30-04-1975: Máu và nước mắt
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
Một lần nữa, ngày Quốc Hận 30- 04 lại đến. Ngày tang thương đã trùm phủ xuống quê hương. Ngày nước Viêt Nam Cộng Hòa rơi vào tay giặc thù cộng sản.
Nhưng riêng thành phố Đà Nẵng quê hương tôi vì nhờ có "công lao" của "lực lượng hòa hợp hòa giải" đã đưa từng đoàn xe ra tận vùng giặc đề đón quân cướp nước tàn bạo ấy vào thành phố sớm hơn một tháng. Ngày 29/03/1975.
Từ ngày vượt biển ra hải ngoại đến nay, tôi vẫn hằng mong đợi môt bài viết thật trung thực và đầy đủ về những cuộc bạo loạn, cũng như những ngày cuối cùng của thành phố Đà Nẵng trước khi mất nước. Song, cho đến giờ này tôi vẫn chưa hề thấy, nên tôi, một phụ nữ không biết gì về văn chương lại thấp kém về mọi mặt. Nhưng, bởi mấy chục năm qua lòng tôi vẫn xót đau, khi những hình ảnh của những người đã bị chết oan, trong đó có những bé thơ, cứ hiện về như trách móc bảo tôi hãy lên tiếng. Vì thế, tôi phải hết sức cố gắng để viết lại những gì mà chính tôi đã mắt thấy, tai nghe, những điều mà có rất nhiều người đã biết, nhưng vì một lẽ nào đó nên tất cả đều im lặng. Họ không muốn hay không dám nói.
Ngày 20-03-1975
Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản vì ở những tỉnh đó VC đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.
Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của VC bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xảy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.
Ngày 29-03-1975
Tôi vẫn nhớ mãi về buổi sáng 29/03/1975, lúc ấy, vì phải đi tìm người thân bị thất lạc nên tôi có mặt tại ngã ba Huế, nhìn kim đồng hồ tay đương chỉ đúng tám giờ, khi nghe những tiếng động ồn ào, đồng bào mở cửa nhìn ra. Tôi cùng đồng bào đều nhìn thấy trên đường phố, từng đoàn xe đủ loại, xe Jeep, xe chở khách, xe nhà binh của các đơn vị quân sự bỏ lại. Trên các đầu xe, tất cả đều có cắm song song một lá cờ ngũ sắc của Phật giáo và một lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng của "Mặt trận Giải phóng miền Nam" tất cả đều có gắn loa phóng thanh đang ầm ầm tiến ra hai ngã Hòa Mỹ và Phước Tường.
Đến 13 giờ cùng ngày, cả thành phố đều nghe những tiếng hô vang dậy: "Chúng tôi lực lượng hòa hợp, hòa giải thị bộ Đà Nẵng, yêu cầu đồng bào hãy mau mau mở cửa ra để chào mừng và hoan hô bộ đội giải phóng miền Nam anh hùng!"
Cả thành phố đều mở cửa nhìn ra. Trên đường phố từng đoàn xe từ hai ngã đang tiến vào thành phố, đồng bào nhìn kỹ thì ra là hai đoàn xe đã ra đi hồi tám giờ sáng, chỉ khác hơn là trên các xe bây giờ chở đầy bộ đội miền Bắc, còn được cắm thêm những cành lá mà trước kia VC thường gọi "cành lá ngụy trang". Tiếp theo sau là những xe thiết giáp trang bị đầy đủ hỏa tiễn phòng không, đại bác và tiếng hô vẫn tiếp tục vang vang, bây giờ mọi người mới nhìn thấy rõ ràng, tất cả các xe, ngoài người tài xế, còn có một "ông hoà giải" và một "vị sư" mặc áo cà sa vàng ngồi bên cạnh, và tiếng hô đó cứ thay phiên phát ra từ hai cái mồm của hai người này.
Đến chiều, vẫn chưa tìm được người thân, tôi được tin là có nhiều người đã bị "An ninh Phật giáo" bắt giam ở các "chùa", nên tôi đến chùa Pháp Lâm tức chùa tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để cầu cứu "Thượng tọa" Thích Quang Thể, Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN. Vì thế, khoảng 17 giờ tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep nhà binh dừng lại ngay cổng chùa, từ trên xe có hai "thầy" bước xuống đó là "Đại đức" Thích Minh Tuấn, người Huế, Hiệu trưởng trường trung học Bồ Đề, Phó Đại diện tỉnh Giáo hội QN-ĐN, Thích Minh Tuấn hiện nay là một trong những người lãnh đạo trong Viện Hóa Đạo 1 của Ấn Quang. Và "Đại đức" Thích Như Ký tức Mai Đăng Em, quê ở Mân Lập, quận 3, Đà Nẵng, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam - Đà Nẵng. Tiếp theo là hai "ông hòa giải" quần tây, áo sơ mi trắng, cả hai cùng mang băng đỏ như hai "thầy". Cả bốn người cùng vào nhà khách của chùa gặp "Thượng tọa" Thích Quang Thể, (Thích Quang Thể hiện nay là Hòa thượng, đứng đầu của tổ chức Tăng đoàn Bảo vệ Chánh pháp của Viện Hóa Đạo 1).
Mở đầu bằng giọng Huế, Thích Minh Tuấn nói:
"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia rước sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chơn vào thành phố, mọi việc đều tốt."
Tiếp theo, Thích Như ký nói:
"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe vô tận Hà Lam, Thăng Bình, đã đón bộ đội ta, do Đại Tá Phan Hoan chỉ huy vào thành phố một cách an toàn."
"Thượng tọa" Thích Quang Thể gật đầu vui vẻ định nói gì với hai "thầy", nhưng ngay lúc đó Lê Quang Hòa (Trung tướng Việt Cộng) tức Nguyễn Văn Hòa, quê Điện Bàn, Quảng Nam, tập kết ra Bắc trở về, là Tư lệnh phó quân khu 5 cùng đi với mấy tên cận vệ bước vào chùa, "Thượng Tọa" Thích Quang Thể đứng lên chào, Lê Quang Hòa nói:
"Tôi đến đây để thăm chùa, đồng thời để nói lên lời cám ơn Thượng Tọa và giáo hội đã tích cực trong công việc đưa, đón bộ đội giải phóng vào thành phố, một thành quả không ngờ, vì khi nghe Ngô Quang Trưởng tuyên bố tử thủ và có 45 ngày để dân Đà Nẵng di tản. Chúng tôi nghĩ là sẽ có môt lực lượng hùng hậu, nên Bộ tư lệnh quân khu 5 đã dự tính lập vòng đai bao vây trong vòng ba tháng, mới có thể vào thành phố Đà Nẵng được. Vì vậy, khi các thầy đưa xe ra đón, chúng tôi không tin, nên phải lấy tin từ quân báo thật chính xác, mới dám cho bộ đội lên xe của các thầy."
Quay sang hai "thầy" Lê Quang Hòa nói:
"Tôi đặc biệt khen ngợi Đại đức Thích Minh Tuấn đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia để đón Sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chơn vào thành phố một cách an toàn. Tướng Chơn rất vui mừng khi được trở lại quê hương Thanh Khê, Đà Nẵng, và công lao của Đại đức Thích Như Ký cũng không kém vì Đại đức cũng đưa xe vào tận Hà Lam, Thăng Bình để đón bộ đội của Đại tá Phan Hoan vào thành phố không hề gặp trở ngại."
Sau khi hướng dẫn các đoàn xe của bô đội VC vào chiếm giữ các đơn vị của quân đội cũ, LLHG lại dùng loa phóng thanh kêu gọi: "Yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo!"
Phải công nhận là Phật giáo nói Phật tử chiếm 80% là đúng, nhưng chỉ đúng trong những ngày này mà thôi, vì thấy các "chùa" đồng loạt treo cờ "Mặt trận giải phóng" cũng như thấy khí thế của Phật giáo như vậy, nên nhiều người bình thường chỉ theo đạo thờ cúng ông bà hoặc Khổng Giáo nhưng vì muốn an thân, họ đã đến các "chùa" mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ, cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.
Ngoài ra, để lập công với "cách mạng" Đại đức Thích Minh Tuấn, đã nhân danh: "Là phó đại diện tỉnh giáo hội Phật giáo QN-ĐN, hiệu trưởng trường trung tiểu học Bồ Đề, xin dâng hiến tất cả các trường Bồ Đề và các cơ sở khác của giáo hội cho cách mạng". Thấy vậy, có nhiều Phật tử phản đối, Thích Minh Tuấn trả lời:
"Bây giờ mình đâu có cần gì những thứ đó nữa, vì chúng ta có công đánh đuổi Mỹ, ngụy, thống nhất đất nước, chắc chắn chúng ta sẽ được tưởng thưởng xứng đáng, sẽ có nhiều nhà sư ra tham chính, rồi quý vị xem, Phật giáo sẽ được nhiều ưu đãi của chính quyền cách mạng."
Nhận xét về bộ đội miền Bắc
Đến đây, tôi phải xin nói qua về cái đám bộ đội Bắc Việt. Sau khi đã vào thành phố rồi, đám này môt lũ người rừng lạc xuống thành phố văn minh. Chúng không biết và cũng không cần biết ai là Quân, Cán, Chính của Việt Nam Cộng Hòa, vì chúng đã say, không phải say men chiến thắng mà chúng đang say của. Chúng đã chứng minh cho dân thành phố thấy cái tài "giải phóng". Chúng đã đến từng nhà những người đã di tản, hoặc còn ở Sàigòn, Cam Ranh chưa về kịp, nhất là tại các cửa tiệm, chúng "quan tâm" từ cái "thùng biết nói" (Tivi) cái "đài" (Radio), "xe máy" (xe đạp), đến các hàng vải, tơ, lụa, áo quần, chúng khuân vác tất cả các vật dụng ở các cửa hàng tạp hóa, đến bát đĩa, đôi đũa, cái thìa... Chúng đều "giải phóng" sạch sẽ.
Khi những người di tản bị kẹt ở Sàigòn, Cam Ranh trở về thì trong nhà đã trống trơn, bà con về trước đã cùng chia xẻ để họ có thể sống tạm, chờ ổn định.
Lực Lượng Hòa Hợp Hoà Giải
Nói đến LLHG, thì ngoài những công lao trên họ còn có những thành tích khác đáng kể như sau đây:
Trong lúc đồng bào trên đường di tản, LLHG đã xuống tận bến Bạch Đằng dùng loa phóng thanh kêu gọi:
"Chúng tôi Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải thị bộ Đà Nẵng. Trụ sở đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, thiết tha kêu gọi đồng bào đừng di tản, hãy ở lại với chính quyền cách mạng; ngụy quân, ngụy quyền cấp bậc, chức vụ gì sẽ được trả nguyên cấp bậc và chức vụ ấy."
Vì thế, mà ở trại cải tạo T.154, Tiên Phước, Quảng Nam, tôi biết có người không phải sĩ quan mà đã khai là "Trung úy", mục đích để được "trả lại"... cấp bậc cũ! Nhưng không ngờ, rồi sau đó đã phải ở tù như những sĩ quan thật. Và rồi, cấp bậc, chức vụ gì thì phải ở tù theo cấp bậc, chức vụ ấy.
Trong bài Những Mùa Xuân Qua, ở số báo Xuân Đinh Hợi. Tôi đã viết về việc Hòa giải Phật giáo đã bắt ông Trần Quốc Dân đem nộp mạng cho Nguyễn Chơn (tướng VC) để Chơn xử bắn. Sau đó, Hòa giải Phật giáo đã bắn chết sáu người tại quận 3, Đà Nẵng. Ở bài này, tôi xin viết thêm một trường hợp khác.
Trong cơn say máu người, Hòa giải Phật giáo cũng đã đến nhà ông bà Trần Quốc Thái ở số 06 đường Lý Thường Kiệt, Đà Nẵng, nhưng khi ập vào nhà thì chỉ còn căn nhà trống. Ông bà Trần Quốc Thái đã chạy thoát, mất mồi, chúng tức tối la hét, đập phá lung tung. Tôi nghĩ là ông bà Trần Quốc Thái đã có được một hồng ân quá lớn, nếu không thì chúng đã xé xác ông rồi, nhẹ lắm cũng như ông Trần Sô vậy.
Nhân đây, tôi xin nói rõ về ngôi nhà này: Tôi biết ông bà Trần Quốc Thái đã vay mượn của nhiều người để xây cất, nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết, Hội đồng Gian nhân Phản loạn đã tịch thu với lý do là "tài sản của đảng Cần Lao" và dùng làm cơ quan Nha Cảnh sát Quốc gia vùng 1. Ông bà Trần Quốc Thái đã dắt con cái đi ở nhờ nhà người khác, nhưng cũng phải thắt lưng, buộc bụng để có tiền trả cho đến mười năm mới hết nợ làm nhà.
Năm 1973, vì truy tìm mãi vẫn không có bằng chứng là "tài sản của Cần Lao" nên ngôi nhà mới được trả lại cho ông bà Trần Quốc Thái. Đến năm 1975, Hòa giải Phật giáo chiếm giữ, sau đó giao cho VC lấy làm Bộ chỉ huy công an vũ trang.
Sau 30/04/1975, Việt Cộng ra lệnh truy tầm ông Trần Quốc Thái, "Bí thư đảng Cần Lao miền Trung". Tôi cũng biết ông Trần Quốc Thái là người Bắc di cư, thời Đệ Nhất Cộng Hòa có làm Quận trưởng quận Điện Bàn, Quảng Nam, còn có Cần Lao hay không thì khó biết được, vì đảng Cần Lao không công khai hoạt động như các đảng phái khác.
Trở lại cái gọi là "Ủy ban lãnh đạo Lực lượng hòa hợp, hòa giải dân tộc thị bộ Đà Nẵng" do La Thành Tỵ người từng có "chiến công" trong cuộc tấn công phường Thanh Bồ, làm chủ tịch, trụ sở được đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, nơi trụ trì của Thượng tọa Thích Quang Thể, chánh đại diện Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng.
Ngày 01-04-1975
Bắt đầu từ ngày 01/04/1975, sau khi đã có công ra tận vùng giặc đón VC vào thành phố, LLHHHG liên tiếp từng ngày cho xe chạy khắp đường phố dùng loa phóng thanh kêu gọi: "Yêu cầu tất cả ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái chính trị thuộc chế độ Sàigòn, hãy mau mau tập trung về chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội giao nộp vũ khí và trình diện."
Đối với Quân, cán, chính VNCH đều chưa biết số phận mình sẽ ra sao, khi nghe lời kêu gọi đó họ đã đến "chùa" để trình diện. Một điều mà chắc nhiều người còn nhớ, là lúc chạy giặc đa số sĩ quan vứt bỏ súng, khi đến chùa trình diện không có súng đã bị các "ông" hòa giải lớn tiếng la lối, nạt nộ đủ điều: "Các anh phải giao nộp súng ngắn, vì sĩ quan phải có súng ngắn, các anh giữ súng lại để tìm cách chống phá cách mạng à? Không có súng ngắn chúng tôi không cấp giấy chứng nhận đâu."
Vì vậy, có nhiều vị đã phải đến lạy thượng tọa Thích Quang Thể "xin thầy can thiệp với ban lãnh đạo một lời để con được cấp giấy chứng nhận trình diện."
Sau khi Quân, cán, chính VNCH đã giao nộp vũ khí, thì trước sân chùa một đống súng cao như núi. LLHHHG đã đến Tòa thị chính mời Ủy ban quân quản đến nhận súng. UBQQ cử Hoàng văn Lai, ủy viên an ninh (sau Lai là Trưởng ty công an QN-ĐN) đến chùa Pháp Lâm, Lai đứng ở sân "chùa" dằn từng tiếng: "Các anh hãy trả lời: Cách mạng chiến thắng hay Phật giáo chiến thắng? Hòa giải là cái gì? Mỹ, ngụy bỏ chạy, chúng tôi tiếp thu chớ có có ai đánh đâu mà hòa giải, còn súng, chúng tôi không cần, cho các anh đấy!"
Bấy giờ đến lượt "Ban lãnh đạo hòa giải" lạy Hoàng văn Lai để y chở đống súng đi, vì để đống súng nằm hoài ở sân "chùa" thì ... không tiện. Sau đó "Ủy ban quân quản" ra lệnh như sau:
- Sĩ quan trình diện tại số 03 Duy Tân.
- Ngụy quyền trình diện tại số 12 Bạch Đằng.
- Đảng phái chính trị trình diện tập thể tại số 09 Gia Long.
Có người nghĩ rằng đã có giấy chứng nhận của "Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải Phật giáo" nên không đi trình diện nữa. Nhưng nhiều vị đã bị bắt vì không có giấy chứng nhận của Ủy ban quân quản, có người xuất trình giấy chứng nhận của "LLHHHG" thì bọn an ninh nói: "Giấy chứng nhận của hòa giải hãy bỏ vào sọt rác vì không có giá trị, chỉ có giấy chứng nhận của ủy ban quân quản, có chữ ký của ông Hoàng văn Lai mới có giá trị."
Cuối cùng Quân, Cán, Chính VNCH ở thành phố phải đi trình diện hai lần, nhưng may là lần sau không bị đòi nộp súng ngắn nữa!
Bây giờ đến lượt "cách mạng thưởng công" cho "Lực lượng hòa giải": Qua sự thanh lọc, một số đông bị rớt, riêng La thành Tỵ được tiếp tục làm việc trong "Mặt trận tổ quốc" hiện nay Tỵ là "Trưởng ban hướng dẫn gia đình Phật tử Quảng Nam - Đà Nẵng".
Một điều, hơn ai hết chính LLHG Phật giáo chắc khó quên, ấy là trong thời gian hơn một tháng từ 20/03/1975, LLHG đã nổi lên cướp chính quyền phường, khóm xã, thôn, bởi chính quyền cũ có người đã di tản, còn những người kẹt lại vì thấy những bộ mặt đằng đằng sát khí của những "ông" hòa giải nên chẳng ai dám nói gì. Họ cũng tự xưng là Phường trưởng, Xã trưởng, Thôn, Khóm trưởng, đã làm mưa làm gió, bắt giết người, lập tòa án nhân dân đấu tố nhiều người đến 29/03/1975, VC vào thành phố rồi, chúng cũng không hề nói gì mà còn vui vẻ bắt tay "các ông" hòa giải gọi là "đồng chí". Nhưng sau ngày 30/04/1975, Việt cộng mới yêu cầu các khuôn hội bàn giao chính quyền cho chúng. Điều này đã làm "Hòa giải Phật giáo" bị mất mặt trước dân chúng, nên "Chính quyền Hòa giải" nhất định không chịu bàn giao, vì đã nắm quyền hơn một tháng rồi, giết người chẳng ít, bắt giam cũng nhiều (như tôi đã viết ở bài trước). Nên chính quyền hòa giải đòi VC phải hợp thức hóa cho họ trở thành những cán bộ lãnh đạo phường, khóm, xã, thôn vì đã có công lao đưa xe đi đón bộ đội Bắc Việt vào thành phố.
Cuối cùng Việt cộng tổ chức một cuộc mít tinh tại đài phát thanh Đà Nẵng, trong buổi mít tinh ban tổ chức đã giới thiệu tên Trần Thận, Thường vụ tỉnh ủy Quảng-Đà lên phát biểu như sau:
"Sở dĩ có cuộc mít tinh hôm nay là do sự đòi hỏi của Phật giáo. Tôi nhấn mạnh là Phật giáo chớ không có hòa hợp, hòa giải chi hết á. Vì cái chiêu bài hòa hợp, hòa giải là chỉ dùng để láo bịp với chế độ Sàigòn mà thôi. Chúng tôi công nhận Phật giáo đã có công đóng góp với cách mạng đánh đổ Mỹ ngụy, nhưng, đó là nghĩa vụ công dân chớ không vì thế mà Phật giáo đòi cầm quyền. Hiện nay, còn có một số phường, khóm, xã, thôn thuộc các khuôn hội còn nắm giữ không chịu bàn giao cho ủy ban nhân dân các địa phương. Phật giáo nên biết, ngày xưa ông Lý Vạn Hạnh là cha ruột ông Lý công Uẩn nên Phật giáo muốn làm gì thì làm, còn hiện nay ông Đôn Hậu không phải là cha của đồng chí Lê Duẩn, và chính quyền cách mạng chứ không phải là triều Lý. Vậy chúng tôi yêu cầu Phật giáo phải khẩn trương bàn giao gấp, nếu chậm trể chúng tôi sẽ có biện pháp..."
Nói đến đây, y nổi nóng vung tay hét: "Nay đất nước đã có độc lập tự do rồi mà không lo tu thân, tăng gia sản xuất để góp phần xây dựng đất nước, mà cứ đòi cầm quyền! Phật giáo lấy tư cách gì để đòi cầm quyền? Ai cho cầm quyền? Phật giáo chỉ có cầm... cầm... cầm..."
Bỗng nhiên có tiếng cười nổi lên, nhiều bà cười lớn quá khiến tên Thận phải khựng lại, rồi không biết phải nói tiếp những gì nên y nói đại: "... cầm... cầm... cầm... cái gì cũng được nhưng không đươc cầm quyền."
Ngày 19-05-1975
Ngày 19/05/1975, "Hòa thượng" Thích Đôn Hậu chỉ thị tỉnh giáo hội QN-ĐN và thị bộ hòa giải tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm. Trước khi tổ chức sinh nhật, các khuôn hội tại các quận lân cận và thành phố Đà Nẵng đã ra lệnh cho đồng bào phải tập trung về "chùa" Pháp Lâm "để diễn hành chào mừng bộ đội giải phóng và dự sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc". Họ đã bắt đồng bào ở các quận như: Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang... phải đi bộ, mọi người phải tay cầm đèn gió để đêm xuống thì thắp sáng cho nó ra vẻ "phấn khởi hồ hởi" và gói cơm đem theo để ăn dọc đường vì có nơi phải đi bộ một ngày một đêm mới tới Đà Nẵng. Trước khi đi, các khuôn hội đã tập dượt cho đồng bào hô khẩu hiệu như sau: Khi những "ông" hòa giải tay cầm loa phóng thanh, mồm hô: "Hoan hô bộ đội giải phóng miền Nam anh hùng." Thì đồng bào phải hô lớn "hoan hô... hoan hô..." Còn khi mấy "ông" hô: "Đả đảo đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai bán nước." Thì đồng bào phải hô "Đả đảo... đả đảo..."
Nhưng sau một đêm ngày đi bộ vì mệt và buồn ngủ, nên đồng bào chẳng còn nhớ những gì khác cả, mà chỉ còn nhớ bốn tiếng "hoan hô" và "đả đảo" mà thôi.
Tôi vẫn nhớ như in vào đêm ấy đã hơn 1 giờ sáng ngày 19/05/1975. Lúc đó tôi đang ngủ, thì bỗng nghe tiếng chân người đi, tiếng ồn ào, tiếng loa phóng thanh cùng với tiếng hô "hoan hô... đả đảo..." Tôi giật mình tỉnh giấc, mở cửa sổ nhìn ra đường, tôi thấy những nhà hàng xóm cũng mở cửa như tôi, tất cả đều thấy đoàn người tội nghiệp đó, tay cầm đèn đuốc miệng hô, chân bước quàng xiên đang từ Phước Tường tiến vào Đà Nẵng. Tôi có cô em kết nghĩa là Lâm Kin Liên, từng là hoa khôi của trường Lê Bảo Tịnh và trường Sao Mai bấy giờ đã là sinh viên rồi, vì ở gần nhà, Liên thường đến chơi với tôi, có khi ngủ lại, chị em tôi hợp nhau, nên thương nhau như cốt nhục. Bây giờ mỗi lần nhớ lại chuyện đêm ấy, nếu có ai thì tôi kể lại để cùng cười, còn nếu chỉ mình tôi, thì tôi... cười một mình.
Đêm ấy, khi đoàn người đã bị các "ông" hòa giải hành hạ đang đi ngang trước nhà, tôi và Liên ngủ chung nên cùng ra cửa sổ, để rồi chị em tôi đã vừa cảm thương đồng bào vừa không nén được tiếng cười, khi nghe mấy "ông" hòa giải tay cầm loa phóng thanh mồm la ơi ới: "Bà con ơi! ai rớt gói cơm?" thì có tiếng của đồng bào đáp trả: "hoan hô... hoan hô..." Nghe vậy mấy "ông" hòa giải lại la lớn: "Bà con ơi! gói cơm ai rớt?" đồng bào lại hô "đả đảo... đả đảo...". Cứ tiếp tục như vậy, một hồi lâu, đồng bào cũng chỉ biết có "hoan hô" với "đã đão". Cuối cùng, các "ông" tức quá mới đi tới gần từng nhóm người, tay đập mạnh vào người họ mồm hét: "Gần sáng rồi, tỉnh táo đi, nghe chúng tôi nói đây nè ai... làm... rớt... gói... cơm... thì nhận lại, chứ nghe cái gì đâu mà cứ hoan hô với đả đảo hoài...hả?" Lúc đó đồng bào mới biết là có "sự cố".
Sau khi chứng kiến cảnh đó, Lâm Kim Liên nói với tôi: "Thằng Tùng (em ruột Liên) nó cũng bị mấy ông ấy bắt đi diễn hành rồi chị ạ".
Nên biết là lúc đó, đồng bào rất sợ Hòa giải Phật giáo, các khuôn hội buộc mỗi gia đình ít nhất phải có một người cầm đèn đi diễn hành "mừng chiến thắng". Tại thành phố Đà Nẵng, để cho nó có "hệ thống" trước khi diễn hành đến "chùa" Pháp Lâm, các khuôn hội dùng loa phóng thanh "kêu gọi" đồng bào tập trung tại "chùa" Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh ĐN, tức Phật học viện Trung phần.
Tôi xin nhắc lại. Mùa hè 1966, trong cuộc bạo loạn mang bàn Phật xuống đường, chính "chùa" Phổ Đà này đã được Phật giáo dùng làm "Tổng hành dinh Quân đoàn Vạn Hạnh" và cũng là nhà tù, nơi đã từng giam giữ các vị tù nhân Phật giáo bốn mươi ngày, tra tấn, đánh đập hàng ngàn Quân, Cán, Chính VNCH. Trong lúc các vị bị giam giữ tại nhà tù Phổ Đà, Phật giáo đã cho treo lựu đạn ở các cửa sổ với lời tuyên bố: "Đ.M, Nếu Thiệu-Kỳ đưa quân xuống đây, thì chúng tao mở lựu đạn cho chúng mầy chết hết". Trong số tù nhân Phật giáo đó, tôi biết và nhớ tên nhiều vị, song ở đây, tôi chỉ nêu một số vị như sau đây:
Giáo sư Nguyễn Hữu Chi, Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam, Dân biểu Bùi Quang Sạn, ông Lê Nguyên Long, Trưởng ty thông tin Quảng Nam. Mới đây ông Lê Nguyên Long qua điện thoại viễn liên Mỹ-Pháp, ông còn nhớ kỹ về những ngày ở tù Phật giáo, ông Lê Nguyên Long đã kể:
"Chúng nó tàn ác lắm thím ơi! Trời ơi! nó oánh, nó oánh (nó đánh) tụi tui từ trái sang phải; tụi tui tưởng đã bỏ xác trong chùa Phổ Đà rồi chớ, tui già rồi viết không ra nữa, bây chừ thím mà viết lại được là tui mừng lắm".
Ông còn kể lại rất nhiều, nhưng tôi sẽ xin hầu quý vị lần khác để nói thêm về một tù nhân Phật giáo nữa là ông Mai Xuân Hậu, quận trưởng quận Hòa Vang. Lúc ấy ông Mai Xuân Hậu đã quyết tử thủ quận Hòa Vang, không cho Phật giáo chiếm, vì biết rõ mục đích Phật giáo nổi loạn chiếm miền Trung, để thành lập Chính phủ miền Trung, để liên minh với Việt Cộng đánh VNCH. Nhưng "dòi từ trong xương dòi ra" nên ông Mai Xuân Hậu phải bị Phật giáo bắt giam tại "chùa" Phổ Đà. Ngoài ra trong số đó có hàng trăm cán bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng thuộc Trung ương Chính thống và Pháp định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo. Các vị này cũng bị đối xử như ông Lê Nguyên Long (ông Long cũng là VNQDĐ) đã nói. Còn nhiều vị nữa tôi không sao kể hết.
Trở lại với cuộc diễn hành hay đúng hơn là Hành diễn. Sau khi đã thấy những sự kiện trên, tôi rủ Liên, chờ Trời sáng chị em mình xuống chùa Pháp Lâm xem thử, Liên đồng ý ngay. Đến "chùa" Pháp Lâm là "chùa" tỉnh giáo hội Phật giáo QN-ĐN. Chị em tôi cùng vào với đồng bào diễn hành. Chúng tôi đã chứng kiến "thượng tọa" Thích Đôn Hậu ngõ lời nói: "Yêu cầu đồng bào từ nay hãy lập tại nhà một bàn thờ thật trang trọng, phải có ảnh bác Hồ kính yêu để thờ vị cha già của dân tộc, ảnh đang có tại các chùa, đồng bào hãy đến để mua đem về mà thờ". Tiếp theo Thích Đôn Hậu (dân Đà Nẵng thường gọi là Thích Đoản Hậu hoặc Thích Đâm Hậu), giới thiệu một "cán bộ cách mạng lên nói chuyện với đồng bào" khi người này lên nói chuyện đã tự giới thiệu tên là Hoàng Châu Ký, Giám đốc Sở Thông tin văn hóa khu trung, Trung bộ. Hoàng Châu Ký đã ngõ lời khen ngợi có đoạn như sau:
"...Quý thượng tọa, đại đức và quý vị thuộc lực lượng hòa hợp hòa giải, là những người có công với cách mạng, tham gia đánh đổ Mỹ ngụy, thật là đáng ngợi khen. Trước đây, quý vị nói là bị Mỹ ngụy áp bức, kềm kẹp không có tự do, nay cách mạng đã giải phóng, không còn ai bị áp bức nữa. Từ nay, quý vị tu sĩ đều được tự do ở lại chùa tu hành, ngoài ra cách mạng giúp đỡ bằng cách tạo điều kiện cho có đất đai để quý vị được tự do làm chủ, tự do lao động sản xuất để góp phần xây dựng đất nước, và để được vinh dự là không còn ăn bám vào thiên hạ nữa.
Còn đối với những người không phải tu hành, tôi biết ở đây có nhiều người có bằng cấp cao như tiến sĩ, giáo sư, bác sĩ, kỹ sư... Các anh sẽ được trọng dụng trở lại, làm việc theo nghành nghề chuyên môn, bác sĩ trở lại bệnh viện, giáo sư trở lại trường học... Các anh sẽ được bình đẳng như những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư cách mạng miền Bắc. Nghĩa là, hàng tháng họ được bao nhiêu ký rau muống, bao nhiêu mì chính (bột ngọt)... thì các anh cũng được lãnh bấy nhiêu. Ngoài ra, muốn cải thiện, nếu ở thành phố không có đất, chúng tôi sẽ giúp đỡ cho các anh có điều kiện để tự do nuôi heo, tự do nuôi gà, tự do nuôi vịt, tự do..."
Hoàng Châu Ký còn nói thêm nhiều thứ tự do nữa, nhưng sao tôi thấy trên từng khuôn mặt của những "vị trí thức" này bỗng trở nên nhợt nhạt khi biết mình đã có đầy đủ những thứ... tự do.
Trong lúc y còn nói chuyện, nhưng chị em tôi không thể đứng nhìn những đồng bào tội nghiệp của mình, mà chúng tôi biết chắc chắn là họ phải nằm đường, ngủ chợ, lê lết một ngày, một đêm nữa mới trở về đến nhà của họ, nên chúng tôi phải ra về.
Trại Cải tạo T-154
Đến đây, tôi xin nói qua về trại cải tạo T.154, là hậu thân của trại cải tạo Đá Trắng, như tôi đã nói ở bài trước. Nhưng vì tôi vốn là dân gốc tại làng Thạnh Bình, Tiên Phước, từ nhà tôi đến nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ cần đi bộ, tôi biết về trại này, nơi bác ruột tôi đã bỏ mình tại trại vào năm 1964, nên tôi phải nói rõ về cái tên T.154. Bởi khi quận Tiên Phước mất vào ngày 13/03/1975, thì VC đã cấp tốc khởi công phá bỏ trại Đá Trắng vốn ở dưới hầm, để thành lập trại tù mới lớn hơn, từ lúc đầu VC đã bắt thanh niên quận Tiên Phước làm công việc xây dựng bằng nhà tranh vách đất, đến ngày 15/04/1975, VC cho "khánh thành" và trại Đá Trắng chính thức đổi tên thành Trại cải tạo T.154, để rồi các vị đã vào đấy rồi thì ít có vị nào ra trại trước mười năm, có vị đã bỏ mình tại trại vì bị hành hạ đến bệnh tật không được điều trị, có vị bị xử bắn, bị bỏ đói chết trong nhà biệt giam.
Sau đó, khi đưa tất cả các vị QCCVNCH đã trình diện tại "chùa" Pháp Lâm vào đây, VC lại bắt các vị tù trong trại tự xây nhà tù mới, mái lợp ngói, nền lát gạch. Trại chính là Trại 1, bên nam gồm có 12 (mười hai) nhà, mỗi nhà có bốn phòng, mỗi phòng có hai dãy sạp gỗ dài song song và một sạp chiếc, mỗi sạp chứa được trên dưới 20 (hai mươi) người. Tất cả các phòng, các cánh cửa đều có gài một thanh sắt dài có gắn khóa sắt, để mỗi tối sau một ngày lao động, mọi người tù phải vào phòng để một công an gọi là "Cán bộ trực trại" điểm danh xong rồi khóa cửa lại.
Nhưng chưa đủ mà còn có một nhà Biệt Giam, trong nhà nầy có những thanh sắt gài hai chiếc cùm sắt xuyên qua tường gạch kiên cố, để cùm hai chân người tù, phòng chỉ bốn mét vuông, không có cửa sổ, chỉ có một lỗ thông hơi hình tròn đường kính khoảng 08cm (tám phân), bên ngoài là cánh cửa sắt có gài một thanh sắt có khóa sắt. Trong trại còn có nhà cấp dưỡng (nhà bếp) một trạm xá. Ngoài ra, quanh trại VC còn xây thêm các phân trại như các trại: Trại Thôn Năm, Thôn Tư, Na Sơn, Nà Thao, Lò gạch, Nhà chăn nuôi, Nhà máy ly tâm sản xuất đường (chỉ phân phối cho công an, còn tù cải tạo thì chỉ được nhìn mà thôi).
Đầu năm 1979, vì đánh nhau với Tàu nên VC chuẩn bị đưa một số vị tù ra Bắc, đã phải ngưng lại, thay vào đó VC đã lập thêm nhà biệt giam 02-79 (Đồng Mộ). Rồi thay vì đưa ra Bắc, các vị này đã bị bịt mắt và bị trói dính chặt vào nhau. Sau đó, các vị đã bị công an vũ trang dao kề cổ, súng kề lưng, đưa vào nhà biệt giam 02.79 (Đồng Mộ) trong một đêm khuya tối Trời.
Trong số này có bốn vị tu sĩ đó là quý ngài: Linh mục Đặng Đình Canh, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Thanh Bồ, Đà Nẵng, Linh mục Vũ Dần, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Phú Thượng, Đà Nẵng, Linh mục Tống Kiên Hùng sau khi ra tù ngài trở về giáo xứ Tam Tòa, nhưng công an QN-ĐN đã trục xuất ngài vào miền Nam, rồi ngài sang Hoa Kỳ, hiện nay ngài đã vào dòng tu kín tại Hoa Kỳ, và Mục sư Dương Đình Nguyện, hiện cũng đã tiếp tục hầu việc Chúa ở Hoa Kỳ.
Ngoài các trại tù nam, VC cũng lập thêm phân Trại Nữ gồm có năm nhà, có nhà cấp dưỡng, trạm xá riêng, các phòng cũng kiên cố như trại nam. Nhưng mỗi khi nữ tù "vi phạm nội quy" thì công an trại lại đưa vào cùm trong nhà biệt giam của trại nam, Đến năm 1983, VC mới cho làm thêm nhà cùm riêng cho trại nữ.
Hai trại nam, nữ cách nhau một giòng suối nhỏ, "tuy xa mà gần, tuy gần mà xa" chung một hội trường để hai trại nam, nữ cùng học tập chính trị, hoặc họp toàn tại mỗi khi trong trại có nhiều người "vi phạm nội quy" hay xem văn nghệ vào dịp tết, hay ngày 2/09, "nghệ sĩ" là các anh chị em đa số là các anh chị em thuộc Chiến Tranh Chính Trị cũ.
Nói đến nhà tù này, thật là kinh hoàng, khủng khiếp! Vì là nhà tù lao động chuyên về nông nghiệp, nên cả nam lẫn nữ tù đều phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. Hàng ngày, nữ tù chúng tôi thường đi làm chung với quý vị nhà 08 do Trung tá Nguyễn Văn Chước làm "Tự quản" (nhà trưởng) quý vị này đã từng qua nhà biệt giam 02-79 (Đồng Mộ) và nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm nhà trưởng, ngày nào hai nhà này cũng thay phiên lao động bên nữ tù. Các anh đã thay trâu bò cày, bừa cho nữ cấy, gặt. Với chỉ tiêu chung, ba người một sào, bắt buộc phải đạt trong ngày. Ngoài ra phải leo đồi cuốc đất trồng sắn, mỗi ngày với chỉ tiêu vừa cuốc vừa trồng phải "đạt" 500 cây hom sắn, hay cuốc đất trồng mía, tỉa đậu, trồng khoai, lên rừng nam đốn củi, nữ vác xuống chất thành mét khối, cũng phải "đạt chỉ tiêu" bốn người 02 mét khối. Nói tóm lại làm việc gì cũng phải "đạt chỉ tiêu" cả.
Nhưng không phải "đạt chỉ tiêu" rồi mà tối về phòng được ngủ sớm, mà tất cả chúng tôi, sau giờ ăn tối còn phải "làm tranh thủ" hái đậu phụng (lạc) cũng "chỉ tiêu" cho ba người đầy một thúng mới được về phòng, đặt lưng xưống chưa được bao lâu thì 06 giờ sáng phải thức dậy để bắt đầu một ngày lao đông khác. Có khi vừa ăn tối xong, phải "tranh thủ" làm cỏ mía... Thôi thì đủ thứ "tranh thủ" không làm sao kể hết.
Tôi không bao giờ quên được những năm tháng lao động bên các vị Quân, cán, chính VNCH, thuộc nhà 08 và nhà 10. Tôi vẫn nhớ mãi những ánh mắt đầy thương cảm và lo lắng của các anh, khi nhìn chúng tôi với những tấm thân yếu đuối, mà các anh chỉ nhìn thấy từ bụng, từ ngực nổi trên sình lầy, trong những ngày đông buốt giá, đến những ngày hạ nắng như thiêu đốt. Đôi chân của chúng tôi lúc nào cũng phải lần bước theo những chiếc cây đà, do chính các anh đốn từ trên rừng đem bỏ xưống ruộng. Các anh luôn luôn lưu ý đến chúng tôi, để khi nào nữ tù có ai lỡ trượt chân khỏi cây đà, thì các anh kịp thời nối cuốc, nối tay, kéo chúng tôi lên. Vì thế, có nhiều người rơi xuống ruộng, nhưng không hề có một ai bị chết vùi thân dưới sình lầy cả.
Nhưng với tôi, mặc dù bị tù đày. Tôi vẫn thấy mình có cái "may mắn" là "được" chứng kiến những trận đòn thù dã man, tàn bạo nhất mà công an trại đã giáng trên những tấm thân gầy yếu, trơ xương của nhiều vị tù, nhưng vì là một bài viết có hạn, nên tôi chỉ nói đến những trường hợp như sau đây:
- Thiếu tá Hồ Minh, ông đã bị "kỷ luật" cùm tay, chân, miệng, và ở phòng biệt giam. Chẳng những thế, mà ông còn bị công an trại dùng những khúc củi đánh đập nhiều lần, đến nỗi mỗi lần ông bị đánh, tù nhân chỉ nghe tiếng hét, tiếng rú của ông chứ không hề nghe tiếng ông nói thành lời. Một lần, tù nhân nghe tiếng mở cửa của thanh sắt phòng biệt giam. Họ thấy ông Hồ Minh bị hai tên công an vũ trang lôi ra khỏi phòng, rồi dùng những khúc củi đánh tới tấp lên người ông. Đau quá, ông bỏ chạy quanh khu biệt giam, lúc ấy, nhiều người mới nhìn thấy chiếc cùm đã không còn trên miệng của ông nữa, nhưng ông không còn hét thành lời, mà chỉ có tiếng rú vô cùng man dại, đôi mắt vô hồn, nét mặt thất thần, có lẽ ông đã mất trí, cũng có thể vì chiếc cùm lâu ngày trên miệng đã làm ông không còn nói được nữa. Nhưng bọn công an vẫn đánh vì nói ông giả câm, chúng cứ tiếp tục đánh, buộc ông phải nói. Khi ông ngã sấp xuống mặt đất thì chúng không đánh bằng những khúc củi nữa, mà chúng thẳng chân giày đạp lên đầu, lên lưng ông, cho đến lúc ông nằm bất động, chúng mới cho "trật tự" trại khiêng xuống trạm xá trại 1. Nhưng đã quá trễ, vì khi vào trạm xá, thì thân xác ông đã lạnh ngắt tự bao giờ. Mọi người mới hay rằng bọn công an trại đã đạp lên cái xác chết của ông.
- Đại úy Nguyễn Phượng, bị cùm bỏ đói cho đến chết. Khi chết rồi, mà đôi chân của ông vẫn còn trong đôi cùm sắt treo trên tường, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối!
- Thiếu tá Nguyễn Xuân Giáo, cựu Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Quảng Nam (thời Đệ Nhất Cộng Hòa). Trước khi chết, ông đã bị hành hạ đến không còn nhìn ra được là con người nữa. Ngày ông chết trong nhà biệt giam, khi đưa ra ngoài, không biết là vô tình hay hữu ý, mà bọn công an đã cho người con trai ruột của ông cũng đồng tù là anh Nguyễn Xuân Đức khiêng xác đi chôn, mà vẫn không biết đó là cha ruột của mình. Cho đến khi huyệt mộ đã lấp đất xong, tên công an trại ra lệnh cho "trật tự" trại mang tấm bảng gỗ đến và viết tên Nguyễn Xuân Giáo, đem cắm dưới chân mộ. Lúc ấy, anh Đức mới kinh hoàng, chết điếng ngã lăn xuống đất, ôm lấy nấm mộ của đấng sinh thành vừa lạy vừa kêu Trời. Nhưng Trời thì ở trên cao và xa quá, còn công an thì ở gần, nên chúng ra lệnh cho "trật tự" trại vực anh dậy và lôi về phòng. Trước cảnh Trời sầu, đất thảm ấy, tất cả tù nhân chỉ biết rơi lệ vì cảm thương và đau xót!
- Chúng tôi cũng đã chứng kiến tại Đồng Cừ, hôm ấy là ngày cấy lúa, bọn công an bảo Trung tá Không quân, anh Nguyễn Văn Đức nấu ăn, đến khi dọn cơm ra cho chúng, bỗng chúng nói anh rửa rau muống không sạch, là muốn đầu độc chúng, rồi mấy tên công an vũ trang đã dùng báng súng, dùng giày, đánh, đạp vào người anh trước mặt Mục sư Dương Đình Nguyện và Giáo sư Đồng Sĩ Ninh, là hai vị tù chịu trách nhiệm đắp nước ruộng và đồi sắn tại Đồng Cừ, cùng đông đảo tù cải tạo. Chúng tôi hết sức kinh hoàng và vô cùng đau đớn, nhưng không biết phải làm gì hơn là cúi mặt để giấu đi những dòng nướt mắt cứ trào tuôn từ đáy lòng thương cảm, và cũng từ nỗi uất hận lũ VC côn đồ, man rợ. Bởi, anh Đức đã lớn tuổi, mắt kém nhưng không có kiếng, nếu anh có rửa rau không được sạch thì đó không phải là lỗi của anh. Tại sao chúng không bảo những người tù khác mắt còn nhìn rõ hơn anh. Vả lại, chúng biết rõ là anh không có ý đầu độc chúng, nhưng chúng muốn đánh anh vì lòng thù hận. Nên biết, bọn công an luôn luôn tìm một sơ hở nhỏ nào đó của tù cải tạo để có cớ mà đánh, đập, cùm kẹp để hành hạ trả thù mà thôi.
- Trung tá Nguyễn Tối Lạc, quận trưởng quận Đức Dục, người từng bị cùm cả tay, chân, có khi bị cùm cả miệng. Trước khi bị cùm miệng, ông đã xin ba vị Linh mục truyền dạy Kinh Thánh cho ông, nên mỗi lần bị cùm miệng, nhưng còn hai tai nên qua cái lỗ thông hơi của phòng biệt giam ông vẫn học thuộc hai câu Kinh Thánh mỗi ngày. Và nhiệm mầu thay, ông đã thoát chết. Bây giờ ông đã sang Hoa Kỳ theo diện tù cải tạo.
Người ta thường bảo khi cùng đường, sắp chết mới thấy Trời. Quả đúng như vậy, khi vào các nhà tù của Việt Cộng là đi vào tử lộ, và chính ở nơi ấy con người mới biết đến Đấng Toàn Năng.
- Ngoài ra, còn có nhiều vị bị xử bắn tại trại như Đại tá Nguyễn Văn Bình... Đặc biệt là Kỹ sư Trung úy Trần Quang Trân đã bị xử bắn vì tổ chức giải thoát tất cả tù nhân. Nên biết, ông Trần Quang Trân là một Kỹ sư điện tử, từng được tu nghiệp tại Nhật và Hoa Kỳ, ông được công an trại giao cho tất cả công việc bảo quản điện, đài trong trại, được tự do về thành phố Đà Nẵng mua phụ tùng các loại máy móc cho trại, ông cũng là một tay trống của đội văn nghệ trại, nhưng ông không thể ung dung để hưởng những ưu đãi của VC, không thể nhìn những người đồng cảnh ngộ bị đọa đày. Nên ông phải hành động, để rồi ông phải chịu chết thảm!
- Ngày ông Trần Quang Trân bị xử bắn, một buổi chiều khoảng 6g30 ngày 27/05/1982, khi cả hai trại nam, nữ đã ăn "cơm" xong. Trại nam đã điểm danh khóa cửa, nhưng trại nữ chưa điểm danh. Vì thế, chúng tôi còn rủ nhau đi quanh sân trại để "tâm sự". Bỗng nhiên, chúng tôi thấy một tiểu đội công an vũ trang xuất hiện, chúng kềm ông Trần Quang Trân ở giữa và dắt theo bốn nam "trật tự" khiêng một chiếc quan tài, tất cả đang đi về hướng Hố Ông Hức, là nơi dành để chôn tù cải tạo. Riêng tôi, là thợ cắt, may được Âu-Việt phục, nên thỉnh thoảng công an trại bảo đi lấy số đo ở gia đình chúng để vào may trong trại nam, vì trại nam có bốn máy may, trại nữ không có, máy may chỉ dành để may áo quần cho công an, còn tù phải tự vá áo quần rách bằng những sợi nylon, tách ra từ bao cát mà ngày xưa thường dùng để làm hầm tránh đạn. Mỗi lần một "cán bộ" nào muốn nhờ tôi cắt, may, thì chính "cán bộ" ấy phải đích thân ra trại nữ xin phép "cán bộ trực trại" để nhận và cùng đi với tôi đến nhà, sau khi đo, đến ngày tôi vào trại nam để may công an cũng phải đi kèm, may xong, lại dắt tôi về trả cho "cán bộ trực trại".
Vì vậy, lúc ấy tôi đang từ nhà của vợ chồng Phó giám thị Nguyễn Văn Bá và vợ là Nguyễn thị Thanh Yên người Kỳ Hà, quận Lý Tín, Quảng Tín. Yên là "cán bộ y tế". Thời gian này Nguyễn Văn Bá đã lên Phân trại Thôn 05 để kiêm luôn chức Trưởng trại Thôn 05. Nhưng không hiểu vì quên giờ hành quyết ông Trần Quang Trân, hay vì tôi đo áo quần cho cả gia đình nên bị chậm trễ giờ giấc. Nhà của vợ chồng tên Bá ở gần Hố ông Hức. Trên đường về trại có "cán bộ" Yên đi kèm, tôi đã nhìn thấy ông Trần Quang Trân bị bịt mắt và cùm miệng, vì sợ ông Trân có thể có lời nói bất lợi, hoặc hô khẩu hiệu, ngay như Trung tá Nguyễn Tối Lạc, khi bị kỷ luật cũng phải bị cùm miệng, bọn công an trong trại không bao giờ cho tù nói những lời mình muốn nói.
Ông Trần Quang Trân bị đưa đến Hố ông Hức. Vừa thấy tôi, mấy tên công an hét lớn, bảo tôi nhanh chân về trại, "cán bộ" Yên bảo tôi chạy nhanh về trại, còn y thị cũng chạy biến vào đám mía của nhà "Phó giám thị" Nguyễn Văn Tài và vợ là Trần thị Lệ cán bộ phụ trách hồ sơ tù cải tạo. Tôi lén nhìn ông Trân rồi cúi đầu đi thẳng. Khi về trại, tôi thấy mọi nữ tù đều khóc, vì họ cũng đã thấy, và đã biết những gì sẽ xảy ra! Khoảng nửa giờ sau, có mấy phát súng nổ. Mặc dù trừ bốn "trật tự" và đội công an hành quyết, không có một ai biết, hay thấy được giây phút cuối cùng của ông Trần Quang Trân, nhưng nữ tù đều hiểu khi nhìn thấy chiếc quan tài khiêng đi bên cạnh ông, nên họ biết chắc chắn những phát súng đó là đã bắn vào ông Trân. Không cầm lòng được nữa, cả trại nữ khóc thét lên, tiếng khóc thấu Trời, làm bọn công an trên cơ quan nghe được. Vì thế, "cán bộ trực trại" tên Trịnh Thị Thu vợ của "giám thị" Huỳnh văn Hưng người Bình Dương, Thăng Bình, Quảng Nam, đã xuống trại, y thị phùng mang trợn mắt hét chúng tôi, bảo tất cả vào phòng khóa cửa lại. Y còn nói: "Nếu các chị còn khóc tui sẽ cùm đầu hết". Nhưng chúng tôi không sợ, vì cùm hết thì lấy ai ngày mai xuống ruộng để cấy lúa.
Trong những ngày đi cắt bổi (cắt những cành lá trên ngọn để bỏ vào chuồng trâu, bò làm phân bón ruộng) quanh Hố ông Hức, tôi đã bốn lần lén lút đến gần ngôi mộ ông Trần Quang Trân. Ông được chôn riêng trên ngọn đồi, dưới chân mộ là một gốc cây cao, có bóng mát tỏa xuống chở che một nắm xương tàn, một linh hồn, mà lúc sinh tiền là một tâm hồn cao thượng. Những ngày bị cùm kẹp trong phòng biệt giam, những vị tù bị cùm bên cạnh phòng của ông, vẫn thường nghe ông hát lên những Bài Thánh Ca với lời nguyện cầu cho đất nước, cho đồng bào, cho những người tù đồng cảnh ngộ. Mỗi lần viếng mộ ông, tôi chỉ vừa đi vừa nhìn, chứ không bao giờ dám đứng lại, vì tất cả tù nhân nếu ai đến thăm mộ ông mà bị chúng bắt được, sẽ bị vào nhà cùm biệt giam cả.
Tôi cũng biết chắc chắn, khi VC mở tòa án tại trại để tuyên án tử hình ông Trần Quang Trân, cũng như lúc xử bắn VC đều không cho thân nhân và vợ, con ông ở Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai được biết.
Bởi biết rằng tôi đã biết nhiều việc trong trại. Nên ngày cùng nhiều người vào trại nam, để học tập và viết tờ kiểm điểm trước khi ra tù, Nguyễn Văn Công người Bắc là "cán bộ an ninh" đã gọi riêng tôi y nói rằng: "Những gì chị đã được biết trong trại, chị phải hứa với tôi, sống để bụng, chết mang theo thì chị mới được ra trại." Tất nhiên là tôi đã hứa, vì không hứa làm sao để ra tù. Ra tù rồi, nhưng còn ở trong tay của VC tôi cũng không nói, còn bây giờ, tôi sợ gì mà không nói, chẳng những thế mà còn phải nói nhiều điều hơn nữa.
Nói về những vị đã chết trong trại tù còn nhiều lắm, khó có thể viết đầy đủ trên một trang báo. Nên tôi lại xin phép nữa để viết về một hòan cảnh thương tâm khác của một người, hay nói đúng hơn là của một gia đình đã bị VC đọa đày đến cảnh khốn cùng, nếu không có niềm tin nơi Đấng Tối Cao thì tôi chắc họ đã không làm sao vượt qua được những đớn đau, nghiệt ngã, oan khiên mà đảng Cộng sản Việt Nam đã giáng cho gia đình ấy.
Đó là trường hợp của gia đình Giáo sư Thượng nghị sĩ Bùi Văn Giải. Khi di cư vào Nam năm 1954, ông làm nghề dạy học, bà tảo tần buôn bán, tiết kiệm dành dụm tạo được một căn nhà tại phường Tam Tòa, đường Trần Cao Vân Đà Nẵng. Khi ông vào tù cải tạo, công an Đà Nẵng đã tịch thu căn nhà của ông bà. Bà đau buồn, ngã bệnh rồi mất ở tuổi đời 36. Ngày mất mẹ, các con ông và người thân đồng cầu khẩn VC cho ông về chôn cất vợ xong rồi tiếp tục vào tù, nhưng VC vẫn không cho. Ông đã không được nhìn mặt người bạn trăm năm vào giây phút cuối cùng! Nhờ bà con giúp đỡ, các con ông chôn mẹ, trong lúc cha vẫn ở trong tù! Chỉ có Trời cao mới thấu được nỗi đau thương của các con ông Bùi Văn Giải khi vấn vành khăn tang khóc mẹ, cũng như nỗi đớn đau của ông Bùi Văn Giải ở trong trại tù cải tạo!
Những năm dài ở trong lao lý, mỗi ngày ông Bùi Văn Giải lao động ở tổ rau xanh sau trại nữ, tôi vẫn thường thấy ông mái tóc bạc phơ, tấm thân gầy yếu, nhưng tiếng hát của ông qua những Bài Thánh Ca nghe vẫn vút cao như bay đến tận Trời xanh.
Ngày ra tù, theo lời Thầy, tôi đến thăm các con của Thầy. Được biết khi tịch thu nhà, công an Đà Nẵng nói là vì "nhân đạo" nên chừa lại một phòng trong căn nhà của ông bà chỉ bốn mét vuông, để các con ông ăn, ngủ, còn nấu nướng thì phải nhóm bếp ngoài sân. Nhưng những ngày mưa và mùa đông thì phải dời bếp vào phòng, bốn đứa con ông bà phải ăn, ngủ chung với tro và khói bếp. Nhưng chưa đủ, công an còn buộc các con của ông phải trả tiền nhà hàng tháng cho Ty nhà đất, vì căn nhà đã thuộc sự quản lý của nhà nước!
Với hoàn cảnh bơ vơ, cha ở tù, mất mẹ, các con ông phải bỏ học, đứa vá xe đạp, đứa làm thuê. Riêng Thư con gái út, là con gái yếu đuối lại còn nhỏ, nên phải làm nghề thêu, may mướn để góp phần trả tiền thuê cho chính căn nhà mà do mồ hôi, nước mắt của cha mẹ mình đã tạo nên. Vì nếu không trả thì sẽ bị đuổi ra khỏi phòng, rồi phải lang thang đầu đường xó chợ. Sau 13 năm tù cải tạo, ông đã sang Hoa Kỳ và hiện đang là Chủ nhiệm Nguyệt san Về Bên Mẹ La Vang tại Portland nhưng Thư con gái út của ông vẫn còn ở tại Việt Nam.
Nhà cầm quyền Hà Nội đã bao nhiêu lần "đổi mới" đã từng rêu rao sẽ trả lại những căn nhà đã cướp của dân miền Nam. Như vậy, tại sao cho đến giờ này vẫn không chịu trả lại căn nhà của ông bà Bùi Văn Giải ở phường Tam Tòa, đường Trần Cao Vân, Đà Nẵng? Mặc dù thế, nhưng trong một thư gửi cho tôi, Thầy đã viết: "Thầy không thù hận CS, nhưng không chấp nhận CS." Cho hay những người Việt Quốc Gia có thừa lòng nhân ái.
Lời Kết
Khi viết đến những dòng này, là lúc những hình ảnh và đoạn phim của Linh Mục Nguyễn Văn Lý tại tòa án Thừa Thiên, Huế, đã đồng loạt hiện lên trên các đài truyền hình, ở Âu Châu, đoạn phim ấy đã chiếu trên đài truyền hình Euronews. Trên các báo, và trên mạng lưới toàn cầu. Những hình ảnh đó đã cho cả thế giới thấy rõ cái man rợ của đảng cộng sản Việt Nam. Trước đây, cả thế giới cũng đã thấy tên Saddam Hussein từng giết hàng ngàn người, nhưng khi ra tòa y vẫn không bị cùm tay, không bị bịt miệng. Không những thế mà y còn được vung tay chỉ vào Thẩm phán lớn tiếng mà chửi. Còn nhà cầm quyền Hà Nội "Đỉnh cao trí tuệ của loài người" là như thế đấy.
Tuy nhiên, tôi vẫn thấy sự hy sinh của Linh Mục Nguyễn Văn Lý là không uổng phí. Bởi chính những hình ảnh đó đã, đang và mãi mãi làm cho đảng CSVN trở thành một lũ man rợ. Đảng CSVN với cả triệu đảng viên cùng công an, quân đội, máy bay, tàu chiến, đại bác, hỏa tiễn phòng không, nhưng đã thảm bại bởi một người Mục tử. Vì vậy, chúng đang cố tìm cách để gỡ một ván bài ngu muội. Chúng đã dàn dựng cho tên Phó Đại sứ Vũ Đăng Dũng tại Hoa Kỳ điện thoại về Thừa Thiên chửi mấy tên công an, để trấn an người Việt tỵ nạn ở hải ngoại.
Nhưng chúng không biết phải làm gì? Làm như thế nào? Rồi sẽ ra sao? Vì không thả vị Linh mục cũng không được, mà thả cũng không xong. Bởi hình ảnh và bước chân của người Mục Tử đã đi vào giữa lòng thế giới.
Quả đúng như vậy:
"Đẹp thay. Ôi ! Đẹp thay!
Những bước chân gieo mầm cứu rỗi.
Đẹp thay! Ôi! Đẹp thay!
Những bước chân rão khắp nẻo đường.
Ai gieo trong lệ sầu. Sẽ gặt trong vui sướng.
Ai đi trong nước mắt. Sẽ về giữa tiếng cười...
Ôi! Đẹp thay những bước chân tiến vào giữa lòng thế giới, loan niềm vui, niềm vui cứu đời, cho mọi người và mọi nơi, cho mọi người và mọi nơi...
Ta cùng tiến ai ơi, theo tình Chúa quên mình,
Lý tưởng Thần Linh muôn đời tôn kính.
Người đi trong nước mắt, và người về trong câu ca tay ôm bó lúa lòng mừng bao la...
Đẹp thay! Ôi! Đẹp thay!
Những bước chân gieo mầm cứu rỗi, đem niềm tin,
Niềm tin cứu đời cho mọi người và mọi nơi...
Cho mọi người và mọi nơi..."
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
|