banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Về Cung đình Cộng sản Hà-nội từ 1991 đến 2008
Cung Vua và Phủ Chúa

 

Bùi Tín

(nghiên cứu/biên khảo)

I- Lời mở đầu: Vì sao lại cần ngiên cứu chuyên đề này?

Từ cuối năm 2001, các bạn tôi từ Hà-nội cho biết có một chính phủ MA ở Hà-nội. Tôi tưởng đây là câu nói đùa cho vui. Thế mà là sự thật. Một sự thật thâm thúy, không dễ thấy. MA là gì. Phải chăng đó là viết tắt tên của 2 nhân vật tuy đã về hưu nhưng vẫn còn quyền uy lớn đối với chế độ cộng sản hiện hành? M là chỉ ông Mười, Đỗ Mười; A là chỉ ông Anh, Lê Đức Anh. MA là M+A một cặp nhân vật gắn bó với nhau Mười + Anh.

MA còn có nghĩa là ma quỷ, là có những mưu đồ thâm hiểm xảo quyệt, có hại cho dân cho nước. MA còn có nghĩa nữa là không có thật, nhưng do lòng tin mù quáng của một số người đời mà thành ra có uy quyền, gây nể sợ cho xã hội. Như con ma ở gốc cây đa, không có thật, nhưng do mê tín của người yếu bóng vía nên được kinh sợ, được cúng bái, dâng lễ, cầu xin sự che chở và ban ơn, ban bổng lộc, hạnh phúc.

Cũng từ Hà-nội các bạn tôi nói đến Cung Vua và Phủ Chúa. Ý nói Cung đình Hànội có thể ví như một triều đình phong kiến, Tổng bí thư có uy quyền tối cao, như một Hoàng đế, là kẻ có quyền quyết định tối cao và cuối cùng. Thời xưa, có Vua tốt, tài giỏi, đức độ, là ''Minh Quân'', có Vua xấu, dốt, ăn chơi trác táng, như vua ''Ngọa Triều ''.

Quanh Vua là Tứ trụ triều đình; nay trong Cung đình cộng sản là Ủy viên Thường trực Bộ chính trị, Chủ tịch Nước, Thủ tướng và Chủ tich Quốc hội.

Còn Phủ Chúa là ai? Là cái thế lực không có tên gọi, danh xưng chính thức, không có trụ sở chính thức, không có bộ máy chính thức, chỉ có M+A, chỉ có 2 nhân vật đã nghỉ hưu, nhưng vẫn có thế lực và quyền uy, có công cụ không thể coi thường. Xưa kia, có những thời kỳ có 2 quyền lực song song tồn tại, phối hợp rồi lại cạnh tranh với nhau, vua Lê - chúa Trịnh trong thế kỷ thứ 16.

Tình trạng Cung Vua và Phủ Chúa trong chế độ độc đảng ở Việt nam gần đây là có thật. Không những thế, nó còn là chìa khóa để có thể hiểu rõ được mọi diễn biến chính của thời cuộc Việt nam, của diễn biến thời sự ở Việt nam, những thành đạt và nhất là những trở ngại, mâu thuẫn và nghịch lý ở Việt nam trên con đường '' đổi mới '' và '' hòa nhập '', từ khoảng năm 1991, nghĩa là từ đại hội VII Đảng CS Việt nam đến nay.

Nó xứng đáng được đặt thành một chủ đề để khảo cứu một cách nghiêm chỉnh và khoa học, nhất là đối với các nhà hoạt động chính trị, những tổ chức và cá nhân đối lập với chính quyền độc đảng toàn trị, những trí thức yêu nước, nhà văn hóa, hoạt động văn học nghệ thuật chuộng tự do sáng tạo, các bạn trẻ khao khát cống hiến cho tổ quốc.

II- Hoàn cảnh dẫn đến tình trạng ''cung Vua và phủ Chúa''.

1. Sự sụp đổ của phe Xã hội chủ nghĩa (XHCN) và khủng hoảng chế độ chính trị ở Việt nam.

Các nước XHCN ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng chính trị vào cuối những năm 80 của thế kỷ 20, dẫn đến các nước Balan, Tiệp khắc, Bungari, Hungari, Nam tư... chuyển từ chế độ độc đảng lên đa đảng, rồi sự kiện bức tường Berlin đột nhiên sụp đổ tháng 11-1989 dẫn đến hòa bình thống nhất nước Đức trong chế độ dân chủ đa đảng đã là những sự kiện chính trị cực kỳ chấn động vào cơ quan lãnh đạo Đảng CS Việt nam. Niệm tin vững chãi do mù quáng giáo điều vào sự bất khả xâm phạm và thế tất thắng của phe CNXH bị tiêu tan trong thực tế; lý luận cơ bản về '' bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội (mác-xít) trên phạm vi toàn thế giới '' bị thực tế bác bỏ. Một không khí ảm đạm, giao động, cho đến hoang mang và bi quan bao trùm đảng. Bộ chính trị đảng CS Việt nam cố trấn tĩnh khi nhận những tin dữ, như vợ chồng ''đồng chí tổng bí thư Xéuxescu'' ở Rumani bị xử bắn và ''đồng chí tổng bí thư Honecker'' ở Berlin bị quản chế, chờ ngày ra tòa.

Niềm an ủi duy nhất đối với nhóm lãnh đạo ở Hànội lúc ấy là dù sao Liên Xô thành trì của phong trào cộng sản quốc tế còn tồn tại, và vẫn còn tồn tại vài nước cộng sản khác: Trung quốc, Bắc Triều tiên, Cuba; có thể kể thêm Lào nữa.

Một thời gian sau đó, vào tháng 8-1991, tình hình Liên Xô đột biến, cuộc đảo chính nhằm lật đổ tổng thống Gorbachev thất bại, Đảng CS Liên xô bị giải thể, Liên bang Xô Viết tan vỡ, tổng thống Yeltsin lên cầm quyền với một nước Nga đa nguyên đa đảng. Trên thế giới, chiến tranh lạnh giữa 2 phe chấm dứt. Phong trào cộng sản quốc tế tan vỡ. Đây là một cơn động đất chính trị kinh hoàng đối với nhóm lãnh đạo CS cầm quyền ở Hànội. Vì suốt nửa thế kỷ, đảng CS Liên xô và Liên bang Xô viết là chỗ dựa vững chắc về tư tưởng, lý luận, chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, là Người Thày, là Ngôi sao, là Khuôn mẫu, nguồn cung cấp vũ khí - tên lửa, máy bay, rada, tàu chiến -, trang bị kỹ thuật công nghiệp, lương thực, ngoại tệ...

2- Trước một sự lựa chọn có ý nghĩa quyết định : Nhóm lãnh đạo CS ở Hànội đứng trước một sự lựa chọn có ý nghĩa quyết định cả về đường lối đối nội và về đường lối đối ngoại.

Về đối nội, có nên tiếp tục con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội (mác-xít) và chủ nghĩa cộng sản như đã thực hiện lâu nay hay không ? Hay nên theo con đường chuyển biến từ chuyên chế sang dân chủ, từ độc dảng sang đa nguyên đa đảng như một số nước ở Đông Âu cùng nước Nga và một số nước thuộc Liên Xô cũ vừa trải qua, theo con đường Perestroika (cải tổ) và Glasnost (minh bạch) do Gorbachev đề xướng?

Về đối ngoại, có nên rời bỏ phong trào cộng sản quốc tế đã tan rã và phe xã hội chủ nghĩa đã tan vỡ, để hòa nhập dứt khoát vào thế giới dân chủ gồm tuyệt đại đa số nước đã thực hiện chế độ chính trị đa nguyên đa đảng, lấy xã hội công dân, với tự do ngôn luận, báo chí, bầu cử làm nền tảng?

Thật ra đã không có một cuộc thảo luận nghiêm chỉnh trong đảng CS, trong quốc hội, trong bộ máy chính quyền, trong giới trí thức-học thuật cũng như trong giới truyền thông báo chí ở nước ta. Sự thật đáng sợ quá!

Qua nửa thế kỷ cầm quyền của đảng CS trên miền Bắc và hơn 16 năm trên cả nước, quyền tự do suy nghĩ, tự do ngôn luận của người dân đã bị thủ tiêu, người dân ít có ai giữ được khả năng tư duy độc lập, hầu như toàn dân đã quen với nếp sống đã có đảng lo nghĩ thay cho mình mọi sự. Cả một lớp trí thức đã bị đảng làm cho mê muội, cắt đứt với thế giới tiến bộ, gần như vô cảm đối với vận mệnh dân tộc và cuộc sống mất tự do của nhân dân.

Hệ thống truyền thông như truyền thanh, truyền hình, báo chí đều nằm trọn trong tay đảng, nếu như đảng sáng suốt, minh mẫn, sáng tạo thì dân được nhờ, đảng sai lầm, giáo điều, hủ lậu thì dân đành chịu, chỉ còn biết lắc đầu, thở dài và cam chịu, nếu không muốn chuốc vạ vào mình và gia đình.

Do đó, vào năm 1991, khi đảng CS Liên Xô tắt thở và phe XHCN cáo chung, lẽ ra đảng CS Việt nam cần có một cuộc nhìn lại mình thật sâu sắc, triệt để, thực hiện một cuộc tự phê bình chân thực đầy trách nhiệm trước dân tộc và nhân dân, bày ra mọi khả năng lựa chọn về con đường sắp tới, lấy ý kiến của toàn đảng và toàn dân, cân nhắc phải trái, hơn thiệt cho thật kỹ càng chu đáo, thế nhưng nhóm lãnh đạo đảng CS đã không làm như thế.

Tệ sùng bái đảng CS, sùng bái lãnh tụ Hồ Chí Minh, đinh ninh rằng đảng và lãnh tụ không bao giờ lầm lẫn, làm cho mỗi con người mất sáng suốt, mù quáng, dù thấy sai cũng không dám nói, biết đường đì sai mà không dám quay lại, đây là bi kịch kinh khủng nhất của đảng CS, của nước ta, trong hơn nửa thế kỷ qua.

(*1) - Hồ Chí Minh : sự tước đoạt của lòng yêu nước, luận văn của nhà triết học Pháp Jean-François Rével (xem Phụ lục ở dưới cùng)

Một cơ hội lịch sử đã bị bỏ qua, do bản chất tự mãn, cao ngạo của nhóm lãnh đạo cộng sản, luôn bị tự mình mê hoặc mình về cái gọi là '' chiến công lịch sử đánh thắng liền 3 đế quốc hàng đầu của châu Á (Nhật bản), châu Âu (Pháp) và châu Mỹ (Hoa kỳ) ''. Những cơn say chiến thắng với căn bệnh kiêu ngạo chủ quan của nhóm lãnh đạo dẫn đến thảm họa sâu thẳm và kéo dài như vô tận của nhân dân bất hạnh không lối thoát.

Trách nhiệm này đè nặng trên vai Bộ chính trị của khóa Đai hội VII ĐCS Việt nam. Mặt khác, cả một tầng lớp trí thức vốn thông minh hiếu học bị chăn dắt theo kiểu nhồi sọ, giáo điều lâu năm đã trở nên thụ động và vô cảm, để mặc cho tình hình đất nước nổi trôi, tự cảm thấy vô can và bất lực. Với tình trạng ấy, trong đảng và ngoài đảng, khó có thể xuất hiện một nhân vật mà lịch sử cần đến, như một Lech Walesa hay một Vaclav Havel, một Gorbachev hay một Yelsin.

Công bằng mà nói, hồi 1988 có xuất hiện một Trần Xuân Bách trong bộ chính trị, rồi đến 1995 một Trần Độ với quân hàm trung tướng, nguyên uỷ viên trung ương đảng, phó chủ tịch Quốc hội, rồi một Phan đình Diệu tiến sỹ toán học ủy viên Đoàn chủ tịch Mẵt trận Tổ quốc ... lên tiếng đòi chấm dứt nền chuyên chính một đảng, chuyển hướng sang nền chính trị đa nguyên, tiến theo những giá trị dân chủ của thới đại. Những nhân vật này, tuy thất bại tạm thời, đã vớt vát danh dự của cả lớp trí thức còn mê muội và mê ngủ, tự chuốc lấy sự trừng phạt, trả thù và vu cáo của nhóm lãnh đạo, nhưng đã nêu gương sáng quý hiếm về trí tuệ và tâm huyết cho thế hệ tiếp theo.

3 - Chọn phương hướng của Đại hội VII ĐCS Việt nam:

Năm 1986, Đại hội VI họp từ ngày 15 đến 18 tháng 12 quyết định thực hiện đường lối ''Đổi mới''. Một không khí phấn chấn và hy vọng nảy sinh sau hơn 10 năm khủng hoảng triền miên, do bị cô lập và phong tỏa sau khi quân đội ''nhân dân'' Việt nam vào Cambốt và ở lại, sa lầy trong gần 10 năm. Việt nam vào Liên Hợp Quốc từ cuối năm 1977, nhưng chỉ để bị lên án tại đó về hành động '' chiếm đóng lâu dài đất nước Chùa Tháp ''. Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 và cuộc chiến tranh Việt nam - Khơme Đỏ ở phía Nam (từ 1977 đến 1988) là 2 cuộc chiến do bành trướng Bắc kinh thực hiện nhằm làm suy yếu Việt nam toàn diện, Lạm phát lên đến 300, rồi 500% / năm. Tài nguyên kiệt quệ. Chỗ dựa duy nhất ở bên ngoài là Liên Xô cũng đầy khó khăn và khủng hoảng. Nhóm lãnh đạo do Tổng bí thư Trường Chinh, rồi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh (được bầu trong Đại hội VI) cầm đầu buộc phải thực hiện cuộc '' đổi mới'' theo hướng perestroika (cải tổ) và glasnost (minh bạch, công khai) của đảng CS Liên xô. ''Quân tình nguyện'' Việt nam rút hết khỏi Cambốt năm 1988. Khoán sản phẩm được thực hiện rộng khắp trong nông nghiệp; tự do buôn bán, lưu thông, kinh doanh được áp dụng; tự do sáng tạo trong văn học nghệ thuật được khuyến khích. Một không khí thoải mái, dễ thở, hy vọng được nhen nhóm. Trong giới trí thức, có một luồng không khí lạc quan tuy còn dè dặt đặt ở các nhân vật Nguyễn Văn Linh, Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Kiệt...Trong những năm 1987 và 1988, bên cạnh tự do kinh tế, một số tự do chính trị đã thành hiện thực, như bước đầu tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tranh luận và tự do sáng tác trong không khí khá là cởi mở, thoáng đãng và hứng thú.

Lẽ ra Đại hội VII được chuẩn bị từ đầu năm 1990, họp từ 24 đến 27 rháng 6 năm 1991 phải mang những nội dung tiến bộ hơn Đại hội VI như cả xã hội mong chờ, thì ngược lại, nó lại là một bước lùi, và oái oăm hơn, còn là bước lùi ngoạn mục!

Trước những diễn biến thời cuộc ở Đông Âu năm 1990, thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết ở Balan, bước tiến của Hiến chương 77 ở Tiệp khắc, dân Hungari hàng vạn người di cư sang Áo, rồi bức tường Berlin bị thủng rồi vỡ tan trong niềm hân hoan phẩn khởi vô tận của quần chúng tại đó, bộ chính trị ở Hànội lại hoảng sợ đến kinh hoàng. Họ hoảng sợ bị mất quyền, quyền lợi cũng sẽ mất.

Nghị quyết Đại hội VII ghi rõ nguy cơ số một của đảng và đất nước là '' trệch hướng Xã hội chủ nghĩa'', nói rõ đây là CNXH mác-xít, với nền chuyên chính vô sản, độc quyền của đảng cộng sản, và nguy cơ đi cùng nguy cơ nói trên là nguy cơ ''diễn biến hòa bình'' nghĩa là thay đổi chế độ từ độc đảng sang đa nguyên đa đảng bằng phương pháp không bạo lực. Hai nguy cơ khác nữa được Đại hội VII chỉ ra là nguy cơ tham nhũng tràn lan và nguy cơ tụt hậu, thua kém các nước láng giềng ngày càng xa.

4- Từ phân tích nguyên nhân tan rã của phe XHCN

Về nguyên nhân đột biến chính trị ở Đông Âu và nguy cơ tan rã của phe XHCN, có 2 cách phân tích trái ngược nhau.

a)- một cách phân tích phổ biến rộng rãi trên thế giới cho rằng sự thất bại của mô hình XHCN mác-xít, sự tan rã của phe XHCN do Liên Xô cầm đầu là hợp quy luật phát triển xã hội, là nằm trong cái bản chất độc đoán phi dân chủ của cái mô hình và cái phe ấy, nằm trong bản chất hung bạo của nền chuyên chính vô sản và của học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác, ở tính chất tàn bạo phi nhân trong vận dụng lý luận Mác-xít vào thực tế bởi Lénin, Stalin, Mao và các đảng cộng sản khi nắm được chính quyền. ''Hồ sơ đen của chủ nghĩa cộng sản'' (Le livre noir du communisme) là cuốn sách kinh điển do các nhà lý luận chính trị, triết học có uy tín nhất ở phương Tây chung sức tổng kết đã chứng minh chủ nghĩa xã hội thực tiễn đã tàn sát đến hơn 100 triệu nhân dân các nước nó thống trị trong ''hòa bình'', phần lớn là thuộc bộ phận tinh hoa của các dân tộc, vượt quá tội ác của bọn phát xít Hitler.

Những người có tư duy khách quan khoa học trên đây coi sự xuất hiện của phe XHCN - mà Việt nam từng tự nhận là một tiền đồn - thật ra chỉ là một lầm lẫn của Lịch sử loài người, sự tiêu vong tất yếu của nó nằm ngay trong bản chất Trí tuệ, Thiện, Lành mạnh của con người có khả năng chiến thắng mặt Mù quáng, Ác, Bệnh hoạn cũng của con người trên thế gian này. Họ đánh giá những Walesa, Havel, Gorbachev, Yeltsin ... là những nhân vật sáng suốt và dũng cảm, những nhân vật mang chất nhân bản và anh hùng, được cả quần thể loài người quý trọng bền lâu, chẳng cần đến tượng đồng hay bia đá, lăng tẩm đồ sộ nặng nề. Họ đã được các thế lực tiến bộ trên khắp thế giới khuyến khích, ủng hộ và tiếp sức trong sự nghiệp cứu nước của mình.

b)- cách phân tích khác cho rằng các nước XHCN Đông Âu bị giải thể, từơng Berlin bị đổ sập, đảng CS Liên Xô tan vỡ, Liên bang Xô viết cáo chung, phe XHCN rã rời là một sự kiện đau xót cho phong trào cộng sản quốc tế và nhân loại tiến bộ (!), là tội ác phá hoại gây nên bởi bọn cơ hội hữu khuynh trong phong trào cộng sản đã phản bội phong trào, tự nguyện làm tay sai cho chủ nghĩa đế quốc thế giới. Với cách phân tích chủ quan, giáo điều, không dám nhìn thẳng vào sự thật, những người lãnh đạo cộng sản mù quáng, hoang tưởng giải thích rằng thất bại này chỉ là về chiến thuật, tạm thời (!), chỉ là một cơn bão có giới hạn trong không gian và thời gian, rồi sẽ trời quang mây tạnh, phong trào cộng sản và phe XHCN sẽ hồi phục và toàn thắng (!).

Cứu vớt CNXN đang lâm nguy, cứu vớt phe XHCN đang chìm xuồng là 2 lời kêu cứu và khẩu hiệu hành động khẩn cấp của Đại hội VII.

Trung thành với chủ nghĩa Mác-Lénin - mà bức hình màu to lớn của 2 vị này nổi bật trước hội trường của Đại hội, ngự trị ngay trên bức tượng Hồ Chí Minh, Đại hội VII chủ trương trụ vững chế độ XHCN mác-xít trước sóng to gió lớn, thắt chặt liên minh với các nước XHCN anh em còn lại bao gồm Trung quốc, Cuba, Lào và Bắc Hàn.

Chủ trương và đường lối này liên quan đến mối quan hệ giữa Việt nam và Trung quốc, giữa đảng CS Việt Nam với đảng CS Trung quốc.

Mối quan hệ này đóng vai trò cực kỳ hệ trọng, có thể nói là quyết định trong việc hình thành thế '' Cung vua và Phủ chúa '', chủ đề nghiên cứu của bài khảo luận này.

 

Đọc tiếp…