Tuổi về chiều
Trần Bình Nam chuyển ngữ
Đêm trước ngày sinh nhật thứ 8 Lizzy, cô con gái cưng của tôi, nằm trên giường khóc. Lizzy nức nở: "Con không muốn 8 tuổi, con muốn mãi là 7 tuổi thôi!" Tôi dỗ Lizzy mẹ yêu con lắm, và ngày mai con sẽ có một ngày sinh nhật tuyệt vời. Lizzy dịu cơn khóc ngủ một giấc ngon lành.
Tôi hiểu Lizzy lo sợ mông lung với ý nghĩ lớn lên rồi sao, mặc dù chưa lớn lắm. Hồi còn nhỏ tôi ước ao chóng lớn để có quyền làm việc này việc nọ, nhưng trong thâm tâm vẫn thầm mong chẳng có gì thay đổi. Nói cách khác tôi không muốn trở thành một người lớn.
Tôi không nhớ tôi có ao ước cứ mãi 7 tuổi như Lizzy không, nhưng tôi nhớ tôi muốn cứ là con nít ở tuổi 12. Tôi bỗng sợ trở thành một cô gái 13 tuổi, trưởng thành và phải cạnh tranh. Tôi sẽ là một "teenager", không còn được tung tăng ngoài trời, leo trèo nghịch phá. Hằng ngày tôi phải chải tóc, đánh sáp lên môi và ôm điện thoại trả lời các bạn trai. Ngực tôi căng nở, tôi phải dùng nịt vú. Bọn con trai nghịch phá có thể thấy dây nịt hiện ra dưới lớp áo của tôi và chụp kéo để cùng cười với nhau nơi hành lang nhà trường. Tôi đã thấy cảnh tượng đó, và tôi sợ.
Tôi không muốn trở thành cô gái 13.
Khi bạn còn nhỏ, ai lớn tuổi hơn đều là kẻ trưởng thành. Năm 24 tuổi tôi dạy lớp 2 tại Readsboro, Vermont. Một cậu học trò nhỏ - Shawn- hỏi tôi có con không? Tôi trả lời không có. Shawn thơ ngây hỏi: "Vậy các con cô lớn và đi ở chỗ khác rồi sao?" Trong mắt Shawn tôi già lắm rồi.
Đúng là tôi chưa già, và đời sống tôi còn dài. Nhưng vào năm 26 tuổi tôi phảng phất thấy mình già như đã 30. Năm tôi 39 tuổi Jack Benny khen tôi sao trẻ mãi không già! Năm 45 tôi ngạc nhiên tự hỏi mình đã 45 rồi sao, ngày nào mới 12 thôi mà! Ngày sinh nhật 50 tuổi tôi vui vẻ thổi 50 ngọn đèn cầy nhỏ, nhưng trong lòng cảm thấy vị mặn của thời gian.
Năm nay tôi 60. Nhìn vào gương chưa thấy con số 60 trên khuôn mặt, nhưng suy tư của tôi có chiều thay đổi. Sự biến chuyển trong cơ thể vào tuổi 60 làm tôi chú ý và kinh ngạc, pha lẫn khó chịu và lo lắng, nhưng đằm hơn, không dằn vặt như lúc tôi còn trẻ. Nhiều lúc tôi buồn cười thấy trong một ngày biết bao lần quên không biết kính đeo mắt để đâu, và thay vì nghĩ đến sự sống bị thời gian đe dọa của mình tôi cảm thấy buồn khi nhớ đến bà con và bạn bè thân thiết đã ra đi.
Tôi không luyến tiếc tuổi xuân bằng nhớ chị Anne của tôi. Ước gì bà còn sống. Bà sẽ làm cho ý niệm già và chết trở nên xa xôi. Bà có thể than những nếp nhăn trên mặt, than có lúc không biết mình đang làm gì và than mắt cận thị, với cách thức hài hước và lạc quan của bà. Chúng tôi chắc hẵn sẽ nói chuyện với nhau hằng giờ mỗi ngày trên điện thoại về những chuyện lẩm cẩm như hay quên, da nhăn, mắt kém như chúng tôi từng nói chuyện về con cái và về mấy con chó trung thành của chúng tôi.
Chị Anne chết vì bệnh ung thư đã bao năm mà tôi vẫn nhớ thương như khi chị ấy mới qua đời. Tôi không lo nghĩ lắm đến chuyện tôi già, và tôi ước rằng chị Anne cũng từng không lo nghĩ đến già và chết như vậy. Có thể có những lý do khác làm cho con người chín chắn hơn khi về già, nhưng đối với tôi thì có thể tôi tha nhân và nhìn đời một cách thực tế.
Một hôm tôi lái xe đến thăm con gái đang có chuyện buồn phiền và căng thẳng. Một chiếc xe tải chạy nhanh xuýt húc vào xe tôi. Tôi lách xe ra khỏi lề đường hoàn hồn nhìn chiếc xe tải chạy vù qua trước mắt. Ý nghĩ đầu tiên của tôi không là: "Lạy Chúa, tôi còn sống sót." mà tôi nghĩ đến con gái tôi: "Cẩn thận một chút ông tài xế ơi. Trong hoàn cảnh này con gái tôi làm sao chịu đựng nổi khi được tin mẹ chết". Cảm xúc của tôi không còn hướng về mình. Sau khi hoàn hồn tôi vui thấy mình đã cảm xúc như vậy.
Tôi không biết tôi có còn lạc quan khi già hơn không. Nhưng tôi biết câu trả lời của một câu hỏi tôi thường hỏi chính tôi khi tôi 30 tuổi, 40 tuổi và 50 tuổi: Mình già vậy rồi sao?
Tôi là người may mắn vì tôi không sợ già. Già tốt hơn là không già như Maya Angelou đã nói: "Điều tôi học được về tuổi già khi lưng mỏi, chân chồn là muốn gì thì làm đi vì không còn nhiều thì giờ nữa."
Tôi chờ đợi tuổi 60 như khi tôi chờ đợi tuổi 30, 40 hay 50. Cái cảm giác của tôi chẳng khác gì khi tôi chợt thấy cái đồng hồ nơi chiếc xe mới của tôi chỉ 999 dặm, và từng giờ một nhích dần đến số 1000. Tôi biết cái đồng hồ của cơ thể tôi cũng dần nhích tới trước và một lúc nào đó sẽ đến số 6 và số 0 sau đó.
Tôi muốn có những lời khuyên cho tuổi 60. Tôi đi qua các tiệm sách nhìn những tựa sách như "Bây giờ chúng ta đã 60 tuổi rồi", hay "Tuổi 60 đã đến!", nhưng tôi lại không mua. Tôi nhớ mẹ tôi nói khi bà 75 tuổi: "Tuổi 60 chỉ là rạng đông của tuổi già," và tôi cảm thấy mình còn trẻ, tôi chỉ là người mới nhập cuộc, mặc dù khi nghe mẹ nói câu đó tôi tròn xoe đôi mắt ngạc nhiên. Tôi có thể đọc các cuốn sách kia xem như đọc chuyện của người khác chứ chưa phải là chuyện của mình.
Chưa. Tôi chưa sẵn sàng. Tôi chỉ mới đặt chân ở ngưỡng cửa. Tôi hiểu rằng cuộc hành trình này diễn ra suốt cuộc đời mình từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Tôi có thể nhìn cuộc đời trôi qua chẳng khác gì một người ngồi trên xe có quyền quan sát phong cảnh nhưng không phải là người tài xế.
Chiếc xe đã đưa tôi tới đây và tôi không thể bảo nó dừng lại. Tôi xem cuộc đời như một công việc càng ngày càng banh ra không dứt. Sự tiến hành của công việc có khi không làm tôi hài lòng, nhưng tôi nghĩ mình còn thì giờ để sửa chữa. Tôi thường nghĩ mình còn thì giờ để cao hơn, đẹp hơn, sắc sảo hơn, tế nhị hơn và ít nhút nhát hơn. Tôi sẽ đọc tất cả sách của Henry James, và của William. Tôi nghĩ một lúc nào đó tôi sẽ du lịch Hy Lạp, La Mã, Trung quốc. Có thể tôi sẽ hiểu biết Ợ không phải mọi chuyện trên đời Ợ nhưng ít nhất cũng nhiều gấp trăm lần kiến thức tôi đang có.
Thực tế đến tuổi 60 tôi vẫn không cao hơn và thông thái hơn. Tôi vẫn chưa đọc hết sách của Henry và William. Tôi vẫn chưa đi Hy Lạp, La Mã hay Trung quốc. Kiến thức tôi có thêm chút ít, nhưng không nhiều như tôi tưởng. Tôi chỉ bỏ được thói quen nói chuyện huyên thuyên giờ này qua giờ khác trên điện thoại hay tham dự các cuộc liên hoan nhảy nhót liên miên, và tôi giữ được thói viết thư hay đọc sách. Có thể tôi đã trở thành một người ở tuổi xế chiều, nhưng tôi không thấy tôi khác gì lắm lúc tôi ở tuổi 12. Lúc đó sao thì bây giờ tôi vẫn vậy, chỉ có già hơn.
Ở tuổi 60 tôi ý thức rằng cái chết sẽ đến với mọi người kể cả tôi, nhưng tôi nghĩ chắc còn lâu. Tôi hy vọng rằng khi cái chết đến với tôi tôi đã già lắm rồi để không còn bận tâm đến sống chết nữa. Không biết có được vậy không, nhưng tôi nghĩ là được. Tôi nghĩ còn lâu tôi mới chết, nên không có gì phải vội vàng.
Về chiều, tâm hồn tôi vương vấn nhớ thương những người đã khuất, chị tôi, mẹ tôi, bạn tôi, và tôi nghiệm ra rằng tình thương sau cái chết thật là sâu đậm. Sự thương nhớ ngự trị trong tâm hồn mình không phải một cách trừu tượng mà là một cách thiết thân trường cửu. Kinh nghiệm cá nhân cho tôi hiểu rằng không ai tránh khỏi mất mát những người thân nhưng sự mất mát mãi mãi hiện diện với tình thương và nhung nhớ.
Tôi ý thức rằng vui buồn có thể xẩy đến trong đời ta. Điều vui nhiều nếu chúng ta biết nhìn đời một cách lạc quan, và những điều vui đó còn mãi với chúng ta, và chuyện buồn không bao giờ tới nếu chúng ta không nhận nó. Nhưng tôi hiểu rằng chuyện buồn dù đẩy đi vẫn có thể tới bất cứ lúc nào. Sau một ngày làm việc bình an, trở về nhà bạn có thể nhận được một tin buồn to lớn xẩy ra cho một người thân thương của bạn. Đó là "cái chết hiện diện giữa cái sống" như đã ghi trong Kinh cầu nguyện.
Tôi ngạc nhiên nhận ra rằng triết lý sống của tôi là lúc nào tôi cũng chờ đợi chuyện vui. Tôi từng lái xe chạy quanh những con đường làng hiu hắt để nhìn một con cò xanh cất cánh bay lên giữa một cánh đồng hoang vắng trong một buổi chiều vàng. Thân cò giữa đôi cánh mỏng manh nhẹ nhàng vươn lên giữa bầu trời cao rộng thênh thang như thúc đẩy tôi hít một hơi thở thật dài, buồng phổi căng ra khoái trá.
Một hôm tôi bước vào một khu tập thể thao dành cho các cụ bà trên 80 hay 90 tuổi. Tôi thấy các cụ đang vịn vào lan can, hay dùng gậy chống lần từng bước cẩn thận xuống cầu thang. Tôi im lặng đứng lại nhường lối cho các cụ, lòng nghĩ đến người mẹ đã khuất của tôi và quãng đời khó khăn của bà chống chọi giúp chồng nuôi con qua hai cuộc chiến và một cuộc khủng hoảng kinh tế. Các cụ đã kinh qua một thế kỷ đầy khó khăn dọn đường tương lai dễ thở hơn cho con gái các cụ. Tôi cảm thấy tự hào và biết ơn các cụ. Rồi các cụ sẽ lần lượt ra đi để lại tôi đơn độc trong cõi đời nay. Tôi nhẹ nhàng im lặng bước đi lòng buồn man mác.
Bỗng nghe tiếng cười rộn rã của các cụ sau lưng. Hai bà cụ đi sau cười rũ rượi khi nghe bà cụ đi trước bình phẩm một điều gì đó. Không hiểu chuyện gì tôi cũng cười theo.
Việc gì cũng có thể xẩy đến trong đời ta. Có những việc bất ngờ, tàn bạo, kinh tởm, phi lý nhiều khi không thể hiểu được. Nhưng nói cho cùng sự sống là một cuốn phim đầy hoang dã xen kẽ với những thời khắc lý thú diễn ra từng ngày, từng giây trong cuộc sống.
Kính lão đắc thọ
Anh nói với tôi về chuyện Trương Lương, một nhân vật trong truyện Hán Sở Tranh Hùng, ý anh muốn nhắc tới một nhân vật có khả năng quân sự chính trị tài giỏi. Riêng tôi, mỗi lần nhắc tới tên ông, tôi chỉ nhớ một chuyện: Cuộc gặp gỡ của Trương Lương với Hoàng Thạch Công.
Truyện kể rằng ngày kia, khi còn thanh niên, Trương Lương đi đến một cây cầu. Ở đó anh thấy một ông lão. Chiếc dép của ông lão bỗng nhiên rớt ra khỏi chân. Ông ta nhìn chàng trai và nói: "Cầm lên đi vào chân cho ta". Trương Lương khá sửng sốt trước thái độ trịch thượng của ông già, nhưng ngẫm nghĩ sao chàng vẫn tiến tới cầm chiếc dép xỏ vào chân lại cho ông lão. Ông cụ gật gù bảo: "Thằng nhỏ này coi bộ dạy được", và nói tiếp: "Sáng sớm ngày mai đến đây gặp ta".
Sáng ngày mai Trương Lương đến cầu đã thấy ông lão đứng sẵn. Nhìn thấy anh ông cụ mắng: "Sao quá trễ!", nhưng vẫn nói thêm:"Sáng mai lại đây".
Ngày hôm sau, sớm tinh mơ, Trương Lương đã ra đi. Nhưng không ngờ ông lão đã đến cầu từ bao giờ. Lại mắng sao đến muộn và hẹn sang ngày kế tiếp.
Lần này Trương Lương nhất định không để hụt, anh đứng suốt đêm tại cây cầu, chờ đợi. Tờ mờ sáng hôm sau, ông già lững thững bước tới. Thấy Trương Lương ông lão tỏ ý hài lòng. Nói tên là Hoàng Thạch Công và trao cho anh binh thư để học. Nhờ những kỳ thư đó Trương Lương trở thành một vị tướng tài ba. Ông đã giúp Lưu Bang chiến thắng Hạng Vũ trong một cuộc chiến không cân sức để lập nên nhà Hán.
Câu chuyện Trương Lương và Hoàng Thạch Công là một tiêu biểu về sự khiêm cung của người trẻ tuổi đối với người thế hệ trước nếu muốn học được những kinh nghiệm quý báu của họ.
Có thể không nhiều người biết câu chuyện trên, nhưng có một câu thường nghe được nói đến, đó là: "Kính Lão Đắc Thọ" = Biết kính trọng người lớn tuổi sẽ được sống lâu. Người nói có khi kèm một nụ cười "miểng chai", hàm ý: thôi nhịn "lão" ấy tí đi, có mất mát gì, "kính lão đắc thọ" mà.
Với sự giáo dục theo lối Á Đông, tôi quen chắp tay cúi đầu chào các cụ già, quen nói dạ thưa với người lớn tuổi hơn, thậm chí quen im lặng khi nghe những lời vô lý của các vị cao niên. Bốn chữ "Kính Lão Đắc Thọ" trở thành một câu châm ngôn không cần bàn cãi: cứ kính trọng các cụ đi rồi "trời" thương (!?), trời sẽ cho mình thêm tí tuổi nữa.
Nói tới đây chắc chắn sẽ có "cụ" nhăn mặt bảo "Tầm bậy! Thế mà gọi là "kính" sao? Kính Lão là biết cái hay của người lớn, tìm học cái hay của người có kinh nghiệm (dĩ nhiên phải "già" mới đầy mình kinh nghiệm). Đắc Thọ là nhờ những kiến thức đó mà thoát hiểm, không sa vào cạm bẫy. Thế là sống lâu, thế là bạc đầu, thế là... thọ"
Hóa ra kính lão giúp sống lâu. Sống lâu lên lão làng. Theo thời gian tôi thấy mình bắt đầu thành... lão. Tôi đã từng kiên nhẫn học hỏi, đã đấu đá với đời, đã nhờ kinh nghiệm học được từ người khác nên thoát hiểm. Tôi thấy mình giờ đây cũng có một mớ kinh nghiệm lận lưng để "ai đó" phải "kính" mình, và nhất là, mình không cần quá "kính" ai nữa.
Bạn có hỏi tại sao tôi ngán chuyện "kính lão" không?
Ngán chứ. Ngán lắm lắm. Con người chỉ có một cái miệng nên hình như con người thích nói để bù lại sự "thiệt thòi" đó. Và dường như càng già người ta càng thích nói nhiều. Nếu gặp người nói dzài nói dzai nói dzở thì còn ngán bạo nữa. Tôi thấy mình không cần nhẫn nhịn nữa. "Lão" nào nói ba láp tôi "phập" liền, thọ với chẳng thọ. Trời có lấy bớt tuổi cứ việc lấy. Tôi cóc cần.
So với tôi anh thật "lão". Khoảng cách một con giáp (+/-) khá xa. Giọng văn email của tôi tự nhiên "lùn" hẳn xuống. Nhưng, ngay sau đó, bùng lên với những lý lẽ phản biện. Tôi thấy mình chăm chăm tìm những sơ hở của "đối phương" để "xuống ngón" (trên ki-bo). Bạn nói đó là biểu hiện của điều gì? Hội chứng "đấu võ bàn phím trên các diễn đàn ảo" chăng? hay là "ảo giác phụ nữ tự do bình đẳng" chăng?
Anh vẫn điềm tĩnh tiếp chuyện tôi, không ngại những câu hỏi vặn vẹo oái oăm, cũng "không thèm" tranh hơn thua. Anh chỉ nói về những kinh nghiệm anh đã trải qua, những con người anh đã gặp, những cảm giác khác nhau, có khi buồn, có khi vui, có khi chán nản ê chề, một cách giản dị, giản dị như bầu trời trong xanh, bùn đất đen đúa, tự sự vật nó như thế, không cần tô hồng, không cần bôi đen, không cần lên gân, không cần bắt bẻ (chi) nhau (em ơi!)
Tôi chợt nhận ra tôi quá mong "chứng tỏ" con người mình, quên mất một điều quan trọng là sự học không bao giờ ngừng = con người nên biết "kính lão" ngay cả lúc mình trở thành "lão" = nên tìm hiểu hơn bày tỏ vì còn quá nhiều điều mình chưa biết đến. Cạm bẫy cuộc đời muôn hình muôn vẻ, thoát hiểm ngày hôm qua chưa chắc không sa hầm ngày mai. Sự khiêm cung của tuổi trẻ không phải ở chỗ chắp tay vâng dạ mà là đừng đóng kín tầm nhìn bằng chính tự ái và quán tính của mình.
Anh nói với tôi: "Thật ra, sự khiêm tốn, cung kính chính là tột cùng của khôn ngoan". Các bạn nghĩ xem, với một người như vậy tôi có nên "kính" không? (nhưng dám cá anh không thích "được" tôn thành "lão" đâu nha).
Nhưng bạn cũng đừng tưởng tôi là người kiên nhẫn nhé. Khi nào mắc vào thế "kẹt": phải nghe những lời nói dzai nói dzài nói dzở, tôi sẽ lẩm bẩm trong đầu câu hát của TCS "môi người thôi những âm ba" = "Làm ơn xì-tóp cái miệng đi... cha nội" -" Không những "cha" mà còn "nội" nữa, ai có thể nói rằng tôi không... "kính lão" chứ.
Tiểu Xí Mụi @ Cam Thảo Đường
DCVOnline
Gương xưa tích cũ: Biết sửa mới hay
Mõ Sàigòn (SGT)
Thường Tung là thầy của Lão Tử. Một hôm ngồi ở hoa viên, bất chợt thấy trong người hơi oải liền cho gọi Lão Tử đến mà nói rằng:
- Con người dù có khổ cực sang giàu, hoặc khỏe mạnh ốm đau, thảy đều phải xuôi tay đi vào miên viễn. Nay ta thấy trong người mõi mệt, tâm trí bất an. Ắt chữ xa chia sẽ về trong sớm tối.
Lão Tử nghe vậy mới trố mắt ra mà quan sát, thời thấy mắt thầy bớt lộ tinh anh, da dẻ có phần xanh mướt, má lại hóp vào, liền rúng động tâm can. Hoảng hốt nói:
- Đã làm đổ nước ra nhà thì phải đi lau. Chớ không thể khoanh tay mà đứng ngó. Nay thầy đang tâm nửa đường dứt bỏ, mà không kể số đến đám môn đệ chung quanh, thì hổng biết có là... hiền nhân không nữa!
Thường Tung nhìn ra cuối sân, thấy lá bàng rơi tá lả theo chiều gió, bèn cảm nỗi quạnh hiu. Rầu lo nói:
- Học phí các ngươi ta đã nhận. Quà lễ ta đã thâu, mà kiến thức của ta chưa thể đong đầy cho các ngươi được, thì trước là hổ thẹn với bản thân, sau lỡ các ngươi đòi lại thì lấy gì cho hiền thê sinh sống!
Rồi gắng gượng nói rằng:
- Uống nước chừa cặn. Chớ cạn tàu ráo máng với nhau thì thiệt là không phải. Thôi được, bây giờ ta nhắc lại với ngươi, rồi ngươi truyền lại cho chúng bạn đồng môn, thì chuyện vướng mắc sẽ thông hoài thông tới.
Đoạn, hắng giọng hỏi:
- Qua chỗ cố hương mà xuống xe, là nghĩa làm sao?
Lão Tử thưa:
- Có nghĩa là không quên nơi quê cha đất tổ, bởi quê hương là nơi cha ông ở đấy, cũng là nơi mình mập mạnh lớn lên, nên không thể gặp... chút quê hương mà không tỏ lòng tôn kính.
Thường Tung thở ra một cái, rồi lắc đầu nói:
- Đồng tiền có hai mặt, mà mặt nào cũng xài được. Ngươi mới bàn mặt ngoài. Còn mặt ở phía sau. Sao hổng bàn luôn cho tới?
Lão Tử trố mắt đáp:
- Đệ Tử thật thà hổng biết. Xin ân sư khai mở cho.
Lúc ấy, Thường Tung mới nhỏ giọng mà rằng:
- Bày tỏ lòng yêu mến quê hương là chuyện nhỏ, nhưng khoe được chiếc xe với mấy thằng cùng quê mới là chuyện lớn. Ngươi theo ta bao ngày, chứng kiến bao nhiêu chuyện, mà lẽ được thua vẫn ù ù cạc cạc, là cớ làm sao?
Lão Tử đưa tay ôm lấy đầu. Hoảng hốt thưa:
- Đệ tử trong lúc sợ cảnh chia ly, nên bỗng quên mất điều hệ trọng. Thiệt là đáng trách!
Thường Tung thấy vẻ phục thiện của Lão Tử hiện tràn trên nét mặt, bèn dịu mối tâm tư. Từ tốn nói:
- Tấn về nội, thối về ngoại. Tuy rằng có sáu chữ ít oi, nhưng đạo lý làm người... nó nằm chơi trong đó.
Rồi chậm rãi hỏi:
- Qua chỗ có cây cao thì phải bước nhanh nhanh, là nghĩa làm sao?
Lão Tử thưa:
- Có nghĩa là kính trọng người già cả, cao niên, bởi vì cây cao thường thấy ở miếu xã đình làng. Kính trọng miếu xã đình làng, là nhớ đến công lao khai phá của tiền nhân mà sinh lòng ái quốc. Người mà có lòng ái quốc thì đáng gọi là người có bản lĩnh. Trước là vẹn chữ giang sơn, sau đối với thê nhi cũng trào tuôn son sắt.
Thường Tung nghe vậy, mặt bỗng xụ xuống một đống. Bực bội gắt:
- Người ta sống được là nhờ có ngày có đêm. Còn ngươi. Chỉ thấy có ngày, là cớ làm sao?
Lão Tử thất sắc đáp:
- Đệ tử trả đúng bài thầy dạy. Sao lại cho sai?
Thường Tung thở hắt ra một hơi mấy cái, rồi chán nản đáp:
- Ngươi học một biết một, thì suốt đời làm lính. Học một biết hai, thì sẽ được làm quan. Còn học một biết hơn hai, thì áo mão công danh thiệt hổng biết bao nhiêu mà tính. Ta có dạy ngươi điều đó thật, nhưng đó là những điều ta dạy trên bàn, còn... thâm sâu ở dưới bàn ngươi lại không nhớ, thì thiệt khiến cho ta ôm nhiều thất vọng. Khó yên lòng nhắm mắt!
Rồi uất ức nói:
- Thời tiết thay đổi. Khí hậu bất thường. Bão lụt liên miên. Nếu đi dưới cây cao bóng cả mà không chịu bước cho nhanh thì sẽ có ngày không thấy mặt vợ con. Chốn tuyền đài hối tiếc.
Lão Tử nghệch mặt ra một chút rồi sửng sốt hỏi:
- Đi qua miếu xã đình làng mà bước vội, thì làm sao nhớ đến công khai phá của tổ tiên mà sinh lòng ái quốc. Chẳng lạ lắm ư?
Thường Tung nhếch mép đáp:
- Bất luận ngươi muốn cái gì, thì phải giữ được tấm thân ngươi mới tìm muốn được. Chớ bị cây trốc gốc hoặc cành to rơi trúng, thời yêu nước được hay sao? Lại nữa, lòng ái quốc tuy là đáng quý, nhưng nếu bị người ta lợi dụng, để mưu lợi cá nhân, thì hông biết ở dưới xa tổ tiên có mừng reo không nữa?
Đoạn Thường Tung há miệng cho Lão Tử coi mà hỏi rằng:
- Lưỡi ta còn không?
Lão Tử mau mắn thưa:
- Dạ còn!
Thường Tung lại há miệng cho Lão Tử coi và hỏi rằng:
- Răng ta còn không?
Lão Tử rụt rè thưa:
- Rụng hết. Tóm tắt là chẳng còn em nào hết cả.
Thường Tung nghiêm mặt hỏi:
- Thế ngươi có hiểu tại sao như vậy không?
Lão Tử lẹ làng đáp:
- Lưỡi còn là do ở lưỡi mềm. Răng rụng hết là do răng quá cứng. Có phải vậy chăng?
Thường Tung gật gật đáp:
-Lạt mềm buộc chặt. Đại để lối cư xử ở đời đều từ đó mà suy ra cả. Ngươi thấu được điều này, thì coi như ta không còn gì để dạy nhà ngươi nữa.
Lão Tử nhìn thầy, thấy Thường Tung đã xuống sắc hẳn, thì biết sắp biệt ly, liền lo âu nói:
- Thầy dạy lạt mềm buộc chặt, nhưng không phải lúc nào cũng có lạt mềm cho xài. Trong trường hợp không có cái gì để buộc, đệ tử phải làm sao?
Thường Tung yếu ớt đáp:
- Không có thì vay mượn. Không mượn được thì... chôm. Tóm tắt là phải vượt qua mọi nghịch cảnh đang bày ra trước mắt.
Lão Tử biết là thầy đã mệt. Trong bụng muốn dừng, nhưng sự tò mò cứ ào xô thúc tới, nên vọt miệng hỏi rằng:
- Thầy. Trên thông hiểu thiên văn, dưới am tường địa lý, giữa thấu hiểu lời dạy của Thánh nhân, mà vẫn vất vả vì chén cơm manh áo, là nghĩa làm sao?
Thường Tung nghe câu hỏi xoáy vào nỗi oan khiên của mình, toan từ chối cho yên, nhưng khi nghĩ đến âm dương đôi đàng cách biệt, bèn cúi mặt thở ra. Buồn hiu nói:
- Đời ta trôi qua. Bây giờ hồi tưởng lại, ta vẫn nghĩ: Cuộc đời không có lạc thú. Không có cái gì cảm thấy thích, tất cả chỉ là con số không - dù ta có tận lực kiếm thêm - vẫn nghèo y như rứa, bởi cái ta muốn thì không có được, còn cái không muốn lại mang nặng trên lưng. Cuộc đời con người ta ngẫm cho kỹ thời giống như bài ba lá. Tưởng đỏ hóa đen. Tưởng chắc cú hóa thành xuôi xị.
Lão Tử, sau khi thấu hiểu phần nào tâm sự của thầy, lòng chưa cho là đủ, liền hấp tấp nói:
- Vậy lời dạy của Thánh nhân chẳng giúp được gì cho thầy hay sao?
Thường Tung uể oải đáp:
- Thánh nhân dạy: Quân tử vụ ư nghĩa. Tiểu nhân vụ ư lợi. Cả đời ta tự cho mình là quân tử, nên vì nghĩa mà làm. Mãi mới nhận ra tình nghĩa không trả được... "biu", thì cũng là lúc tóc mang nhiều sợi bạc. Sửa lại thì sợ miệng thế cười chê, mà không sửa thì e mỗi ngày thêm mỗi tối.
Lão Tử nghe thầy giải bày như vậy, bụng dạ bỗng chợt lo, bèn ưu tư nói:
- Vậy theo ý của thầy. Đệ tử phải làm sao?
Thường Tung nhỏ giọng đáp:
- Muốn cơ thể được mạnh khỏe thì ăn uống điều độ, bia rượu vừa phải, thức ngủ đề huề. Chữ Thánh nhân cũng không ra ngoài nguyên tắc đó.
Lão Tử nghe đến đó cảm như tim ngừng đâp, bèn ấp úng nói:
- Vậy thì đạo Thánh hiền chỉ xài theo... liều lượng thôi sao?
Thường Tung gắng sức đáp:
- Cây thẳng thì bị đốn trước, còn cong cong lại có thể sống thọ đến ngàn năm. Con người vốn nhân vô thập toàn, lại chuộng thất tình lục dục, nên thích làm điều trái hơn là điều phải. Thích thỏa mãn những mong muốn của bản thân, bất kể những mong muốn đó có gây tổn thương đến tha nhân cũng chẳng nhằm chi hết ráo. Nay ngươi lại muốn đem lễ nghĩa trí tín ra làm quà, thì trước là không theo kịp bước tiến của xã hội văn minh, sau nghèo túng muôn năm sẽ ôm chầm đeo dính!
Rồi nhìn thẳng vào mắt của Lão Tử. Mạnh miệng nói rằng:
- Về xin tiền vợ đi buôn mà kiếm sống. Còn lời của Thánh nhân thì cất kín một bên, mới là kẻ thức thời đó vậy.
Lúc Lão Tử đi rồi, vợ của Thường Tung là Uyển thị từ trong bếp chạy ra. Giật giọng nói:
- Thiếp ngồi bắt bánh bột lọc, ngẫu nhiên nhìn qua khe cửa, thấy chàng khuyên đệ tử bỏ bớt việc rao truyền Chân lý, là nghĩa làm sao?
Thường Tung yếu ớt đáp:
- Lúc nàng về với ta. Ta nghèo khổ không đủ tự lập. May nhờ nàng liều mạng bán xôi, mà đời ta có ngày no đủ, Nay sửa soạn ra đi, ta không đành lòng thấy đứa đệ tử thân yêu bị cái nghèo vây đánh, nên tình thật tỏ bày, với hy vọng nó hiểu được ra, sẽ bớt ngày... tắt bếp.
|