banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Thế lực tham nhũng tay sai Trung Cộng phản kích

 

Lý Đại Nguyên

Việc nhà báo Nguyễn Văn Hải sinh năm 1975 của tờ Tuổi Trẻ và phóng viên Nguyễn Việt Chiến sinh năm 1952 của báo Thanh Niên, bị cơ quan An Ninh điều tra Bộ Công An khởi tố bắt giam chiều 12/05/2008 vì tội đưa tin về vụ tham nhũng PMU18. Rồi tới phiên cựu thiếu tướng Phạm Xuân Quắc sinh năm 1946, nguyên cục trưởng Cảnh Sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - C14, từng cầm đầu điều tra truy tố vụ án tham nhũng PMU18, cùng Đinh Văn Huynh sinh năm 1958 nguyên trưởng phòng 9, cục C14 vừa bị cơ quan An Ninh bộ Công An khởi tố, điều tra tội lợi dụng chức quyền trong khi thi hành công vụ.
Vào ngày 25/03/08, cựu thứ trưởng bộ Giao Thông Vận Tải, Nguyển Việt Tiến, trong vụ án tham nhũng PMU18, sau 2 năm điều tra đã được phó viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Việt Cộng, Hoàng Nghĩa Mai tuyên bố là cơ quan công tố đình chỉ điều tra hai tội danh đã khởi tố, miễn trách nhiệm hình sự với tội danh còn lại và đề nghị khôi phục quyền lợi chức vụ cho Nguyễn Việt Tiến.
Diễn tiến của vụ án Nguyễn Việt Tiến: Tháng 4-2006, Tiến bị bắt và truy tố về vụ án tham nhũng PMU18. Tháng 7-2006, một thiếu tướng công an bị ngưng chức trưởng cơ quan Cảnh Sát Điều Tra, vì tình nghi liên quan tới đường dây chạy án vụ PMU18. Mười tháng sau viên tướng này được tuyên bố vô can. Tháng 8-2006, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao gia hạn tạm giam Nguyễn Việt Tiến kéo dài 4 tháng. Tháng 11-2006, gia hạn lần thứ 2 kéo dài đến tháng 4-2007. Tháng 4-2007 thêm tội danh "lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ", hình phạt có thể từ 3 tới 12 năm tù. Tháng 10-2007, được tại ngoại hầu tra. Trong giai đoạn này Bộ Công An khẳng định đủ căn cứ truy tố Nguyễn Việt Tiến. Nhưng bỗng đánh đùng một cái, ngày 25-03-2008, Nguyễn Việt Tiến được nhìn nhận vô tội. Theo Hoàng Nghĩa Mai đề cập trong bản tin Báo Pháp Luật khi đưa ra quyết định rằng: "Rõ ràng thời điểm ấy -2006- ở Bộ Giao Thông Vận Tải, Nguyễn Việt Tiến đang là ngôi sao sáng. Và nếu con đường phát triển thuận lợi thì Nguyễn Việt Tiến không phải là Nguyễn Việt Tiến bây giờ, mà phải là một cái gì khác hơn nữa. Trong bối cảnh như vậy, chắc là cơ quan điều tra đã khởi tố điều tra với ông Tiến vừa có cả vấn đề pháp lý, vừa có cả vấn đề dư luận". "...vào thời điểm ấy, các vụ đánh bạc lên đến cả triệu rưỡi đô la của Bùi Tiến Dũng, những đường giây chạy án và hàng loạt vấn đề bùng nhùng, khiến cho dư luận nhìn vào chỗ ấy là đen tối".
Ở điểm này, Việt Cộng đã đổ lỗi cho làng báo của chúng gây ra, cho nên hai phóng viên Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến mới bị lôi ra hành tội. Nhưng báo giới Việt Nam đều nằm trong tay đảng, không có lệnh đảng thì nhử kẹo, phóng viên, và nhà báo cũng không dám khai thác vụ Nguyễn Việt Tiến. Chính vì vậy mà lên án 2 ký giả là thiếu trách nhiệm nghề nghiệp, tiết lộ nguồn cung cấp thông tin là không đúng trong hoàn cảnh báo chí Việt Cộng. Họ đâu có quyền tự do chủ động bới móc Nguyễn Việt Tiến, mà phải có lệnh từ giới chức thẩm quyền. Do đó cựu thiếu tướng Cục Trưởng Cảnh Sát Điều Tra, và nguyên Trưởng Phòng 9 cục C 14, mới bị 2 nhà báo khai ra là người cung cấp thông tin. Nhưng hai viên chức cảnh sát này cũng không dám tự chuyên, nếu không được lệnh từ cấp cao hơn. Vì Nguyễn Việt Tiến lúc đó là một ngôi sao sáng đang lên, vốn là người thân của TBT Nông Đức Mạnh, có tên trong danh sách đề nghị làm Ủy viên Trung Ương khóa X. Trong cuộc đấu đá tranh giành quyền lực trước Đại Hội Đảng, Nguyễn Việt Tiến bị làm vật tế thần là điều dễ hiểu.
Sau Đại Hội X và tới Hội Nghị lần thứ 3 của Ban Chấp Hành Trung Ương cộng đảng về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng lãng phí và việc thành lập Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng, gồm cả Đảng, Nhà Nuớc và các cơ quan liên hệ, do Ủy Viên Bộ Chính Trị, Thủ Tướng, Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Phó Thủ Tướng, Trương Vĩnh Trọng đứng phó, Có một lúc những hoạt động chống tham nhũng là công tác hàng đầu của Nội Các Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng việc chống tham nhũng đồng nghĩa với chống đảng, vì đảng cộng sản, và cơ chế cầm quyền do đảng tạo ra, nó là một hệ thống tham nhũng khổng lồ. Diệt tham nhũng là diệt đảng, và diệt ngay quyền lợi của kẻ cầm quyền. Thế là cộng đảng đã đẩy Nguyễn Tấn Dũng và nhóm được gọi là "đổi mới" vào tử địa. Muốn tồn tại thì phải quay lại thuần phục phe "thủ cựu" được Trung Cộng hậu thuẫn.
Nhóm thủ cựu thân Trung Vộng, cầm đầu bởi 2 tên MA già là Đỗ Mười và Lê Đức Anh, tuy trên danh nghĩa không còn quyền hành gì trong đảng và nhà nước, nhưng lại là một thế lực được Trung Cộng hỗ trợ trực tiếp, nhờ thế đã tạo ra được các tay em rất trung thành là Nông Đức Mạnh đang nắm chức Tổng Bí Thư Đảng vốn có quyền hành cao nhất. Kế đến là Nguyễn Phú Trọng, ủy viên BCT, chủ tịch Quốc Hội; Nguyễn Sinh Hùng, ủy viên BCT, phó thủ tướng thường trực; Hồ Việt Đức, ủy viên BCT, trưởng ban tổ chức trung ương; Tô Huy Rứa, ủy viên trung ương, trưởng ban tuyên giáo. Những kẻ này thường xuyên chăm chỉ đi Bắc Kinh để nhận chỉ thị của Trung Cộng. Kẻ có quyền lực nhất trong bộ Công An là Nguyễn Khánh Toàn, ủy viên trung ương, thứ trưởng thường trực Bộ Công An, phó bí thư đảng ủy ngành Công An, vợ của y từng hợp tác mật thiết với vợ của cựu Ủy Viên BCT, trưởng ban tổ chức đảng, Trần Đình Hoan để thăng chức cho các tướng, tá ngành công an. Chính nhờ vậy mà Trương Hòa Bình một kẻ chẳng ra gì mới lên tới chức thứ trưởng công an, coi ngành cảnh sát toàn quốc, cuối cùng được Nguyễn Khánh Toàn vận động cho làm chức Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao. Thế mới có việc xóa án tham nhũng cho Nguyễn Việt Tiến, người của nhóm MA, đầy tớ Trung Cộng, một cách nhẹ nhàng, để rồi phản kích lại những người chống tham nhũng.
Việc Việt cộng lệ thuộc Trung Cộng, đã bắt đầu ngay từ năm 1930, khi Hồ Chí Minh nhận lệnh Quốc Tế Cộng Sản để thành lập đãng Cộng Sản Đông Dương tại Hoa Nam. Cụ thể là chính Hồ Chí Minh đã tuyên thệ gia nhập đảng Cộng Sản Trung Hoa tại căn cứ Diên An. Đến năm 1950, Stalin buộc Hồ Chí Minh phải nghe lệnh Mao Trạch Đông thực hiện cuộc cải cách ruộng đất. Chỉ đến sau năm 1975, Việt Cộng chiếm được toàn cõi Việt Nam, Lê Duẩn theo Liên Xô chống Trung Cộng thì việc thống thuộc Trung Cộng mới bị gián đoạn. Nhưng khi Liên Xô sụp đổ thì Trung Cộng đã đưa tay ra nắm lấy Việt Cộng. Cuộc gặp mặt giữa Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Lý Bằng với Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười vào ngày 3/9/1990 tại Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên, Trung Hoa đã nối lại quan hệ thầy trò giữa Trung Cộng với Việt Cộng. Đỗ Mười là kẻ đại diện trung thành cho tinh thần thuộc Tầu đến hôm nay. Còn Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, và Việt Cộng còn thờ thần tượng Hồ Chí Minh thì Trung Cộng vẫn còn là thầy của Việt Cộng, và Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi sự khống chế của Trung Cộng, dù cho Hoa Kỳ có trở thành nước đầu tư lớn nhất tại Việt Nam cũng vậy. Không biết người Việt ta có cảm thấy nhục không? Khi hàng ngàn thanh niên Trung Hoa cầm cờ đỏ 5 sao vàng của Trung Cộng nhảy múa, hò hát, ngang tàng giữa lòng Sàigòn, như trên đất của họ, trong cuộc rước đuốc Thế Vận Bắc Kinh vừa qua.
Little Saigon ngày 13-05-2008
Lý Đại Nguyên

 

 

Khủng hoảng lúa gạo và nguy cơ khan hiếm lương thực

Mai Loan

Trong khi nhiều người dân Mỹ đang chú tâm nhiều vào mối lo tăng giá xăng đều đặn một cách đáng ngại trong thời gian gần đây, thì đa số dân chúng tại nhiều quốc gia khác, nhất là tại hai châu Á và châu Phi, lại lo lắng nhiều hơn vào nạn tăng giá gạo một cách phi mã, có nguy cơ dẫn đến nhiều biến động khó lường khắp nơi. Trong bối cảnh giá gạo tăng vọt hàng ngày một cách kỷ lục trên nhiều thị trường quốc tế, tổ chức Liên Hiệp Quốc đã phải cấp tốc tổ chức một hội nghị bất thường tại Luân Đôn ở Anh Quốc để cùng tìm các phương kế đối phó. Một viên chức cao cấp của LHQ đã gọi cuộc khủng hoảng vì giá gạo tăng cũng như khan hiếm nhu yếu phẩm là một "cơn sóng thần âm thầm" (silent tsunami), có tác động nguy hại cho hàng chục triệu người dân nghèo đói tại hàng chục quốc gia khác nhau.
Cả chính quyền Bush lẫn Quốc hội Mỹ cũng đã phải vội vã tìm phương giải quyết vấn nạn này, vì ý thức được tầm mức quan trọng của vấn đề, có liên quan mật thiết đến nền an ninh lâu dài cho Hoa Kỳ. Chính vì thế mà Toà Bạch -c cũng đã loan báo rằng Hoa Kỳ sẽ cấp tốc giải ngân một chương trình viện trợ lúa mì có trị giá đến 200 triệu Mỹ-kim đến các nước đang lâm vào cảnh nghèo đói. Và Ngoại trưởng Condoleezza Rice cũng đã nói rằng chính phủ Mỹ đang nghiên cứu "những bước kế tiếp để giúp đỡ cho các khối dân nghèo đói đang cần sự cứu giúp nhất". Một số những biện pháp được đề ra gồm có việc thiết lập nhiều kho dự trữ lúa gạo và hạ tầng cơ sở tại nhiều nơi ngoài nước Mỹ để giúp cho việc tiếp tế được mau chóng và hiệu nghiệm hơn; cũng như có thể đưa hồ sơ khủng hoảng lương thực này vào nghị trình bàn luận cho cuộc họp thượng đỉnh về kinh tế G-8 vào tháng Bảy sắp tới. Riêng các vị lãnh đạo phe Dân Chủ ở Quốc Hội Mỹ thì đề nghị chính quyền Bush tăng thêm ngân khoản viện trợ khẩn cấp, để đi kèm theo với dự thảo tăng chi cho tổn phí về cuộc chiến tại Iraq.
Một viên chức cao cấp ở Bạch Cung, xin được giấu tên để có thể tường thuật thẳng thắn, đã cho nhà báo Dan Eggen của tờ Washington Post biết rằng cuộc khủng hoảng về giá lương thực tăng vọt hiện nay tại nhiều nơi trên thế giới đang được chú ý nhiều, không phải chỉ riêng ở Toà Bạch -c mà xuyên khắp nhiều phủ, bộ khác nhau trong chính quyền Mỹ. Lý do đơn giản, theo vị này cho biết, là "một khi mà cuộc khủng hoảng dẫn đến tình trạng bất an và nổi loạn tại nhiều nơi như các đường phố ở Ai Cập, Nam Dương hay Haiti (khiến cho một vị thủ tướng phải mất chức) thì đương nhiên là nó sẽ chiếm sự quan tâm đặc biệt."
Thật vậy, vật giá của gạo, lúa mì, bắp và nhiều nhu yếu phẩm khác đã tăng vọt một cách kỷ lục chỉ trong vòng một thời gian ngắn do bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, gây sửng sốt cho nhiều chính quyền cũng như các tổ chức quốc tế. Gạo Mỹ, rẻ nhất đã tăng giá gấp đối trong vòng một năm qua, hiện nay lên đến 800 Mỹ-kim cho một tấn. Còn gạo Basmati của Ấn Độ, năm ngoái chỉ có 850 Mỹ-kim, giờ đây đã tăng lên thành 2400/1 tấn. Gạo thơm Thái Lan, quen thuộc với nhiều người Việt, cũng tăng vọt từ 560 Mỹ-kim lên đến khoảng 1,200 Mỹ-kim/1 tấn. Tại một số các nước nghèo đói ở Á Châu và Phi Châu, nơi mà người dân trung bình phải chi tiêu đến 3/4 ngân sách gia đình chỉ để lo cho việc mua thực phẩm, vật giá đã tăng vọt hơn gấp đôi chỉ trong vòng có 6 tháng. Tình trạng này đã dẫn đến nhiều vụ nổi loạn tại hơn một chục nước khác nhau, từ Cameroon, Senegal ở Phi Châu, cho tới Bangladesh và ngay cả Phi Luật Tân ở Á Châu. Tại Hồi Quốc (Pakistan) và Thái Lan, chính phủ đã phải đưa quân đội ra để gìn giữ an ninh và bảo vệ các kho dự trữ thực phẩm. Theo lời của ông Robert Zoellick, Chủ tịch của Ngân Hàng Thế Giới, thì có 33 quốc gia sẽ có nguy cơ lâm vào tình trạng bất an và rối loạn xã hội liên hệ đến cơn khủng hoảng này, với ít nhất thêm 100 triệu người khác sẽ rơi vào cảnh đói nghèo và thiếu ăn. Theo thống kê của định chế quốc tế này, hiện nay trên thế giới có khoảng 1 tỷ người sống bằng lợi tức trung bình chỉ có 1 Mỹ-kim cho mỗi ngày, được coi như là tiêu chuẩn để định nghĩa là bị nghèo đói. Khoảng hơn 1,5 tỷ người khác có lợi tức tương đối khá hơn, từ 1 đến 2 Mỹ-kim cho mỗi ngày, dẫu rằng đối với hầu hết những người sống tại Hoa Kỳ này, thật khó tưởng tượng nổi làm sao chúng ta có thể sinh tồn được với số tiền ít ỏi đến mức thê thảm như vậy!
Thoạt nhìn, nhiều người sẽ đổ tội cho thủ phạm chính của cơn khủng hoảng này là nhu cầu năng lượng sinh học (biofuels) mà Hoa Kỳ và Âu Châu đã đeo đuổi từ vài năm qua. Tại Mễ Tây Cơ, người dân biểu tình để chống lại tình trạng thiếu thốn bột bắp, gọi là tortilla riots. Tình trạng này xảy ra vì một số lượng lớn số bắp thu hoạch được dùng vào việc chế tạo ethanol, tuy có đem lại lợi nhuận cao cho nhiều nông gia, nhưng đồng thời cũng khiến đẩy giá thành của bột bắp trên thị trường tiêu thụ cao hơn lúc trước vì khan hiếm bắp. Và điều này lại càng khiến cho Hoa Kỳ và phương Tây lại tiếp tục gặp khốn đốn hơn nữa trong cái gọi là cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, khi người ta biết rằng nơi nào có nạn nghèo đói, thì nơi đó luôn sản sinh ra các phong trào hay tổ chức khủng bố hoặc nổi loạn. Khách quan mà nói, luận cứ đổ tội này chỉ đúng có một nửa. Từ nhiều năm qua, vì nhu cầu đối phó với hiểm hoạ hâm nóng địa cầu, cũng như đi tìm những nguồn năng lượng khác để bổ túc cho năng lượng từ dầu hoả càng ngày càng tăng giá, Hoa Kỳ và các nước Tây phương đã đẩy mạnh các chương trình sản xuất năng lượng bằng dầu bắp, ít ô nhiễm hơn là xăng dầu hoả. Một số lượng lớn về bắp đã được dùng để biến chế thành ethanol để dùng thay thế cho nhiên liệu xăng; và nhiều vùng đất đai dùng để trồng lúa hay các ngũ cốc khác cũng đã được thay thế để trồng bắp hầu có thể sinh lời hơn. Chính phủ Mỹ lại còn khuyến khích tình trạng này bằng cách trợ giá hay giảm thuế cho ethanol, hoặc nâng đỡ cho kỹ nghệ trồng bắp nên khiến cho nhiều nông gia chạy theo chiều hướng này. Hậu quả tức thời là sản lượng về bắp giành làm thực phẩm cho người và nông súc bị tụt giảm, khiến cho mức cung đi xuống trong khi mức cầu vẫn mỗi ngày mỗi gia tăng theo dân số. Kết quả tăng giá là chuyện đương nhiên!
Xét về mặt lý thuyết kinh tế, chính sách trợ giá này để khuyến khích nông gia tại Mỹ bán bắp để sản xuất ethanol tự nó đã gây nhiều hục hặc trong các cuộc tranh luận về mậu dịch toàn cầu, cho dù chưa có nạn khan hiếm thực phẩm. Nay tình trạng lương thực thiếu thốn xảy ra tại nhiều nơi, nó lại càng là lý do khiến cho nhiều nước nghèo càng chỉ trích các chính phủ Mỹ và Âu Châu chỉ lo nghĩ đến quyền lợi của nông dân tại nước mình mà không đoái hoài gì đến những hậu quả tai hại cho người dân trên toàn cầu. Có thể nói một cách ví von rằng khi một người dân Mỹ đổ đầy bình xăng bằng ethanol cho một chiếc xe ngốn xăng như pick-up truck hoặc SUV rộng rãi, thoải mái của mình, thì họ đã tiêu thụ mất đi một số lượng thực phẩm (dùng để sản xuất ra số lượng xăng đó) đủ để nuôi một người dân nghèo tại Phi Châu cho cả năm! Chẳng thế mà ông Tổng trưởng Kinh tế của Ấn Độ đã chỉ trích rằng "ethanol là một tội ác chống lại nhân loại"!
Tuy nhiên, không phải chỉ có ethanol là nguyên nhân chính gây ra cơn khủng hoảng khan hiếm và tăng giá về nhu yếu phẩm hiện nay. Theo tờ nhật báo Washington Post, trong một bài xã luận đề ngày 20-04 vừa qua, cho biết thì có khoảng 25 đến 30% trách nhiệm của vụ tăng giá này nằm trong việc tăng gia sản xuất các nhiên liệu sinh học như ethanol, theo đánh giá của một tổ chức có tên là International Food Policy Research Institute (Viện Nghiên cứu các Chính sách Lúa gạo Quốc tế). Còn một tổ chức nghiên cứu khác của Liên Hiệp Quốc là U.N. Food & Agriculture Org. thì ước lượng rằng trách nhiệm của ethanol chiếm khoảng từ 10 đến 15%. Phần lớn nguyên nhân của vụ khủng hoảng tăng giá các nhu yếu phẩm hiện nay có thể được liệt kê bởi ba nguyên nhân chính yếu khác:
* Tình trạng khô hạn tại một quốc gia xuất cảng gạo quan trọng là Úc Đại Lợi. Trong nhiều năm liên tiếp vừa qua, nạn hạn hán tại Úc đã khiến cho mức sản xuất gạo tại đây tụt giảm mạnh, và quốc gia này không còn khả năng xuất cảng gạo. Hơn thế nữa, các nông gia ở Úc lại khám phá ra một sản phẩm hoa mầu cũng có lợi nhiều mà lại không cần nhiều nước, đó là trồng nho để làm rượu, có lợi tức cao hơn! Việc này sẽ càng khiến cho mức cung ứng lúa gạo trên thị trường thế giới càng có chiều hướng đi xuống nếu như không có những biện pháp thay đổi để cải tiến để tăng gia mức sản xuất.
* Tình trạng giá dầu thô tiếp tục tăng vọt mạnh và nhanh trong thời gian qua, dẫn đến việc tăng giá của nhiều thứ phụ thuộc khác, từ phân bón để trồng trọt (cần đến nguyên liệu biến chế từ dầu thô), cho đến giá xăng nhớt cho phí tổn vận chuyển các xe hàng chở gạo; hậu quả đương nhiên phải tới là giá thành của thực phẩm phải tăng theo.
* Nhu cầu tiêu thụ thực phẩm càng ngày càng gia tăng tại hai quốc gia đông dân nhất toàn cầu là Trung Cộng và Ấn Độ cũng như tại nhiều nước đang phát triển khác. Tại những nơi này, người dân mỗi ngày mỗi tiêu thụ nhiều hơn, không những về các món thực phẩm chính như lúa mì, gạo mà cũng còn kể luôn cả thịt từ gia súc, vốn cũng tự nó tiêu thụ một số lượng lớn ngũ cốc. Tình trạng tiêu thụ cứ gia tăng mãi khiến cho mức cầu cứ mỗi ngày mỗi tăng trong khi mức cung lại có nhiều cơ nguy bị giảm.
Trong số ba nguyên nhân kể trên, xem chừng như yếu tố thứ ba sẽ tiếp tục kéo dài mãi. Và đáng ngại nhất, là cơn khủng hoảng này đã đồng loạt xảy ra khắp nơi, giữa lúc mà tình trạng thu hoạch về lúa gạo tại nhiều quốc gia sản xuất gạo trong năm nay xem chừng như vẫn còn rất tốt. Thật vậy, thông thường các thị trường sản xuất phân phối lương thực dễ bị ảnh hưởng bởi hai nguyên nhân quan trọng không kém là các nạn thiên tai, hay các vụ nổi loạn hoặc chiến tranh. Điều may mắn là trong những năm gần đây, tương đối ít có các vụ thiên tai to lớn ảnh hưởng tai hại đến các kho vựa nông sản trên thế giới. Tuy nhiên, vụ bão lốc khốc hại tại Miến Điện trong tuần qua, với con số thiệt mạng của mấy chục ngàn nạn nhân, cùng với hàng trăm ngàn người khác lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, chắc chắn sẽ khiến cho khối lượng người thiếu ăn càng gia tăng hơn. Điều đáng ngại hơn nữa trong lâu dài là cơn bão lốc Nargis đã tàn phá đến mức gần 95% diện tích được coi như là vựa lúa gạo của Miến Điện, dẫn đến hậu quả tất nhiên là mức cung ứng chỉ có cơ nguy bị giảm xuống trong tương lai gần. Thái độ vô trách nhiệm một cách bất nhân của giới quân phiệt độc tài cầm quyền tại Miến Điện khi không chịu lo lắng và mau chóng đón nhận viện trợ lương thực của thế giới để cứu trợ cho các nạn nhân bão lụt này, càng khiến cho con số các nạn nhân lâm vào cảnh khốn đốn có thể lên đến cả triệu người, vô tình chi phối và tốn thêm công sức và chi phí của các chương trình cứu giúp trên thế giới.
Tại bốn nước có sản lượng gạo cao nhất là Trung Cộng, Ấn Độ, Nam Dương và Bangladesh, thì con số dân đông kinh khủng tại các nơi này cũng khiến cho mức sản xuất gạo cũng chỉ để đủ dùng cho nhu cầu trong nước, chỉ riêng có Ấn Độ là có khả năng xuất cảng mạnh về gạo, hiện nay đứng hạng nhì trên thế giới, sau Thái Lan. Việt Nam, với chính sách đổi mới và tiến bộ sau này của nhà cầm quyền Việt Cộng, đã trở thành nước xuất cảng gạo đứng hàng thứ ba trên thế giới.
Tuy nhiên, tại Ấn Độ cũng như Việt Nam và nhiều nước khác, vật giá của các loại ngũ cốc khác như đậu nành, bắp và lúa mì đã tăng vọt. Để tránh tình trạng lạm phát do giá cả tăng nhanh, và ảnh hưởng bởi tâm lý hốt hoảng và có phản ứng phòng ngừa, các chính quyền đã ra lệnh giới hạn mức xuất cảng gạo, nhằm mục đích tránh tình trạng khan hiếm gạo trong nội địa dẫn đến việc tăng giá. Tuy nhiên, chính sách thiếu sáng suốt này đã bị phản ứng ngược. Vì một khi giảm bớt mức xuất cảng gạo ra ngoài, thị trường trên thế giới lâm vào tình trạng thiếu hụt, tuy rằng chỉ tạm bợ và có tính cách giả tạo, để rồi cũng phải dẫn đến tình trạng giá gạo lại tiếp tục tăng cao. Tình thế này lại khiến cho giới con buôn trong nước vừa lo sợ vừa nảy lòng tham, quyết định tăng giá theo hoặc đầu cơ tích trữ, khiến cho người dân đổ xô đi mua nhiều, tạo nên một tình trạng hốt hoảng. Thành ra mới có cảnh đồng bằng miền Nam được mùa lúa gạo khả quan mà dân chúng cứ đi lo nói đến chuyện hốt hoảng vì sợ thiếu ăn và chính phủ Việt Cộng phải ra thông cáo hăm doạ sẽ trừng phạt nặng những kẻ nào mưu toan đầu cơ tích trữ. Trong một chừng mực nào đó, quyết định cắt bớt mức xuất cảng gạo của Ấn Độ và Việt Nam trong lúc nhu cầu tiêu thụ trong nước vẫn bình thường, và không có lý do cần thiết để biện minh, cũng giống, hay có hậu quả tương tự, như việc đầu cơ tích trữ.
Thái độ hốt hoảng này, buồn cười thay, cũng tiêm nhiễm khá mạnh trong suy nghĩ của nhiều người tại vài thành phố có đông cư dân gốc Á ở tiểu bang California khi họ đổ xô đi lo mua gạo để tích trữ, trong một xứ sở mà người dân cũng chết vì ăn, nhưng không phải chết vì đói hay thiếu ăn, mà vì ăn quá nhiều nên sinh ra nhiều bệnh tật chết người như cao máu và cao mỡ, cholesterol. Thoạt đầu, một số gia đình gốc Việt và Tàu đổ xô đi mua gạo tại các siêu thị Á Châu, tạo nên một tình trạng thiếu hụt và tăng giá. Sau đó, họ truyền miệng để chạy tới các tiệm buôn lớn hơn như Costco và Sam's Club, vốn là những hệ thống bán sỉ, để thu mua số lượng lớn với giá rẻ. Trong số khách tiêu thụ này, có khá nhiều người là chủ nhân các nhà hàng Tàu, vốn cần một số lượng lớn về gạo cho nhu cầu hàng ngày. Hậu quả là hai hệ thống siêu thị này cũng phải ra thông cáo giới hạn cho mỗi khách hàng chỉ được mua một số lượng tối đa 2 bao gạo cho mỗi lần đi mua hàng. Điều nực cười là một số người Việt cũng bị ảnh hưởng và hốt hoảng theo, cho dù nhu cầu tiêu thụ gạo trong gia đình không đáng kể, cũng chạy theo đi mua vài bịch gạo để giành trong nhà, mà không chịu hiểu rằng điều đó chỉ lợi có được vài đồng bạc trong khi gạo để lâu chỉ tổ sinh ra mọt!
Trở về với vấn đề giải quyết nạn khủng hoảng vì giá cả thực phẩm tăng vọt vì khan hiếm, hiện nay vẫn chưa có một sự đồng thuận nào trong các chính sách để đối phó trong trường kỳ. Trong đoản kỳ, nhiều phần là các nước kỹ nghệ hàng đầu trên thế giới sẽ đưa hồ sơ này vào nghị trình bàn luận cho kỳ họp thượng đỉnh G-8 sắp tới. Riêng Hoa Kỳ, với vị thế đệ nhất siêu cường giầu mạnh nhất, cũng đã đóng góp một phần lớn, qua chính sách giải ngân cấp tốc thêm 200 triệu Mỹ-kim để viện trợ thực phẩm tại những nơi thiếu thốn nhất. Hoa Kỳ cũng là quốc gia chi viện mạnh mẽ nhất, mỗi năm cung cấp khoảng 2 tỷ Mỹ-kim cho Chương Trình Lương Thực Thế Giới.
Trong trường kỳ, để tránh những cơn khủng hoảng tương tự có thể nổ bùng ra trong tương lai, những thay đổi cơ bản về các chính sách nông nghiệp cần phải được nghiên cứu và áp dụng, từ việc cải tiến các chương trình phát triển nông nghiệp cho đến việc sửa đổi các quy luật về mậu dịch sao cho công bằng và có lợi hỗ tương, thay vì chỉ có lợi cho nội địa vì nhu cầu hay áp lực chính trị trong nước.
Về kế hoạch phát triển nông nghiệp, người ta nói đến nhu cầu cần phải có một "Cuộc Cách mạng Xanh" thứ hai để gia tăng năng suất sao cho có hiệu quả hơn. Cuộc Cách Mạng Xanh lần đầu xảy ra vào thập niên 1960 khi các chính quyền quyết định đầu tư vào các kỹ thuật nông nghiệp để gia tăng sản lượng. Sự kiện này dẫn đến tình trạng nhiều nước trên thế giới gần như ít còn bị nạn đói vì thiếu ăn (chỉ trừ tại vài quốc gia kém may mắn ở Phi Châu), trong khi giá thành về sản phẩm nhiều khi lại xuống thấp vì tình trạng mức cung cao hơn mức cầu. Trong nhiều trường hợp, một vài quốc gia cũng đã phải bán tống bán tháo các mùa thu hoạch vì sản xuất quá nhiều mà mức cầu không theo kịp, và nhiều chính phủ đã phải trợ giá cho giới nông gia để tiếp tục sản xuất. Sang đến thập niên 1980, nhiều quốc gia bắt đầu giảm bớt các chính sách đầu tư để cải tiến hạ tầng cơ sở cũng như kỹ nghệ nông sản (vì lạc quan hay ỷ y và lầm tưởng rằng vấn nạn về khan hiếm nông sản đã được giải quyết). Cũng trong thập niên 80 và 90, đã xảy ra nhiều tình trạng thặng dư về nông phẩm tại nhiều quốc gia khiến các nước này phải đổ tràn sang các nước khác, tạo nên tình trạng tụt giá, khiến cho chính quyền và nông gia nhiều khi thấy không còn hào hứng để tiếp tục đầu tư tiếp vào nông nghiệp.
Tuy nhiên, để cải tiến cũng như tiếp tục nâng cao năng suất, chính quyền cần phải tiếp tục đầu tư, ít ra cũng vì lý do đơn giản là những phát minh mới về nông nghiệp đòi hỏi một thời gian thử thách dài khoảng 15 năm mới mong thấy được hiệu quả thu hoạch được trên nông trại. Ngoài những đòi hỏi dễ hiểu như phải thay thế các máy móc tân tiến hơn trong kỹ nghệ sản xuất và chế biến nông sản, một cuộc cách mạng xanh còn đòi hỏi phải cải thiện thêm những phương thức dẫn thuỷ nhập điền, áp dụng phân bón cho thích hợp, cũng như chế biến những loại hạt giống mới có khả năng sản xuất mạnh hơn và nhiều hơn. Tuy nhiên, việc chế biến hay áp dụng những hạt giống mới, với tiềm năng sản xuất cao hơn, không phải đơn giản để có thể có kết quả trong một sớm một chiều. Trong một chừng mực nào đó, nó cũng khó khăn và đòi hỏi nhiều kiên nhẫn như việc chế biến ra thuốc chủng ngừa cho bệnh cúm mỗi năm. Nghĩa là nó đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tiếp tục tìm tòi, thử thách để vượt qua những trở ngại thiên nhiên hay tác hại của sâu bọ có thể làm hỏng hết các dự kiến lạc quan lúc ban đầu.
Và sau cùng, nó cũng đòi hỏi các chính quyền của các nước giầu mạnh như Hoa Kỳ và Âu Châu cần phải thay đổi các chính sách trợ giá nông nghiệp trong nước, khiến cho tình trạng bất công tiếp tục xảy ra, khiến cho nông sản tại các quốc gia nghèo đói khác không có cơ hội được tiêu thụ tại các thị trường béo bở này. Tình trạng này đã loại bỏ đi nhiều cơ may và động lực để kiếm lời cho giới nông gia tại các nước nghèo hay đang phát triển, vô tình duy trì thêm một thái độ căng thẳng hay đối nghịch giữa hai khối, để đến khi một cơn khủng hoảng có thể nổ bùng ra, những tiếng nói chỉ trích hay đổ tội lại được đem ra để tấn công lẫn nhau.
Liệu diễn tiến lạc quan này có thể xảy ra hay không? Khách quan mà nói, những kết quả hết sức khiêm nhường của những cuộc bàn thảo gần đây trong lãnh vực trao đổi mậu dịch toàn cầu, thường gọi là các vòng đàm phán Doha, cho thấy là dường như vẫn chưa có sự đồng thuận để hợp tác chặt chẽ giữa hai khối, một bên là Hoa Kỳ và Âu Châu, và bên kia là đa số các quốc gia nghèo đói hay trên đà phát triển.
Trong khi chờ đợi, chúng ta hãy cầu nguyện cho tình trạng tăng giá vì khan hiếm này sớm chấm dứt. Và trong khả năng hạn hẹp của mỗi cá nhân, có lẽ mỗi người trong chúng ta cũng đừng nên tiếp tay vào cái chu kỳ tai hại này, bằng cách đừng nên mua tích trữ gạo để làm gì tại đất nước thừa mứa thức ăn như Hoa Kỳ này. Và nếu cần thì cũng đừng nên quá lệ thuộc để phải mua cho bằng được gạo thơm Thái Lan để cho giá gạo có thể bị tăng lên một cách quá lố. Gạo Mỹ hay gạo Thái Lan hay gạo Basmati của Ấn Độ thì cuối cùng cũng chỉ là gạo, dùng để ăn cho đủ no, cùng với đủ các thức ăn khác. Hơn nữa, với hàng trăm các món ăn khác nhau hàng ngày, cùng với sinh hoạt đa dạng và đặc thù của xã hội Hoa Kỳ, những bữa ăn hàng ngày tại đây không hẳn phải là một bữa ăn phải có cơm. Ít ra thì thái độ đó cũng giúp cho tình trạng khủng hoảng vì giá gạo gia tăng sẽ không xảy ra ở Hoa Kỳ này, giúp giảm một phần nào vào áp lực gia tăng giá gạo tại nhiều nước khác trên thế giới.
Được thế, cũng là một nghĩa cử cao đẹp và cần thiết giúp ích một cách gián tiếp cho hàng triệu người nghèo đói và kém may mắn trên thế giới.
Mai Loan