Điềm trời
Lê Phan
Được biết trong hàng các lãnh tụ trên thế giới hiện nay, các ông tướng ở Miến Điện được coi như là tin vào bói toán nhất. Có điều không những các ông tướng tin vào bói toán mà dân chúng cũng rất tin tưởng vào các điềm báo trước và theo họ điềm trời có vẻ như nói là các ông tướng sắp hết thời. Trong khi đó Trung Quốc ngày nay cũng bắt đầu trở lại tin vào bói toán, vậy không hiểu bao nhiêu thiên tai gần đây có phải điềm trời không thuận chăng?
Việc các ông tướng Miến Điện tin dị đoan là một điều đã được chứng minh khi vào năm 2005, các ông tướng kéo nhau vào một khu rừng sâu núi thẳm, nơi trước kia chỉ có một thị trấn nhỏ thuộc miền thượng du sốt rét rất nhiều, để lập thủ đô mới. Theo Ben McIntire của tờ The Times, xuất bản ở Luân Đôn, lý do chính là vì một ông thầy bói thân tín của Tướng Than Shwe đã khuyên ông về nguy cơ sắp có đại họa cần phải dời đô. Ông thầy bói cũng khẳng định là ngày giờ tốt nhất để di chuyển là vào lúc 6g37 phút sáng ngày 6 Tháng Mười Một năm 2005. Và đúng vậy, McIntire xác nhận vào ngày giờ đó, đoàn xe limousines có bọc thép chống đạn của các ông tướng bắt đầu chuyển bánh trên đường đi đến Mandalay hướng về Naypyidaw, thủ đô mới mà các ông vừa cho xây dựng.
Theo các nguồn tin thông thạo, ông thầy bói tiên đoán là sẽ có một đại nạn và một đại họa. Đại nạn, theo diễn dịch của các ông tướng chính là vụ các tăng ni xuống đường chống lại chính quyền, còn đại họa là trận bão Nargis vừa qua. Và hẳn là nay các ông tướng, "lẩn trốn" ở khu rừng sâu núi thẳm ở Naypyidaw, lấy làm thích thú vì họ đã "chạy" thoát khỏi Rangoon vào đúng lúc thiên tai đổ xuống thành phố.
Nhưng nhà báo Aung Zaw, chủ bút của tờ Irriwaddy, một tờ báo Online của cộng đồng người Miến lưu vong thì giải thích khác. Trong một bài trả lời tuần báo Newsweek, ông Aung Zaw lý luận "Đây là một đại họa lớn nhất đổ xuống Miến Điện kể từ Thế Chiến Thứ 2 đến nay. Dân chúng coi đó là một điềm xấu. Bởi có quá nhiều nhà sư bị giết trong vụ chính quyền đàn áp cuộc biểu tình hồi Tháng Chín, người ta nghĩ là sẽ có chuyện xấu xảy ra, và nay chuyện này xảy ra." Khi được Newsweek hỏi: "Nhiều người Miến nghĩ thiên tai là những điềm chỉ đến thay đổi chính trị. Nhưng chính quyền quân nhân vẫn tiếp tục nắm quyền từ cả mấy thập niên nay. Và qua việc dời thủ đô sang Naypyidaw, họ còn tránh được cảnh tàn phá mà Rangoon đã chứng kiến đó sao?" Ông Aung Zaw trả lời: "Đúng, nhiều người tin là trận bão Nargis là điềm trời. Người Miến gần đây ngày càng mê tín dị đoan, đặc biệt là từ khi chính quyền này lên nắm quyền. Họ thích hỏi các ông thầy bói, thầy toán, rồi đổ cho các biến cố là do số phận, do nhân quả. Nay chúng tôi có một trận bão làm hơn 100,000 người thiệt mạng thì dân chúng cũng rất tức giận. Họ nghĩ đến hai chuyện: Chuyện thứ nhất là họ tức giận quân đội. Và thứ nữa là họ tức giận trận bão không đánh vào Naypyidaw, thủ đô mới của chính quyền quân nhân."
Ông Aung Zaw còn nhắc lại là xây Naypyidaw tốn đến hơn một tỷ đô la, vậy mà nay chính quyền chỉ hứa bỏ ra vài triệu để giúp đỡ dân chúng. Khi Newsweek hỏi rằng nhiều nhà khí tượng quốc tế đã khuyến cáo chính quyền Miến Điện là sắp có một cơn bão lớn đổ vào Miến Điện, nhưng các phương tiện truyền thông nhà nước chỉ lo chú tâm đến cuộc trưng cầu dân ý nhằm hợp thức hóa chế độ quân phiệt, thì ông Aung Zaw trả lời "Đúng thật là một giai đoạn tế nhị. Bão đổ vào chỉ vài ngày trước khi có cuộc trưng cầu dân ý. Dân chúng Miến đã chờ đợi sẽ bị đánh lừa và ép buộc phải bỏ phiếu thuận. Nay thì những người chống đối muốn phá hoại cuộc bầu cử cảm thấy là trận bão của trời đã làm chuyện đó cho họ."
Thật đúng là điềm trời ai muốn diễn dịch thế nào cũng được. Nhưng ngoài chuyện tin vào điềm trời, người dân Miến hẳn còn có thể đưa ra một so sánh hiển hiện giữa sự vắng mặt của quân đội và công an trong lần thiên tai này so với sự hiện diện quá đầy đủ và nhanh chóng của các lực lượng an ninh khi cần phải đàn áp dân chúng và tăng ni biểu tình. Với tình trạng thiếu thực phẩm, nước sạch và săn sóc y tế, sẽ có cả trăm ngàn người nữa phải bỏ mạng. Trong tình trạng đó có lẽ đến ông thầy bói và dời đô cũng không cứu nổi các ông tướng khỏi bị dân chúng nổi lên lật đổ. Nhất là lần này khi cả trăm ngàn người thiệt mạng, trong đó hẳn có thân nhân của nhiều binh sĩ.
Người Miến Điện ngay lập tức coi thiên tai là điềm trời không thuận nhưng có vẻ cho đến nay người Trung Quốc chưa coi thiên tai là điềm xấu. Mới đầu năm nay, một trận bão tuyết khổng lồ đã kéo dài bốn tuần lễ, làm 5.8 triệu người trên đường về ăn Tết mắc kẹt ở các nhà ga xe lửa, các bến xe đò, trong cảnh trời lạnh băng giá mà không có sưởi. Lúc đó, dân chúng đã nổi giận và chính quyền của hai ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cuống cuồng chống đỡ. Tình trạng còn thêm tệ hại hơn nữa khi hầu hết hệ thống điện ở miền Hoa Trung và Hoa Nam bị thiếu than đá, phải nghỉ hoạt động, làm cho nhiều thành phố bị cúp điện. Nhiều xí nghiệp phải đóng cửa, đường xe lửa đình chỉ hoạt động, tạo nên một dây chuyền thiệt hại nặng nề.
Chỉ hơn ba tháng sau, trận động đất Văn Xuyên ở tỉnh Tứ Xuyên xảy ra. Thiệt hại về sinh mạng và vật chất đã lớn, nhưng còn thiệt hại về niềm tin thì không biết thế nào? Tỉnh Tứ Xuyên là một trong những tỉnh nghèo nhất của Trung Quốc và trận động đất xảy ra vào lúc 2g30 trưa, lúc mà theo đại diện của Tổ Chức Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc Unicef, học sinh còn ở nhà trường, các em nhỏ còn ở các vườn trẻ đang ngủ trưa, tạo thêm một số thiệt hại đáng sợ về số trẻ em bị thiệt mạng. Tỉnh Tứ Xuyên cũng có một dân số khá lớn người Tây Tạng và một phần của tỉnh này vốn là đất cũ của một vương quốc Tây Tạng độc lập.
Một số nhà bình luận còn nhắc lại là trận động đất Đường Sơn xảy ra vào Tháng Bảy năm 1976 thì đến Tháng Chín năm đó ông Mao qua đời. Đường Sơn cho đến nay là trận động đất lớn nhất Trung Quốc và đó chính là lý do nhiều người Hoa tin đó là một điềm trời. Hơn ba mươi năm sau, trận động đất Văn Xuyên phải chăng lại là điềm mới là lòng trời không thuận?
Lê Phan
Vụ án báo chí tại Việt Nam
Trần Bình Nam
Trung tuần tháng 5/2008, dư luận Hà Nội xôn xao về việc công an bắt giam hai nhà báo Nguyễn Văn Hải của tờ Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến của tờ Thanh Niên. Tuổi Trẻ và Thanh Niên đều là báo của đảng. Tội được nêu ra là hai nhà báo này đã "lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ" khi thông tin sai lạc về vụ án PMU18 từng làm sôi nổi dư luận trong năm 2006.
Vụ án PMU 18 chính yếu là một vụ án chống tham nhũng, truy tố ông Bùi Tiến Dũng, Tổng giám đốc Ban Quản lý Dự án 18 thuộc Bộ Giao thông Vận tải đã dùng tiền đầu tư của nước ngoài trên một triệu mỹ kim để cá độ bóng đá. Sau đó cuộc điều tra phanh phui ra thêm ông Nguyễn Việt Tiến, thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (Bùi Tiến Dũng và Nguyễn Việt Tiến đều là đảng viên cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam) có dính líu đến vụ PMU 18. Cả hai ông Bùi Tiến Dũng và Nguyễn Việt Tiến đều bị tạm giam và tước đảng tịch. Đó là chuyện năm 2006.
Bỗng nhiên trong tháng 3/2008 tòa án tuyên bố vụ án PMU 18 không có cơ sở, ông thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến được trả tự do và hai tháng sau được trả lại thẻ Đảng.
Và rồi giữa tháng 5/2008 hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải bị bắt giam. Hai nhà báo này là người đã xông xáo nhất trong vụ làm tin về tham nhũng PMU 18 đăng trên hai tờ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ là hai tờ báo có nhiều độc giả nhất trong nước. Một ngày sau khi bắt giam hai nhà báo, công an truy tố tại ngoại Thiếu Tướng công an hồi hưu Phạm Xuân Quắc, nguyên Cục trưởng cục C14 là Cục điều tra về trật tự xã hội, người đã lãnh đạo cuộc điều tra PMU 18 với cùng một tội danh như tội danh gán cho hai nhà báo Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến.
Vụ việc này đã tạo nên một cơn sóng dữ dội trong giới báo chí Việt Nam cũng như báo chí quốc tế. Thái độ chung trong nước là xem vụ việc xẩy ra như một câu chuyện lạ lùng không thể nào hiểu nổi. Còn dư luận ngoài nước, theo truyền thống thì cho đây là một hành động vi phạm quyền tự do báo chí của chính quyền Việt Nam không phù hợp với một nước hội viên WTO, một thành viên của Liên hiệp quốc nhất là đang là thành viên luân phiên của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc.
Mọi việc khó hiểu vì mọi người đang ôm chân, ôm vòi, ôm tai một con voi để tìm hiểu nó là cái gì. Thì nó chỉ có thể là một cái cột nhà, là một cái gối ôm độn cao su, hay là một chiếc quạt khổng lồ. Hãy đứng ra xa nhìn vào toàn cảnh, chúng ta sẽ thấy hiện nguyên hình con voi. Con voi đó là tại Việt Nam báo chí và ký giả không có quyền gì cả ngoài quyền nói theo đảng, và không có cái gọi là chống tham nhũng.
Sáu trăm tờ báo giấy (trong đó có hai tờ Tuổi Trẻ và Thanh Niên) và hàng chục báo điện tử đều là công cụ tuyên truyền và thông tin cho đảng và chỉ được viết và đăng những gì "đảng" cho phép. Không một ký giả nào có quyền viết lách tự do, trong đó có cả hai ký giả Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải. Không có gì phản ánh tình trạng này cho bằng vụ Trung Quốc sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tháng 12 năm trước. Theo lệnh của Đảng, không có một tờ báo nào dám lên tiếng phản ảnh dư luận phẫn uất của nhân dân trong nước và đồng bào ngoài nước. Và trong vụ bắt Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến, báo chí được phát biểu ý kiến bất đồng trong 3 ngày sau đó chính quyền ra lệnh không được bàn tán về vụ việc đó nữa thì báo chí trong nước im thin thít một cách ngoan ngoãn.
Còn chống tham nhũng? Để chống tham nhũng cần có hai vũ khí, thứ nhất là tự do báo chí, thứ nhì là một nền tư pháp độc lập. Cơ chế chính trị tại Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của đảng cộng sản không có hai cơ chế này nên không thể chống tham nhũng (cho dù trong bộ máy cầm quyền có người bỗng nẩy ra cái ý ngộ nghĩnh chống tham nhũng). Chống tham nhũng cũng chỉ như chém đầu Phạm Nhan, chặt đầu này nó mọc ra đầu khác, có khi chặt một cái đầu nó mọc ra nhiều đầu cũng nên (1). Đảng cộng sản Việt Nam biết rõ họ không thể chống tham nhũng, và nói như một người dân ở trong nước, chống tham nhũng là chống Đảng, vì Đảng đồng nghĩa với tham nhũng.
Nắm được sự thật trần truồng đó dư luận thế giới có thể hiểu được cái gì ở sau lưng vụ truy tố hai ông (giám đốc) Bùi Tiến Dũng và ông (thứ trưởng) Nguyễn Việt Tiến năm 2006 và nay là vụ bắt giam hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải, và truy tố cựu Thiếu Tướng Phạm Xuân Quắc. Cái sau lưng chuyện chống tham nhũng năm 2006 và bây giờ - năm 2008 - truy tố hai nhà báo chỉ là hai mặt của một vấn đề: tranh chấp nội bộ.
Qua Đại Hội đảng năm 2006 ông Nguyễn Tấn Dũng đã củng cố vị thế của mình, và như một thông lệ trong các chế độ cộng sản ông nhắm chặt bớt tay chân của phe phái có thể tranh chấp với ông hay với phe ông. Ông bố trí nắm bộ Công an và bộ Thông tin để làm chỗ dựa ra đòn đánh tham nhũng.
Chiêu bài này được ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên truyền như một quốc sách, được dân chúng đồng tình, và các quốc gia viện trợ và đầu tư áp lực. Đánh tham nhũng không thiếu đối tượng vì trong chế độ cộng sản tại Việt Nam hiện nay không một viên chức cao cấp nào trong đảng có thể gọi là trong sạch. Thế là C14 thuộc Bộ Công an của tướng Phạm Xuân Quắc được lệnh ra tay và báo chí được lệnh yểm trợ. Ông Bùi Tiến Dũng và ông Nguyễn Việt Tiến bị chấm đầu tiên vì ông Dũng và ông Tiến là hai nhân vật của một thế lực mà ông Nguyễn Tấn Dũng đang muốn trấn áp. Con rể và con gái của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đều là người làm việc trong dự án PMU 18. Nếu không có lệnh trên thì ông tướng công an Phạm Xuân Quắc đã không hăng hái như vậy, và hai cây bút xông xáo Nguyễn Văn Hải của báo Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên đã không đầu tư hết tài năng và thiện chí của mình vào cuộc.
Qua động thái của ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liên quan đến vụ Hoàng Sa và Trường Sa người ta có thễ diễn dịch rằng ông thủ tướng đã được sự bảo trợ của Trung Quốc trong việc tranh giành quyền lực. Ông thủ tướng Dũng không hề hé răng bình luận việc Trung Quốc sát nhập trên giấy tờ hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng đã chịu khó bay vào tận Sàigòn ra lệnh cho chính quyền địa phương bảo đảm an toàn 100% cho cuộc rước đuốc của Thế Vận Bắc Kinh.
Trước đó mấy tháng trong chuyến công du Âu châu, ông đã không chút ngượng mồm xu nịnh Trung Quốc khi trả lời một cuộc phỏng vấn (của đài BBC) rằng Trung Quốc lớn mạnh bảo đảm an toàn và ổn định cho toàn vùng Á châu. Ông không hề quan tâm đến một nguyên tắc sơ đẳng của địa lý chính trị là một nước nhỏ như Việt Nam bên cạnh một nước đang bành tướng là một đe dọa cho chủ quyền của Việt Nam. Và điều này không khỏi tạo nên căng thẳng trong nội bộ. Vẫn còn một thành phần quan trọng trong Bộ chính Trị chưa chịu khuất phục Trung Quốc. Thành phần này phải đấu tranh để sinh tồn trước khi Nguyễn Tấn Dũng nắm hết mọi thế lực và ra tay triệt hạ.
Không phải do bộ máy tư pháp của chính quyền cộng sản làm việc đàng hoàng mà ông thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến sau 18 tháng tạm giam được xả án và phục hồi đảng tịch. Đó là kết quả của một cuộc đấu tranh nội bộ, một đòn "hồi mã thương" và các bộ phận (công an và báo chí) từng đóng góp trong vụ truy tố các ông Bùi tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến đều phải trả giá.
Trên nguyên tắc ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ không ngồi yên nhìn đàn em của ông bị đánh, nhưng ông ta đang gặp khó khăn và vụ đánh báo chí nhất thời có thể có lợi cho ông.
Đầu tháng 5/2008 ông thủ tướng Dũng ký văn kiện ban hành kế hoạch mở rộng thành phố Hà Nội ra gấp 13 lần lớn hơn (do Nam Hàn bao thầu) bao gồm các tỉnh phụ cận khi chưa thông qua các thủ tục cần thiết như tham khảo ý kiến nhân dân của các tỉnh chung quanh, nhất là chưa tham khảo ý kiến quốc hội. Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt lên tiếng thắc mắc đầu tiên, sau đó báo chí và quốc hội (đang họp) đặt vấn đề. Cùng một lúc thủ tướng Dũng bị "hai mặt giáp công" và ông thấy việc các nhà báo bị truy tố, báo chí bị bịt mồm trong lúc này có lợi cho ông. Nếu vụ mở rộng thành phố Hà Nội được phanh phui thêm nữa ông sẽ khó ăn khó nói. Những câu hỏi đơn giản như: ký một dự án hàng trăm tỉ mỹ kim như vậy, phần hoa hồng của ông sẽ là bao nhiêu? Tại sao ông Dũng phải ký vội vàng như vậy? là những câu hỏi khó trả lời.
Nhiều người nghĩ rằng vụ truy tố Thiếu tướng công an Phạm Xuân Quắc và hai nhà báo Nguyễn Viết Chiến và Nguyễn Văn Hải sẽ được pháp luật Việt Nam làm sáng tỏ khi ra tòa. Nhưng làm gì có chuyện đó, vì tại Việt Nam tòa án chỉ xử theo lệnh đảng, trong trường hợp này sẽ xử theo phe phái nào nắm thượng phong trong đảng. Sự thật của vụ truy tố Phạm Xuân Quắc, Nguyễn Viết Chiến và Nguyễn Văn Hải chỉ là như vậy. "Sinh vì nghề tử vì nghiệp" là một nguyên tắc phổ biến trong các chế độ độc tài toàn trị.
Trần Bình Nam - 17/5/2008
|