banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Về Cung đình Cộng sản Hà-nội từ 1991 đến 2008
Cung Vua và Phủ Chúa
(t.t)

 

 

5- Mối quan hệ giữa Việt nam và Trung quốc.

Đây là mối quan hệ thay đổi, lên xuống, khi là bạn cực thân khi là thù không đội trời chung, khi là đồng chí khi là địch thủ, khi hòa bình khi chiến tranh, khi liên minh đoàn kết khi mâu thuẫn đối kháng trong mấy chục năm qua.

Từ xa xưa, một nghìn năm Bắc thuộc, rồi các cuộc xâm lược thời Nguyên - Mông để lại những dấu ấn sâu đậm trong quan hệ 2 nước.

Bước vào Đại hội VII, giữa năm 1991, quan hệ Việt-Trung đang ở vào thời điểm tế nhị. Cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung đầu năm 1979 vẫn hằn sâu trong trí nhớ của nhân dân 2 nước. Cuộc chiến tranh Việt nam - Khơme Đỏ cũng là một kiểu chiến tranh Việt - Trung, Bắc kinh dùng quân Khơme Đỏ do họ nuôi dưỡng, trang bị, huấn luyện và chỉ huy làm chảy máu Việt nam dòng dã hơn 10 năm (với hơn 50 ngàn sinh mạng thanh niên Việt và 30 vạn bị thương) chỉ mới chấm dứt được hơn 2 năm, khi quân Việt nam rút hết khỏi Cambốt.

Lê Duẩn, tổng bí thư đảng CS Việt nam từ Đại hội III (tháng 9- 1960) trong thời kỳ cuối đời mình đã chuyển sang lập trường chống bá quyền Trung quốc mạnh mẽ nhất, từng nói công khai rằng '' Việt nam còn phải kiên cường và cảnh giác chống bành trướng bá quyền Trung quốc hàng trăm năm nữa '', đã qua đời vào tháng 7 năm 1987; bên Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình tổng bí thư đảng CS Trung quốc, người từng chủ trương trừng phạt Việt nam bằng những đòn quân sự mạnh mẽ, vẫn còn ở cương vị đầy quyền uy: Chủ tịch ủy ban Quân sự trung ương đảng. Đặng Tiểu Bình cũng đã đặt vào vị trí tổng bí thư đảng CS Trung quốc nhân vật tin cẩn nhất của ông ta là Giang Trạch Dân từ tháng 6 năm 1989, cùng với Lý Bằng ở cương vị Thủ tướng. Hai nhân vật này theo gương Đặng Tiểu Bình luôn tỏ ra cao ngạo, trịch thượng với Việt nam.

Đặng cũng như Giang và Lý đều rất cay cú về việc tháng 12-1980, Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt nam khóa VI, kỳ họp thứ 7, nhất trí thông qua bản Hiến pháp mới năm 1980, thay cho bản hiến pháp cũ năm 1960, trong đó ''Lời nói đầu'' đã thêm hẳn một đoạn, toàn văn như sau:

"Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta tha thiết mong muốn có hòa bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung quốc xâm lược, cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây-Nam và chống bọn bá quyền Trung quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình ".

6- Cuộc gặp cấp cao Việt Trung ở Thành Đô (tháng 9-1990)

Từ đầu năm 1990, khi các văn kiện chuẩn bị cho Đại hội VII đã được thông qua và đưa xuống cho cơ sở các địa phương thảo luận, Bắc kinh qua sứ quán Tàu ở Hànội nắm chắc mọi động tĩnh trong nội bộ đảng CS Việt nam, ngửi thấy xu thế mong muốn hòa giải và liên minh trở lại với Trung quốc, liền đi một nước cờ hiểm hóc.

Ngày 29-8-1990 đại sứ Trương Đức Duy xin gặp tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và thủ tướng Đỗ Mười để chuyển thông điệp của tổng bí thư Giang Trạch Dân và thủ tướng Lý Bằng mời 3 vị: tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, thủ tướng Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên vào ngày 3-9-1990 để ''hội đàm bí mật về vấn đề Cambốt và vấn đề bình thường hóa giữa 2 nước''. Mới trước đây họ tỏ ra lạnh nhạt, chần chừ trong việc gặp cấp cao và bình thường hóa, bỗng tỏ ra thiện chí nhanh nhẩu đến mức khẩn cấp, cuộc gặp sẽ diễn ra chỉ sau lời mời có 5 ngày. Nhóm lãnh đạo Bắc kinh sớm nhận ra rằng trong cơ quan lãnh đạo Hà nội đang hình thành một nhóm nhân vật tỏ rõ nhu cầu sớm hòa giải và liên minh với Trung quốc, cần tranh thủ ngay để tác động đến Đại hội VII cả về đường lối và nhân sự.

Theo nhận xét của thứ trưởng Trần Quang Cơ lúc ấy nắm chắc mọi hồ sơ tuyệt mật, cuộc họp cấp cao Thành đô là một thất bại, phía Việt nam bị mắc bẫy, bị mắc lỡm, bị đánh lừa và chơi xấu bởi Đặng tiểu Bình, Giang Trạch Dân và Lý Bằng. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thiếu kinh nghiệm quốc tế, nhanh nhẩu ''vâng vâng dạ dạ'' mọi ý kiến của phía Trung quốc, lại còn đi xa hơn họ, bảo hoàng hơn vua, đồng tình ngay với công thức 6+2+2+2+1 = 13 về thành viên của Hội đồng Quốc gia tối cao SNC (Suprême National Council) ở Cambốt: 6 người phía Hun Sen+2 Khơme đỏ, 2 của Son San , 2 của Sihanouk + bản thân Sihanouk. Dự kiến trước đó là SNC chỉ có 12 người, mỗi phía 6, không có riêng Sihanouk ở vị trí Chủ tọa như Bác kinh vừa thêm vào. Sự chấp nhận của Hànội ngay sau đó vấp phải sự phản đối của Hun Sen, Hun Sen cho rằng Việt nam đã thỏa hiệp vô nguyên tắc trên lưng chính quyền Pnom Penh.

Bẽ bàng hơn nữa cho phía Việt nam là '' giải pháp đỏ '' đưa ra với nội dung đoàn kết chặt chẽ tất cả các đảng cộng sản lại từ đảng CS Trung quốc, Việt nam, đảng của Hun Sen, CS Khơme đỏ..., cùng nhau trụ lại trước hiểm nguy, tưởng rằng sẽ được Bắc kinh vồ vập, liền bị phía Trung quốc lạnh nhạt bác bỏ. Lý Bằng giải thích rằng đảng của Hun Sen và đảng của Pol Pốt khó đoàn kết với nhau, 2 phái cộng sản này uy tín quốc tế kém hơn uy tín quốc tế của phái Son San và phái Sihanouk, do đó nếu gắn bó với nhau chỉ cản trở thêm cho công việc của Hội đồng Dân tộc Tối cao trong thực hiện hòa giải ở Cambốt. Giang Trạch Dân còn nói rõ cho phía Việt nam rằng : '' Tình hình quốc tế hiện nay, nếu để 2 đảng CS (Trung quốc và Việt nam) bắt tay nhau là không có lợi; các nước phương Tây rất chú ý đến quan hệ giữa chúng ta ''. Ai cũng biết, từ lâu Đặng Tiểu Bình và nhóm lãnh đạo Bắc kinh không còn nói đến chủ nghĩa quốc tế vô sản, không nói gì đến phe XHCN, họ nhấn mạnh đến kiểu XHCN riêng biệt của Trung quốc, mang màu sắc riêng, đặc biệt của dân tộc Trung quốc, quay về chủ nghĩa dân tộc, trong khi nhóm lãnh đạo Việt nam vẫn cò mơ màng về tình nghĩa quốc tế.

Trước khi khai mạc Đại hội VII, cố vấn Phạm Văn Đồng lúc này đã 85 tuổi, mắt gần như mù, tai ngễnh ngãng, dự cuộc họp của bộ chính trị kiểm điểm về công tác đối ngoại, than thở rằng: '' ở Thành Đô chúng ta đã sai lầm, để lại hậu quả xấu; ta đã hớ, ta đã dại. Tôi rất ân hận; lẽ ra tôi không nên đi; tôi rất đau lòng ''.

Chỉ có thủ tướng Đỗ Mười là hài lòng, thậm chí vui sướng về chuyến đi Thành Đô. Từ giữa năm 1990, khi bàn đến nhân sự cho Đại hội VII, tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã hơn 76 tuổi ngỏ ý xin nghỉ, sẽ lên ngôi cố vấn. Cuộc loại bỏ nhân vật cấp tiến Trần Xuân Bách năm 1989 như một vòi nước lạnh dội lên cuộc ''đổi mới'' chỉ mới khởi động được hơn 2 năm. Một trào lưu bảo thủ giáo điều cơ hội trỗi dậy với những nhân vật dẫn đầu trong bộ chính trị khóa VI là: Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình, Phạm Thế Duyệt, Đoàn Khuê, Nông Đức Mạnh. Mọi người đều biết Tổng bí thư mới sẽ là ông Đỗ Mười, tuy đã 73 tuổi, và thủ tướng mới sẽ là ông Võ Văn Kiệt.

Ông Đỗ Mười liền chọn ngay ông Lê Đức Anh, uỷ viên bộ chính trị, đại tướng, bộ trưởng bộ Quốc phòng làm người thân tín nhất. Từ cuối năm 1990, ông Đỗ Mười giao hẳn cho tướng Anh, nguyên tư lệnh '' quân tình nguyện Việt nam '' ở Cambốt, phụ trách theo dõi việc giải quyết vấn đề Cambốt cùng với ban đối ngoại trung ương do Hồng Hà - một người tin cẩn của ông Mười, làm trưởng ban. Trên thực tế ông Mười đặt bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và bộ ngoại giao trong đó có Vụ Trung quốc trong tình trạng ''ngồi chơi xơi nước''. Ông Thạch không được Trung quốc mời sang Thành đô; đi theo 3 cụ lớn đến Thành đô chỉ có Chánh văn phòng trung ương Hồng Hà (lúc này Hồng Hà đã được Đỗ Mười hứa cho chức Trưởng ban đối ngoại trung ương thay Hoàng Bích Sơn sắp về nghỉ). Tướng Anh ngay từ cuối năm 1990 đã cùng Hồng Hà mời cơm riêng Đại sứ Tàu Trương Đức Duy cũng như tiếp trợ lý ngoại trưởng Từ Đôn Tín khi ông này ghé qua Hànội.

7- Chủ trương'' liên minh với Bắc kinh'' được thực hiện:

Nét nổi bật ở Đại hội VII trong đường lối đối ngoại của đảng CS là xích gần lại với Bắc kinh, ngả theo Bắc kinh, sớm bình thường hóa với Bắc kinh, đi đến thắt chặt liên minh với Bắc kinh, trước nguy cơ CNXH bị thủ tiêu và phe XHCN bị tan vỡ.

Khác hẳn với Nghị quyết của Đại hội VI (tháng 12-1986) chủ trương quan hệ đa phương, bình thừơng hóa với tất cả các nước, hợp tác trao đổi kinh tế, giao hảo với tất cả các nước gần xa trên cơ sở bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, Đại hội VII lái hẳn sang hướng ưu tiên hòa giải và kết liên minh trở lại với Trung quốc XHCN, bởi lẽ Trung quốc có chung một chế độ XHCN mác-xít, đều lãnh đạo bởi một đảng CS theo học thuyết Mác-Lénin, lại ở sát bên nhau, hiện cùng gặp những nguy cơ chung là mất CNXH, mất độc quyền chuyên chính của đảng CS. Chủ trương này được gọi gọn là ''giải pháp đỏ''.

Sau Đại hội VII (tháng 6-1991), nhất là sau khi Liên bang Xô việt tan rã và đảng CS Liên xô bị giải thể (tháng 8 - 1991), hơn 200 báo cáo viên của Ban tư tưởng và văn hóa trung ương được phái đi các địa phương, các ngành để phổ biến nội dung Nghị quyết của Đại hội, đặc biệt chú trọng lời căn dặn mỗi đảng viên phải ghi nhớ rằng trong quan hệ đối ngoại tuy đảng nói công khai là bình thường hóa, quan hệ hữu hảo, làm bạn với ''tất cả các nước'', những vẫn phải phân biệt 5 nấc bạn bè đậm nhạt khác nhau:

a)- trước hết là các nước XHCN, cùng chung chế độ chính trị, dù cho có lúc có xung đột tạm thời, nay phải cùng nhau trụ lại trên tinh thần quốc tế vô sản để vượt qua nguy cơ bị lật đổ, gốm có Việt nam, Cuba, Trung quốc, Bắc Hàn, Lào ;

b)- các nước độc lập dân tộc tiến bộ từng chung hàng ngũ chống đế quốc, như Ấn độ, Angiêri, Aicập, Vénézuéla...

c)- các nước độc lập dân tộc khác từng chống đối Việt nam, sẽ có quan hệ bình thường và hợp tác, như các nước trong tổ chức ASEAN : Thái lan, Philippin, Inđônêxia, Malaisia, Singapour và Nam Hàn, Đài loan...

d)- các nước tư bản nói chung: Pháp, Đức, Ý, Tâybannha... ở châu Âu, Canada, Úc, Tân tây lan, Nhật bản...

đ)- cuối cùng là Hoa kỳ, kẻ thù cũ đang còn có âm mưu thực hiện ''diễn biến hòa bình'', cần thận trọng và cảnh giác với nước này còn vì trên đất Mỹ hiện có thế lực chống cộng ''nguy hiểm'' nhất trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Tại Đại hội VII họp từ 24 đến 27-6-1991, ông Nguyễn Văn Linh lên hàng cố vấn cùng với chủ tịch nước Võ Chí Công đã 78 tuổi, Đỗ Mười nhận chức tổng bí thư, tướng Lê Đức Anh được phân công chờ cuộc họp Quốc hội giữa năm 1992 để thay ông Công làm chủ tịch nước. Ngay sau Đại hội, Đỗ Mười xếp tướng Anh ở vị trí số 2 trong đảng, phụ trách cả 4 mảng: chính quyền, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, nhân vật số 3 trong đảng là Đào Duy Tùng, ủy viên thường trực Ban bí thư, một nhân vật rất giáo điều, bảo thủ, từng đòi '' đưa Trần Xuân Bách ra khỏi đảng CS ''. Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, từng nhận ông Trần Xuân Bách về làm việc tại bộ ngoại giao ngay sau khi ông bị khai trừ khỏi bộ chính trị và ban chấp hành trung ương, từng cãi lại phái viên ngoại giao của Bắc kinh Từ Đôn Tín chiều 13-6-1990 rằng '' chúng tôi không nói dối, chính các vị đã xuyên tạc '' và 2 người đã từ biệt nhau bằng lời chào nhau chưa từng có ''chào ngài '', đến Đại hội VII ông Thạch cũng bị đưa ra khỏi bộ chính trị, coi như ''món quà tặng'' cho Thiên triều.

(*2) xem tập Hồi ức và Suy nghĩ của Trần Quang Cơ, công bố ngày 23-1-2001, hoàn chỉnh ngày 22-5-2003 , hơn 60 trang (Phụ lục).

8- Từ đặc phái viên đến Đoàn đại biểu đặc biệt của Ban chấp hành trung ương:

Ngay sau khi Đại hội VII kết thúc, Tổng bí thư mới Đỗ Mười gặp đại sứ tàu Trương Đức Duy ngỏ ý cử ngay một Phái viên đặc biệt của đảng CS Việt nam sang Bắc kinh thông báo về kết quả tốt đẹp của Đại hội. Bắc kinh tỏ ý hân hoan và nâng cấp lên thành '' Đoàn đại biểu đặc biệt của Ban chấp hành trung ương '' dù cho Đoàn chỉ gồm có 2 người : nhân vật số 2 Lê Đức Anh, ủy viên thường trực bộ chính trị, phụ trách lãnh đạo cả 4 mảng: chính quyền, quốc phòng, an ninh và đối ngoại và ủy viên ban bí thư trung ương Hồng Hà, mới nhận chức Trưởng ban đối ngoại trung ương đảng, rất gần với ông Mười và ông Anh. Đoàn được cả Giang Trạch Dân, Lý Bằng niềm nở tiếp đón ngày 28-7-1991. Lê Đức Anh và Hồng Hà còn hạ mình xin gặp thứ trưởng ngoại giao Từ Đôn Tín, người từng cãi, to tiếng với ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch hơn một năm trước, để '' tạ lỗi '' (!) rằng: '' Năm ngoái khi đồng chí sang Việt nam đã có những trục trặc không vui, chúng tôi rất đau lòng ''(!)

Chỉ hơn 3 tháng sau, việc bình thường hóa giữa 2 nước được ký kết vào ngày 5-11-1991 tại Bắc kinh, với sự tham gia của tổng bí thư Đỗ Mười và thủ tướng Võ Văn Kiệt. Việc bình thường hóa diễn ra chỉ hơn 2 tháng sau khi đảng CS Liên Xô bị giải thể, Liên bang Xô viết tan rã, phe xã hội chủ nghĩa mất đầu, rã rời. Lãnh đạo Việt nam hý hửng nghĩ rằng may ra có thể trụ lại bằng ''giải pháp đỏ'', tất cả các lực lượng cộng sản còn lại, bất kể màu sắc ra sao, cùng nhau trụ lại quanh đảng CS Trung quốc to lớn, có 40 triệu đảng viên trên một nước rộng lớn có hơn 1 tỷ dân. Việt nam nhỏ bé mất chỗ dựa quý báu, toàn diện, vững chãi là Liên xô, nay tìm ngay ra một chỗ dựa mới khá là bề thế để có thể yên lòng. Họ vẫn còn mơ màng khôi phục lại phe XHCN và phong trào CS quốc tế vang bóng một thời, với người anh Cả mới là đảng CS Trung quốc.

Thế nhưng đảng CS Trung quốc không nghĩ vậy. Họ có cách nhìn tỉnh hơn, thực tế hơn. Sau khi bình thường hóa với Việt nam, hệ thống báo cáo viên của họ tỏa đi khắp nước và giải thích qua báo, phát thanh địa phương rằng Việt nam vẫn không đáng tin, vẫn ôm mộng bá chủ Đông dương, cho nên mối quan hệ Trung-Việt phải theo nội dung : '' thân mà không gần, nhạt mà không xa, chống mà không đánh nhau '' ( thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đấu). Họ hiểu rõ tâm lý dân Việt, tinh thần chống bành trướng phương Bắc trong nhân dân, trong quân đội và trí thức, cũng như tinh thần giáo điều ỷ lại mong muốn liên minh với họ của một nhóm lãnh đạo đảng CS Việt nam giao động, nao núng trước thời cuộc. Họ rắp tâm lôi kéo, mua chuộc nhóm này không phải để khôi phục phe XHCN và phong trào CS quốc tế mà chỉ nhằm phục vụ cho dã tâm bành trướng của họ.

Ông Nguyễn Cơ Thạch từng phân tích sâu sắc 2 mặt của nhóm lãnh đạo Trung quốc: mặt cách mạng, cộng sản, XHCN, tinh thần quốc tế... và mặt bá quyền, bành trướng, xâm lược, dân tộc nước lớn, và cho rằng đối với Việt nam, Đông dương và Đông Nam Á , Trung quốc đang '' biểu diễn mặt thứ hai là mặt chính, mặt thật ''. Trên tinh thần ấy, ông Thạch hạ một nhận định chua cay : '' việc bình thường hóa Việt - Trung tháng 11-1991 như đã diễn ra, sự thật là bắt đầu một thời kỳ phụ thuộc hóa !''. Chúng ta nghĩ đến thời kỳ Bắc thuộc nghìn năm thời xa xưa. Nay nó khởi đầu lại từ Đại hội VII (1991), qua 3 đại hội, đến sau Đại hội X (2006) rồi, gần 20 năm nay vẫn chưa chấm dứt.

9- Cơn thèm bành trướng sau bình thường hóa tháng 11-1991:

Sang năm 1992, Bắc kinh lại có thêm nhiều tin mừng. Sứ quán Trung quốc trên đường Hoàng Diệu (dinh Hoàng Cao Khải cũ, cực kỳ tráng lệ) đóng cửa từ năm 1978, hé mở từ năm 1990, sau khi bình thường hóa giữa 2 nước từ tháng 11-1991 được mở rộng cửa, xe cộ ra vào tới tấp, cờ 5 sao lớn được dựng lên, các dãy nhà chính của Sứ quán và cơ quan lãnh sự đều sơn cửa, tường quét vôi mới.

Theo kể lại của nguyên Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ hồi ấy, trong phiên họp Hội đồng chính phủ đầu năm 1992, trưởng ban đối ngoại trung ương Hồng Hà (cũng là ủy viên Ban bí thư trung ương) phổ biến cho các bộ trưởng rằng theo phân công của đảng, từ nay '' 2 đồng chí Lê Đức Anh và Hồng Hà phụ trách việc thương lượng về giải pháp cho vấn đề Cambốt; trong quan hệ với Trung quốc, từ nay các đồng chí có thể quan hệ thẳng với anh Trương Đức Duy, không cần qua sứ quán ta ở Bắc kinh ''. Ý Hồng Hà muốn nói là đại sứ Trung quốc Trương Đức Duy đã trở nên thân thiết như ngưòi anh em của ta (gọi Trương Đức Duy bằng ''anh'' lúc này còn thân hơn là ''đồng chi''). Hơn nữa, lúc này chưa có ai thay ông Nguyễn Cơ Thạch làm bộ trưởng ngoại giao; còn đại sứ Việt nam tại Bắc kinh Đặng Nghiêm Hoành đã bị gọi về sau khi thứ trửỏng Từ Đôn Tín mách với Lê Đức Anh hồi tháng 7-1991 rằng '' đại sứ Hoành luôn tránh mặt tỏ ra không muốn gặp chúng tôi ''.

Quốc hội khóa IX họp tháng 6-1992 cử tướng Lê Đức Anh vào chức Chủ tịch nước Cộng hòa XNCN thay ông Võ Chí Công lên hàng Cố vấn Ban chấp hành trung ương. Trên thực tế, chủ tịch Anh có thực quyền rộng lớn hơn cả tổng bí thư Đỗ Mười, vì ôm cả 4 mảng chính quyền, quân đội, an ninh và đối ngoại.

Cặp Mười + Anh gắn bó, ăn ý trong việc kết liên minh với Trung quốc nhằm trụ vững trước nguy cơ lớn '' trệch hướng XHCN'' và ''diễn biến hòa bình''. Quanh 2 nhân vật Mười Anh dẫn đầu trong kết thân với Bắc kinh là các vị sau đây trong bộ chính trị: Đào Duy Tùng, thường trực bộ chính trị; tướng Đoàn Khuê bộ trưởng Quốc phòng; Nguyễn Đức Bình, phụ trách mặt lý luận, tư tưởng ý thức hệ; Phạm Thế Duyệt bí thư thành ủy Hànội. Bộ trưởng ngoại giao mới được cử vào tháng 6-1992 Nguyễn Mạnh Cầm khi ấy mới là uỷ viên trung ương, thứ trưởng bộ ngoại thương, đến Hội nghị trung ương 6 khóa VII tháng 11-1993 được bổ sung vào bộ chính trị, cũng là một nhân vật được đào tạo từ Trung quốc.(ông Trần Quang Cơ nhận xét rằng Nguyễn Mạnh Cầm sở dĩ được tuyển lựa trong danh sách gồm: Vũ Oanh, Vũ Khoan, Hoàng Bích Sơn, Nguyễn Dy Niên, Nguyễn Mạnh Cầm chỉ vì ông Cầm không có một '' tiền sự '' nào làm phật ý Trung quốc.

Tình nghĩa Trung - Việt được khôi phục tuy không còn đậm đà như trước liền kích thích mạnh cơn thèm bành trướng lãnh thổ xuống phương Nam của thiên triều Bắc kinh. Họ không bỏ qua thời cơ khi nhóm lãnh đạo chóp bu ở Hànội đã tình nguyện chọn họ làm chỗ dựa, làm anh Cả mới, làm ông thày mới. Bắc kinh bày ra ngay một trận '' lấn đất '' quy mô trên đất liền, trên lãnh hải, trên cả vùng quần đảo phương Nam thật nhanh, gọn, êm, bằng ngòi bút ngoại giao. Mao chẳng đã dạy bài học chiến lược: khi nào địch hay đối phương lùi là ta phải tiến ngay.

Lập tức cuộc đàm phán về biên giới, - bị bỏ dở từ những năm 1958, rồi 2 cuộc đàm phán từ 15-8 đến 22-11-1974 và từ tháng 10-1977 đến tháng 6-1978 đều ở Bắc kinh không đi đến một thỏa thuận nào -, liền được nối lại ngay từ giữa năm 1992, để đi đến ngày 19-10-1993, 2 nước ký ''Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ 2 nước''.

Từ năm 1995, ba diễn đàn đàm phán Việt - Trung cấp chuyên gia và một diễn đàn đàm phán cấp Chính phủ được mở ra nhằm chuẩn bị cho các Hiệp định về biên giới trên bộ, trong Vịnh Bắc bộ và trên Biển Đông.

Hai trưởng ban biên giới cũ là ông Lưu Văn Lợi và ông Lê Minh Nghĩa nhận xét rằng suốt 20 năm trước các cuộc đàm phán về biên giới với Trung quốc gay go, khó khăn, dậm chân tại chỗ, đều bế tắc thì nay mọi sự trở nên trôi chảy, chóng vánh lạ thường!

Sau Đại hội VIII (từ 28-6 đến 1-7-1996), công việc của các đoàn đàm phán còn thuận lợi hơn nữa. Tại Đại hội, nhóm lãnh đạo mặn mà với Bắc kinh chiếm những vị trí quyết định. Chủ tịch Lê Đức Anh đọc diễn văn khai mạc Đại hội. Tổng bí thư Đỗ Mười đọc báo cáo chính trị. Các bộ trưởng then chốt Đoàn Khuê (quốc phòng), Nguyễn Mạnh Cầm (ngoại giao), Lê Minh Hương (an ninh), và các ủy viên bộ chính trị phụ trách tư tưởng Nguyễn Đức Bình...đều lần lượt sang Bắc kinh trình diện và hứa hẹn học kinh nghiệm đàn anh. Mối quan hệ 16 chữ vàng (!) được cam kết : '' Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai ''. Được biết 16 chữ vàng này nguyên thủy là do phía Trung quốc đưa ra, từ chữ Hán, đọc như sau: '' Mục Lân Hữu Hảo, Toàn Diện Hợp Tác, Trường Kỳ Ổn Định, Diện Hướng Vị Lai ''

Thế là Bản Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa XHCN Việt nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa được long trọng ký ở Hà nội ngày 30 tháng 12 năm 1999, chỉ 1 ngày trước khi kết thúc năm 1999..

Chỉ một năm sau, Bản Hiệp ước phân định trong Vịnh Bắc bộ giữa 2 nước được long trọng ký kết ở Bắc kinh ngày 26-12-2000, chỉ 5 ngày trước khi năm 2000 và thế kỷ 20 kết thúc.

Về 2 bản Hiệp ước Việt-Trung nói trên, hơn 8 năm nay, đã có rất nhiều bàn tán, bình luận trong và ngoài nước, với những nhận định trái ngược nhau. Giới lãnh đạo ở Hànội, giới truyền thông trước hết là báo Nhân Dân, các ông Lê Công Phụng nguyên trưởng ban biên giới, thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng, người phát ngôn bộ ngoại giao Lê Dũng đều khẳng định rằng nội dung ký kết 2 bản Hiệp ước nói trên là hợp lý, thực tế, công bằng, rằng phía ta không bị lép vế, ăn hiếp, không bị mất đất, thiệt thòi gì cả, ngay ở các điểm Ải Nam quan (còn gọi là Hữu nghị quan), Bản Giốc (Cao Bằng) hay Lão Sơn (Hà Giang) ta cũng không bị lấn ép gì cả. Ngược lại, một số nhà nghiên cứu như ông Trương Nhân Tuấn, ông Trần Đại Sỹ ở Pháp, tiến sỹ ngành sử học Nguyễn Nhã ở trong nước, một số nhà báo, nhà đấu tranh cho dân chủ quan tâm đến thời cuộc và mối quan hệ Việt - Trung cho rằng ở các điểm trên đây phía ta đã bị lấn đất rõ rệt, rằng trên đất liền phía ta đã để Trung quốc xà xẻo tổng cộng từ 200, đến 600, thậm chí đến 850 km vuông, và có thể hơn nữa, từ Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng lên đến Lào Kay, Hà Giang và Hoàng Liên Sơn.

Ở trong Vịnh Bắc Bộ, so với Hiệp ước Pháp - Thanh năm 1887 (qui định ranh giới Việt - Trung theo đường thằng đứng kinh tuyến Bắc Nam đi qua điểm 105ổ43' Đông), bản Hiệp ước năm 2000 chia lại theo một đường cong tạo nên bởi 21 điểm nằm giữa đường cơ sở của 2 bên; theo kiểu chia mới này, phía Việt nam bị mất khoảng 11.930 km vuông vùng biển so với trước. Vậy mà Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Dy Niên ký bản Hiệp ước này khoe rằng đây là '' thắng lợi lớn '' của ta. Nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn nghiên cứu từng điểm một của 21 điểm khẳng định rằng từ điểm 9 đến điểm 10 và các điểm từ 12 đến 19 thuộc vùng kinh tế độc quyền và thềm lục địa, đều chia không đều và đều thiệt cho phía Việt nam.

Có nhiều nghi ngờ về sự khuất tất, nhẹ dạ, thậm chí về sự nhân nhượng thỏa hiệp từ người lãnh đạo đến người đàm phán trong quá trình thương lượng Trung Việt, dựa vào một loạt câu hỏi như sau:

a)- vì sao không có thông tin cho nhân dân, công luận, báo chí biết về quá trình thương lượng, để tạo nên sự ủng hộ đối với ta, sức ép với đối phương, như từng có trước kia, khi thương lượng với Pháp, với Mỹ?

b)- vì sao từ năm 1994 đến năm 2000, qua 14 kỳ họp Quốc hội, chính phủ không hề thông báo cho các đại biểu của nhân dân biết gì về diễn tiến của đàm phán; những vấn đề gặp phải và hướng giải quyết?

c)- vì sao việc Quốc hội thông qua 2 Hiệp định trên lại không bình thường, không có bản tường trình của Chính phủ, không có bản tường trình của Ủy ban đối ngoại của Quốc hội, cũng không có một buổi chất vấn nào của Quốc hội và trả lời của Chính phủ về vấn đề rất hệ trọng này?

d)- vì sao Hiệp ước về phân giới trong Vịnh Bắc bộ được ký từ ngày 26-12-2000 cùng với Nghị định thư về đánh cá chung trong Vịnh Bắc bộ, mà mãi đến kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XI ngày 15-6-2004, nghĩa là 4 năm rưỡi sau, mới được thông qua? sao lại có sự không bình thường như thế?

đ)- vì sao nội dung bản Hiệp ước phân định biên giới trên bộ Việt-Trung đã được phổ biến dù rất chậm trên báo và trên báo điện tử Nhân Dân online, nhưng cho đến nay tập bản đồ chi tiết kèm theo, - được coi như bộ phận cấu thành chính thức của bản Hiệp ước - , vẫn còn được giữ kín như bưng ? báo giấy và báo điện tử đều im lặng ?

e)- theo báo chí Việt nam và Trung quốc kể lại, trong năm 1998 và 1999, khi gặp tổng bí thư Lê Khả Phiêu ở Bắc kinh, tổng bí thư Giang Trạch Dân đều thúc dục rằng : việc đàm phán Việt - Trung không nên để kéo dài, nên sớm kết thúc, việc ký Hiệp ước trên bộ cần thực hiện trong năm 1999, và việc ký kết Hiệp định trong Vịnh Bắc bộ nên thực hiện trong năm 2000, nghĩa là giải quyết xong trong thế kỷ 20 này. Ông Phiêu đã nhanh nhẩu đồng ý, và phía Trung quốc ghi nhận điều ấy như một cam kết ép buộc các đoàn đàm phán phải thực hiện bằng được, trên thực tế là ép đoàn Việt nam phải nhượng bộ những đòi hỏi của Trung quốc. Quả nhiên việc ký 2 Hiệp ước đã diễn ra vào sát những ngày cuối năm 1999 và 2000, Hiệp ước về đất liền vào ngày 30-12 là 1 ngày trước cuối năm và Hiệp ước về Vịnh Bắc bộ được ký chỉ 5 ngày trước khi thế kỷ 20 kết thúc.

Có ai đi đàm phán lại bị đối phương ép về thời gian chặt chẽ và trắng trợn như thế, dù cho có thể còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Chính sự dễ dãi nhẹ dạ này của tổng bí thư Lê khả Phiêu đã bị Đỗ Mười và Lê Đức Anh viện ra để kết án Phiêu rất nặng là ''bán đất, bán biển cho Trung quốc'', ngay trước khi họp Đại hội IX (tháng 4-2001) và để đưa Nông Đức Mạnh lên thay Phiêu làm tổng bí thư trong Đại hội IX.

[(* 3) đọc hồi ký của Nguyễn Chí Trung, thiếu tướng, thư ký riêng của Lê Khả Phiêu đề ngày 21-7-2002 ].

Hiện nay việc cắm mốc biên giới trên bộ đang được khẩn trương tiến hành, theo thỏa thuận của 2 bên, sẽ hoàn thành vào cuối năm 2008. Cùng với việc cắm mốc, tập bản đồ tỷ mỷ đang được vẽ theo đúng thực địa và kèm theo Nghị định thư cuối cùng và sẽ là bộ phận cấu thành của toàn bộ Hiệp ước. Lúc ấy 2 bên sẽ phải in rộng rãi hàng nghìn bản đồ ấy cho các thôn xã ở cơ sở và các ngành hành chính, quân sự, an ninh, hải quan, nông nghiệp, thương mại, giao thông, thuế quan, giáo dục, y tế, văn hóa, du lịch ... Lúc ấy so sánh với bản đồ cũ thời thuộc Pháp còn lưu ở kho lưu trữ Aix-en-Provence (Pháp), với bản đồ mới sẽ được mạng Google Earth vẽ ra với những phương pháp hiện đại chuẩn xác nhất, mọi người có thể so sánh và thấy rõ phía Việt nam có bị mất đất hay không, mất ở những chỗ nào, mất bao nhiêu, không ai có thể cãi liều, cãi xóa được.

 

 

Đọc tiếp…