việt húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập trưa ngày 30 tháng 04 năm 1975. Photo AFP/Getty Images