banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

(tiếp theo kỳ trước)

 

Tư Ếch không ngờ cơ thể mình đang bước vào thời kỳ: Thoái trào của tuổi đời, không bao giờ tìm lại cái cao trào của tuổi trẻ. Tức là cuộc sống con người như một dòng sông, nước đổ ra biển, dòng nước cứ trôi mãi và không thể đổ ngược dòng trở về chốn cũ. Nhưng nước khi đổ ra biển, bốc hơi thành mây để tạo thành cơn mưa, nước rớt xuống nơi xuất phát nhưng dưới dạng khác rồi. Đời người không thể trở lại như vật chất có thể được Recycle, đời người giống như ngày và đêm xảy ra trong chớp mắt: bình minh, trưa, chiều và tối, cứ thế vần xoay theo nhịp thở của vũ trụ. Tuổi càng về chiều, cuộc đời càng nhiều kinh nghiệm, suy tư, thì ngày trở về với đất mẹ cũng không còn bao xa nữa. Con người sinh ra trên mặt đất, lúc chết cũng trở về với đất, trái đất là nơi sinh và cũng là nơi diệt. Không có vật nào trường tồn trên trái đất, sông có thể mất núi có thể tan, ruộng dâu hóa thành biển cả là thường. Nhiều niên đại đi qua, biết bao sinh vật biến mất như loài khủng long, con người cũng không thể lột da sống mãi. Trong cái sống đã có chứa mầm sự chết, món đồ tự nó có mầm hủy diệt theo thời gian, thì trong cơ thể con người luôn có mầm hủy hoại, tế bào cũng có chu kỳ: sinh, lớn, phát triển, tiêu diệt. Giống như kiếp người có bốn cái khổ: sanh lão bịnh tử.
Tuy nhiên sự sống là mầm bất tận của nhân loại, hết thời đại khủng long thì tới thời đại voi, cá, chim... đời người nầy hết, có đời sau tấn lên tiếp tục duy trì sự sống trên trái đất. Mỗi loài đều có ích lợi đóng góp cho đất mẹ, không phải vi trùng đều tác hại, có loại siêu sinh vật giúp ích cho trái đất qua sự sinh thái, lên men, hủy diệt những thứ không có ích lợi như phân hủy rác thành chất bổ dưỡng cho cây. Ngay cả những loại vi trùng gây bịnh cũng giúp cho loài người biết giữ vệ sinh biết cách phòng ngừa, ăn ở hợp vệ sinh giúp con người phát triển, nghiên cứu cách trị. Đất là người mẹ vĩ đại, chứa đựng tất cả: loài người, vật, thực vật, núi sông... đều có trên mặt đất, lúc hủy diệt cũng không thể vượt khỏi đất. Từ đất có chứa quặng mỏ để con người chế xe, lấy xăng, làm phi thuyền lên thám hiểm không gian... núi sông, cây cỏ, sinh vật không thể tồn tại mãi, mỗi loài đều có cái giới hạn để tồn tại. Mọi vật sinh ra từ đất và khi hủy hoại, cũng phải trở về nơi xuất phát, lá rụng về cội là điều đương nhiên, nhà bác học Pháp Newton tìm ra thuyết trọng lượng để xác minh là: trái đất có sức hút, vật thể không thể rơi ngược lên trời. Con người có tổ có tông, không phải cái thứ vô thần, vô thần, vô tôn giáo, vô tổ quốc như lũ Cộng Sản. Người Cộng Sản có hai thứ Tam: tam cùng và tam vô. Lúc yếu thế thì áp dụng tam cùng là: cùng ăn, cùng ở, cùng làm để vô nhà dân kiếm ăn, nằm vùng, thu phục nhân tâm. Tư Ếch chợt nhớ tới chuyện con cua đồng và con Ếch để đem so sánh với thủ đoạn vô cùng gian manh của người Cộng Sản, không bao giờ nghe, tin và sống chung với bọn người xảo trá, lưa manh, ác độc nầy, có ngày mang họa vào thân. Loài Ếch trong đồng ruộng rất tinh ranh, khi mưa đổ xuống có đầy đủ thức ăn thì nó sống hòa hợp hòa giải với các loài khác, không có sự tranh chấp phân chia giai cấp giữa các loài. Nhưng khi hạn khô, các loài vật sống duới nước đều phải tự mưu sinh thoát hiểm: cá rô, trê, lóc, lươn... liều mạng lóc lên bờ đi tìm nơi có nước để tạm dung thân trong thời buổi khó khăn. Trong đó có loài cua đồng, nó cố gắng đào cái hang nằm sâu trong lòng đất, sống thoi thóp chờ mưa. Loài Ếch đâu cần đi tìm đâu xa, cứ nhào vô hang cua đồng sống tạm trong tình hữu nghị giai đoạn, hòa hợp hòa giải thân thương như anh em một nhà. Cua và Ếch sống cộng hưởng, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi để tồn tại, cua nhả ra bọt, Ếch uống nước bọt đó cầm hơi, khi những cơn mưa đầu mùa đổ xuống, mọi sinh vật trong đồng hồi sinh, Ếch ta cũng hân hoan lắm. Tuy nhiên, trước khi rời hang cua, Ếch bèn đền ơn chủ nhà bằng cách ăn thịt cua đồng liền tức khắc, lấy sức khỏe trước khi rời nơi tạm dung. Chính sách tam cùng thật nguy hiểm như chuyện con Ếch và cua đồng vậy. Những cán bộ Cộng Sản vào nhà dân, nhứt là dân có của, cùng ăn, ở, làm như con cháu, ngọt xớt gọi gia chủ là: anh, chị, chú, bác, cô dì... thân thương không thua gì thân nhân ruột thịt. Nhờ vậy mà biết hết tất cả những bí mật trong nhà. Vừa nuôi quân, vừa làm công tác tình báo theo dõi nhân dân. Sau khi nắm được chính quyền, chính những nhà nào có chứa Việt Cộng đều mang họa, chúng biết bồ lúa có bao nhiêu giạ, vàng cất ở đâu, gia đình nầy thuộc thành phần ác ôn, nguy hiểm, có thích Cộng Sản hay không? Cho nên trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào năm 1956, nhiều gia đình địa chủ từng có công đóng góp tiền của, vàng, cho con em đi theo Việt Minh đánh Tây, tham gia nhiều trận đánh ác liệt, kể cả trận Điện Biên Phủ lập được nhiều chiến công, góp nhiều xương máu cho nước. Những gia đình có công với đảng, nhưng được ngầm ghi vô sổ bìa đen, ngoài miệng ngọt ngào gọi là: địa chủ khai minh tiến bộ, phú nông yêu nước, tư sản dân tộc, trí thức yêu nước... Nhưng sau cùng, chính họ lại là những nạn nhân đầu tiên của chế độ ác ôn Cộng Sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo sau hiệp định Geneve 1954. Ngày nay, thủ đoạn gian manh lừa đảo của Việt Cộng khó lường gạt được, ai cũng biết tập đoàn Cộng Sản chỉ là đám ăn cướp, có chính quyền, có triết học Marx để biện minh cho hành vi cướp của giết người. Tức Cộng Sản là một đảng cướp nguy hiểm, tàn bạo nhất trong số các băng đảng cướp trên trái đất. Các băng đảng cướp tội phạm đều sống ngoài vòng pháp luật trốn tránh cảnh sát. Nhưng đảng cướp Cộng Sản lại công khai, làm ra luật rừng để hợp pháp hóa hành vi ăn cướp, giết người, được thông qua bằng quốc hội bù nhìn, biến người lương thiện thành tội phạm, bị tù đày nghiệt ngã trong các trại tù, ngụy danh là trại cải tạo. Đảng Cộng Sản thật là nguy hiểm, vừa ăn cướp vừa lên mặt dạy đời qua cái gọi là đạo đức cách mạng, yêu nước gắn liền với xã hội chủ nghĩa, hù dọa nạn nhân, bắt nạn nhân và gia đình làm nô lệ suốt đời. Tại Trung Quốc và Liên Sô cũ, mấy thế hệ bị trù dập làm nô lệ cho đảng từ thời ông nội cho đến con cháu, vẫn còn bị trù dập vì cái lý lịch ba đời. Cho nên ngày nào còn lá cờ đỏ trên thế giới là ngày ấy nhân loại còn đau khổ, còn đảng cướp Cộng Sản.
Khi mạnh áp dụng tam vô, triệt hạ tôn giáo, dâng tổ quốc cho ngoại bang và không bao giờ tin Trời Phật Chúa. Người Cộng Sản hành động tùy theo tình trạng của họ, lúc yếu thì co rút mềm mỏng để tồn tại, gọi là thoái trào cách mạng. Khi mạnh gọi là cao trào cách mạng, là lúc cái nanh vuốt loài quỷ đỏ lòi ra, hút máu dân, triệt hạ tất cả những đối tượng mà đảng coi như kẻ thù.
Những triệu chứng mệt mỏi khiến Tư Ếch cảm thấy buồn cho kiếp người, nhưng phải sống cho ra sống để xứng đáng là đứa con hiền của đất mẹ, biết yêu nơi mình sinh ra và lớn lên, đối với gia đình là người chồng tốt, là người lớn dễ thương biết sống. Những người biết sống thường yêu quí cuộc sống của chính mình, gia đình, xã hội, nhân loại... còn những người không biết sống, chỉ là phường ích kỷ, hẹp hòi, chỉ biết mình mà không biết người: Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi, họ sống mà làm hại cho người khác thì không đáng làm người. Đảng Cộng Sản là tập đoàn không bao giờ biết sống, họ khinh thường sự sống người khác, bắt dân làm nô lệ, cướp bóc, tàn sát người hàng loạt, sống như người Cộng Sản là không đáng sống, không xứng đáng làm người, nên họ không dám nhận là con người là đúng. Người Cộng Sản sợ làm người, họ tự giác tự phê, tự nhận mình là con cháu của loài Khỉ. Đó là sự thật thà khai báo duy nhất của người Cộng Sản, còn lại tất cả đều là dối trá. Do tự nhận là con cháu loài khỉ, nên người Cộng Sản không bao giờ chấp nhận loài người văn minh, không nhận nguồn gốc tổ tiên, từ đó không coi tổ tiên lịch sử là cái gì cả. Thần tượng của họ chỉ là những con khỉ Marx, Lenin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông... Thời đại Cộng Sản là thời Khỉ lên làm người, khỉ bắt người làm nô lệ, khỉ giết người, cướp của, cố đưa loài người trở thành khỉ qua các trại tù cải tạo...
Nhìn những nét bơ phờ trên gương mặt chồng, bà Uyên biết được cái máy cũ đã hao mòn nếu không biết dưỡng, vô dầu nhớt, bảo trì thường trực, ắt khó chạy được lâu, đó là định luật hủy thể của mọi vật. Quay sang nói với vợ chồng đứa cháu:
- Dì cũng khát nước, hay là mình tới cái quán ngồi xả hơi một lát để lấy sức đi nữa.
Nhìn đồng hồ đeo tay, Yến đáp:
- Mới có 1 giờ trưa, mình có nhiều thời giờ mà, ở đây mở cửa tới 10 giờ tối.
Cả gia đình thả bộ tới cái bàn trống, Yến chạy đi mua nước, bà Uyên lục giỏ lấy bánh mì thịt ra mời Đức:
- Cháu ăn thêm bánh mì, mình đi chơi tới tối.
Đức lấy một lát mỏng ăn:
- Nhờ đem theo bánh mì, chớ ở đây họ bán đồ ăn mắc lắm, một người ăn cũng tốn cả chục đô.
Yến về tới mang theo 4 lon nước Pepsi lạnh:
- Dì dượng uống cho khỏe.
Gió mát từ bến tàu thổi nhè nhẹ luồn vào khu quán, mọi người cảm thấy dễ chịu, Tư Ếch lấy tấm giấy thấm nước sẵn lau sơ mặt, thấy khoan khoái trong lòng:
- Tui thấy khỏe rồi đa, có đi tới mơi cũng không ngán.
Bà Uyên cảm thấy vui khi chồng trút cơn mệt mỏi chỉ trong thời gian ngắn:
- Thôi mình đi chỗ khác.
Thả bộ tới khu mô tả về văn minh nhân loại hiện đại có tên là NASA, ngoài những biểu tượng về khoa học không gian, nơi đây còn có thiết kế những tảng đá, bằng thủy tinh nhiều hình dạng kỳ khôi, ngỡ mình như lạc vào một hành tinh nào đó. Công viên hành tinh có nhiều người thăm viếng, cũng có khu quán bán đồ ăn, lưu niệm (nhưng giá cao hơn ở ngoài gấp mấy lần). Đứng nhìn những tuyệt tác do óc tưởng tượng của loài người, Tư Ếch thán phục cho bộ óc con người, họ nghĩ ra những biểu tượng về hành tinh nào đó không biết có thiệt hay không? Bất chợt những chuyện dĩa bay, người vũ trụ hiện ra trong đầu, có đọc báo chí xem hình chụp, có nhân chứng về dĩa bay, người các hành tinh khác thăm viếng trái đất, rồi tự hỏi:
- Nếu không có thiệt, sao có bằng chứng? Như vậy ở trong vũ trụ có muôn ngàn hành tinh khác, cũng có sự sống như con người trên trái đất. Không phải chỉ có con người như mình.
Bao nhiêu cảnh sắc đập vào mắt, thêm vào những suy tư, tài liệu, tin tức, Tư Ếch tin là phải có người hành tinh, có khói mới có lửa mà, rõ ràng có nhiều người thấy tận mắt người từ các hành tinh khác tới trái đất bằng dĩa bay, họ còn chụp hình quay phim những bức hình được hệ thống truyền thông phổ biến rộng rãi trên toàn cầu... bà Uyên chợt kéo tay chồng:
- Mình đi vô đây coi cái nầy nè.
Tư Ếch giựt mình trở về với thực tại sau những suy nghĩ vẩn vơ, đúng là ngoại cảnh tác động sâu sắc vào tâm hồn. Ai nói cảnh vật không tác động vào tâm lý, suy tư của con người đâu? Thi hào Nguyễn Du thời nhà Nguyễn nói về đời sống nội tâm của con người, như tâm trạng nàng kiều: Người buồn thì cảnh có vui bao giờ? Điều nầy cũng không có gì là sai, nhưng ông tiến sĩ môn chính trị học miền Nam, tốt nghiệp ở trường đại học danh tiếng Sorbone Pháp Quốc, là Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, là nhân sĩ, trí thức, nhà ái quốc, chính trị gia lỗi lạc của miền Nam đã nhận quan niệm địa lý ảnh hưởng đến tư tưởng con người, ông dẫn chứng như Khổng Giáo phát xuất từ con sông Dương Tử, nước chảy xiết thường gây ra nạn lụt, nên con người lăn xả vào việc trị thủy, từ đó Khổng Giáo có tư tưởng nhập thế. Trái lại con sông Hoàng Hà, nước chảy êm đềm, sinh ra triết học xuất thế Lão Tử. Nhìn lại nước Việt Nam có ba miền, dân miền Bắc và Trung vì đất ít, sỏi đá nhiều, nên đa số ra sức làm việc cực nhọc:
Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi,
Mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn.
Trời hành cơn lụt mỗi năm...
Suốt đời cứ lo đấu tranh chống thiên tai, làm việc cực khổ nên họ thường cần cù hơn dân miền Nam, là vựa lúa lớn đất đai phì nhiêu, không cần làm nhiều để lo cho ngày mai. Cứ làm tà tà, không sợ bị đói rét hành hạ, nhưng đôi khi cũng có cái nghèo đáng yêu là những giải trí cho cuộc sống, khi cơm no áo mặc đầy đủ, con người thường mơ ước đến những tiện nghi vật chất khác:
Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi,
Mùa đông thiếu thuốc, hè thời thiếu bia.
Cho nên cảnh vật có khi ảnh hưởng vào đời sống, tâm lý, tiếng nói... mỗi vùng có giọng nói khác nhau cũng là do phong thổ, nước uống. Trường hợp ở nước Việt Nam cũng không thoát khỏi sự ảnh hưởng của phong thổ, dù dân chúng từ Bắc chí Nam đều nói cùng một thứ tiếng, nhưng giọng nói khác nhau, chưa kể tới những thổ ngữ mà chỉ có người địa phương mới hiểu nổi mà thôi. Mãi bị ám ảnh về người hành tinh sau khi thấy những biểu tượng sừng sững trước mắt, bà Uyên đâu có hiểu được những gì mà chồng đang tưởng tượng, nên kéo tay.
- Cái gì vậy em?
- Con Yến đang xếp hàng chờ lấy vé lên thăm vũ trụ. Nó lấy vé luôn cho mình nữa tới lẹ lên, chờ vô dàn phóng phi thuyền không gian.
Tư Ếch hỏi:
- Mình lên phi thuyền hả?
- Ừ, lên phi thuyền không gian, đi thử một chuyến cho biết vũ trụ bao la.
Nói xong chỉ tay lên một building cao, trên đó có dấu hiệu NASA và hình phi thuyền.
Tư Ếch mỉm cười, vừa đi vừa nói:
- Vụ lên vũ trụ nầy làm tui nhớ lại hồi đó ở Việt nam có vụ trung tá Phạm Tuân của nhà nước Cộng Sản Việt Nam được quan thầy Nga Sô cho lên con tàu vũ trụ lần đầu tiên trong lịch sử thành lập đảng Cộng Sản, họ ca hết mức.
Bà Uyên cũng biết:
- Hồi đó em có đọc báo, nghe đài phát thanh, truyền hình nói về trung tá bộ đội Cộng Sản ngành Không Quân Phạm Tuân, người được Liên Sô cho tháp tùng với phi hành đoàn Nga phóng lên không gian oai lắm, Việt Cộng ca là anh hùng.
Tư Ếch cười hí hí:
- Trời ơi, vụ lên không gian đó là trò cười cho thế giới, vậy mà nhà thơ Tố Hữu đặt thơ ca.
Quay sang vợ hỏi:
- Em có biết bài thơ đó không?
Bà Uyên lắc đầu:
- Em ghét tất cả những nhà thơ, nhà văn, nhà báo Cộng Sản. Họ chỉ là đám văn nô, thi nô, uốn cong ngòi viết để phục vụ cho đảng mà thôi, thứ đồ tồi bán rẻ lương tâm cho kẻ bất lương, cam tâm làm cái loa tuyên truyền cho kẻ ác ôn. Một số nhà thơ tiền chiến như Xuân Diệu, Huy Cận... theo đảng, trở thành cái loa tuyên truyền. Nhà văn Nguyễn Tuân cũng trở thành văn nô, viết văn để được lãnh chế độ lương thực. Ông nầy có cuốn sách: Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, em đọc qua chán quá, không thể ngờ nhà văn lừng danh tùy bút vang bóng một thời, sau khi theo Cộng Sản, trở thành công cụ tệ hại như vậy, đọc quyển đó thấy văn phong rặc mùi tuyên truyền Cộng Sản nội dung không ra gì, chính những quyển sách nầy đã chôn vùi cả sự nghiệp văn chương của ông ta. Riêng cái ông hung thần thơ Tố Hữu thì hết chỗ nói, là người chịu trách nhiệm về sự khủng bô tàn bạo vụ Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc. Thơ của Tố Hữu và lời dạy Hồ Chí Minh được đem vô trường bắt bình giảng, họ nhồi xọ hoài con nít trở thành ngu si đần độn, giết chết nhiều thế hệ, bởi lẽ đó mà nhiều thế hệ mầm non sau nầy trở nên đần độn, ngu si, không biết nhiều về khoa học kỹ thuật, nhưng giỏi về môn chính trị học một chiều của chủ nghĩa Marx Lenin, là thế hệ người máy chỉ chuyên phục vụ cho tập đoàn đảng trị. Bọn thầy cô giáo nầy đáng trách, đang đầu độc nhiều thế hệ trẻ được Việt Cộng gọi là Kỷ Sư tầm hồn... Em e ngại mấy cô thầy giáo dạy Việt ngữ cho con cháu người tỵ nạn hải ngoại, họ hồ hởi phấn khởi về Việt Nam tu nghiệp. Chắc chắn các thầy cô tu nghiệp mang nộc độc Cộng Sản qua truyền cho thế hệ trẻ, mình phải cẩn thận không khéo con cháu sau nầy nghe theo Cộng Sản, bị lừa gạt nữa.
(xem tiếp kỳ sau)