Dư âm
Hồ Thụy Mỹ Hạnh
Tôi mở rộng cánh cửa, ánh nắng yếu ớt của một buổi chiều sắp tàn hắt qua thềm, người thanh niên vừa gõ cửa đứng trước tôi. Tôi biết đó là người hàng xóm trọ ở căn nhà đối diện nhà tôi. Dù con hẻm cách chừng chục mét nhưng tôi chưa bao giờ trò chuyện, thậm chí là chưa chào hỏi xã giao.
Trong tay anh ta cầm một thứ gì đó như tấm bìa cứng hoặc một tấm hình, tôi gật đầu chào vừa đưa mắt dò hỏi. Anh ta ngập ngừng:
- Đây là một việc có thể làm cô không hài lòng nhưng tôi đã trót thực hiện, chỉ có điều tôi nên giao nó cho cô hơn là tôi giữ, nếu cô vui lòng thì xin hãy xem đây là một quà tặng...
Anh ta vừa nói vừa chìa ra một bức tranh, tôi liếc nhanh, một khung cửa sổ với một người con gái có mái tóc dài buông xoã trên vai và hoa, và lá...
Tranh vẽ bằng bút chì, tôi nghĩ thế và hiểu ngay đó là tôi dù chỉ giống nhất mái tóc và cặp kính cận. Hơi bất ngờ, tôi tròn mắt hỏi:
- Anh đã vẽ tôi ư? Lúc nào vậy?
Anh ta mỉm cười:
- Những buổi chiều, khi tôi tình cờ trông thấy...
Một cảm giác thú vị len vào tôi. Tuy nhiên tôi thấy bối rối chưa biết xử trí ra sao? Nếu là một thứ tặng vật nào khác từ một người mà cả cái tên tôi còn chưa biết thì chắc chắn rằng tôi không nhận, nhưng đây lại là chân dung của tôi, nếu không nhận có nghĩa là muốn anh ta phải giữ. Tôi còn đang phân vân thì bức tranh đã được đặt vào tay, tôi chưa kịp nói lời cám ơn cho phải phép, anh ta đã quay bước, một người ít lời, tôi nghĩ thế.
Từ hôm đó cánh cửa nhà tôi luôn khép lại và tôi cũng ngại đứng bên cửa sổ ngóng nhìn trời đất như thói quen. Anh ta ít nhiều đã gây cho tôi sự chú ý. Giờ thì tôi biết anh ta làm việc gì, làm ở đâu, đi, về khoảng mấy giờ và cả cái tên Thụy dịu dàng như tên con gái.
Sau lần mang tranh tặng tôi, anh ta không hề có biểu hiện gì tỏ ra muốn tìm cách làm quen với tôi. Căn phòng "bên ấy" cũng thường xuyên khép cửa. Tôi và anh ta lại không tình cờ gặp nhau ở đâu cả, nên sự xa lạ vẫn như lúc ban đầu. Còn bức tranh anh ta vẽ cùng với những suy đoán trước đây của tôi, được tôi cất vào một góc suy nghĩ chờ lãng quên.
Và khi tôi không còn quan tâm đến người hàng xóm ấy nữa thì có một đêm tôi thức giấc vào giữa khuya. Trong không gian yên tĩnh, tiếng guitar từ đâu văng vẳng vọng đến bên tôi, tiếng đàn quyện vào tiếng hát trầm ấm, cô đơn và lời ca buồn đến se lòng. Tôi bật dậy lắng nghe, chuỗi âm thanh mơ hồ như không thực kéo tôi đi về phía cửa sổ, tôi mở hé cửa nhìn ra ngoài, dưới hiên nhà đối diện có một người đang ngồi đàn trong bóng tối, tôi không biết đó là ai vì trong căn nhà ấy có mấy người cùng trọ. Tiếng đàn và giọng hát trầm ấm kia như có ma lực cuốn hút tôi.
"...Thôi xin ơn đời trong cơn mê này gọi mùa thu tới, tôi đưa em về chân em bước nhẹ trời buồn gió cao, đời xin có nhau dài cho mãi sau..."
Tiếng đàn và sự cô quạnh của đêm khuya dễ gây cho người ta nỗi buồn và cảm giác đó truyền vào tôi rất nhanh. Ai đàn vậy nhỉ? Tôi mở tung cánh cửa ra, ánh sáng trong phòng hắt ra thềm. Tiếng đàn lẫn tiếng hát chợt im bặt. Tôi như tỉnh trước hành động vô thức của mình, nên lại vội vàng đóng sập cửa. Trở lại giường nằm, tôi rủa mình vô duyên.
Mặt trời hừng lên bên kia đồi, bầy chim sẻ ríu rít, rộn ràng trên mái ngói. Buổi sáng mùa thu trời đầy mây trắng, một ngày sẽ lạnh hơn mọi ngày. Những chiếc lá rụng bay đầy trước sân hôm nay được tôi quan tâm hơn bằng những nhát chổi chậm chạp, thật khó giải thích tại sao tôi chờ đợi, tiếng đàn lúc khuya vẫn như văng vẳng bên tai, tôi cảm thấy hồi hộp trước cái giờ mà tôi biết căn nhà đối diện sẽ mở cửa, và...
- Uyên!
Tiếng gọi khẽ như sợ người được gọi nghe thấy, dù có ý chờ đợi cuộc gặp gỡ này song tôi không khỏi giật mình.
Thụy đang tiến về phía tôi, dáng đi của anh trầm tĩnh, lẳng lặng. Tôi hơi ngẩn ra, nghĩ mãi để tìm một câu nói mở đầu sao cho thật tự nhiên, nhưng Thụy đã lên tiếng trước.
- Có phải hồi đêm tiếng đàn của tôi đã phá giấc ngủ của Uyên?
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
- Là anh đàn ư?
- Vâng! Và tôi đang tự hỏi tại sao cửa sổ nhà Uyên hồi đêm chợt mở ra rồi đóng sập lại đầy vẻ bực dọc?
Tôi nở nụ cười thân thiện:
- Anh đã hiểu nhầm, thật ra bài hát của Trịnh Công Sơn hay quá, chỉ tiếc rằng tôi không được nghe hết...
Thụy thở phào:
- Vậy mà tôi cứ tưởng...
- Anh tưởng tôi là một người không biết thưởng thức một giai điệu hay như thế ư?
- Tôi không nghĩ như vậy, nhưng được biết Uyên không khó chịu vì điều ấy thì tôi yên tâm rồi.
Tôi biện minh:
- Tôi đã vụng về trong hành động, cử chỉ của mình, thật ra tôi mở cửa vì muốn tiếng đàn kia vọng sang rõ hơn và cũng muốn biết ai đàn... bên ấy! Anh biết không tôi rất "mê" bài Hạ trắng...
Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nụ cười của Thụy, anh lộ vẻ vui, dường như ở con người này mọi nỗi niềm biểu lộ nhiều qua ánh mắt hơn là lời nói.
Thụy mang đến tặng tôi bài Hạ trắng chép tay, những dòng nhạc kẽ cẩn thận và nét chữ nắn nót bằng mực tím, có minh họa một cô gái tóc dài đứng trên đồi thông, tà áo bay hứng đầy hoa nắng và ở mặt ngoài có trích ghi dòng chữ "Áo em bây giờ mờ xa nẻo mây, gọi tên em mãi suốt cơn mê này..."
Từ đó những khi nghe tiếng đàn của Thụy ngân lên, tôi bèn mở hờ cửa sổ tỏ một tín hiệu lặng lẽ rằng tôi đang lắng nghe. Ở "bên kia" bài Hạ Trắng được dạo lên nhiều lần, tiếng đàn trầm và luôn luôn tôi có cảm giác Thụy đang buồn.
Về mối quan hệ của Thụy và tôi, tôi thật sự khó hiểu, không biết Thụy nghĩ sao về tôi, vì có lúc anh tỏ ra quan tâm, thân thiện với tôi, lại có lúc anh như muốn lánh tôi và thật lạnh lùng. Phần tôi cũng tự chất vấn mình, đó chỉ là một sự ngưỡng mộ trước một người có nhiều biệt tài, hoặc có hơn thế thì đó là một thứ tình cảm chưa thể đặt tên bây giờ, vì xét cho cùng tiếng đàn của Thụy gần gũi với tôi hơn là anh.
Nhưng bỗng nhiên tiếng Guitar không còn cất lên trong nhiều đêm, tôi chợt thấy trống vắng. Bản tính e dè không cho tôi sang "bên ấy" xem Thụy ra sao. Căn nhà đối diện vẫn còn những người ở cùng Thụy ra vào, chỉ vắng anh. Một tuần, rồi một tháng vẫn biền biệt. Như vậy là Thụy đã đi khỏi đây, vậy mà anh không hề nói với tôi một lời từ biệt. Tôi tự nhủ "Một người vô tâm, nên quên đi là hơn!"
Tôi sẽ không còn bận tâm và nhớ về Thụy như một ám ảnh nếu tôi đừng biết thêm một điều gì nữa về anh. Một thời gian không lâu sau đó, tôi tình cờ gặp người bạn trọ chung nhà với Thụy, tôi không nén được lời trách cứ về việc Thụy chuyển đi mà tôi không hay biết. Người bạn ấy mới tiết lộ câu chuyện mà tôi cho rằng họ đã cố tình giấu kín. Trước khi đến đây Thụy đã lập gia đình, nhưng đó là một cuộc hôn nhân không hoàn hảo, cô gái ấy không có lỗi gì nhưng hoàn toàn không phù hợp với tính cách của anh, không hạnh phúc. Với đời quân nhân đây đó Thuỵ luôn xa nhà. Rồi do yêu cầu của công việc Thụy đã đến đây, không ngờ nơi dừng chân này trái tim anh đã rung động trước một người con gái nhưng ý thức việc anh đã có gia đình, Thụy phải giấu kín tình cảm của mình.
Tình yêu là một thứ không thể hỏi tại sao khi nó đến với người này thì lại dịu dàng, êm ả mà với người khác lại nghiệt ngã, trắc trở. Thụy đã trải qua những ngày mà tâm tư luôn nặng nề, u uẩn. Và trong một đợt tăng cường cho một đơn vị tác chiến Thuỵ đã hăng hái lên đường, cũng để không vướng vào một lầm lỗi mà anh chắc mình sẽ không tránh được, đó là khi tình yêu của anh sẽ không còn là mối tình đơn phương. Thụy ra đi khi trái tim anh đã hằn sâu một một ánh mắt, một dáng hình và hơn cả là người con gái ấy có một sự đồng cảm với tâm hồn anh. Nhưng Thụy đã không bao giờ trở về được nữa, anh mãi mãi nằm lại nơi chiến trường...
Tôi lặng đi, bàng hoàng trước một cảm giác như có một cái gì đó quí giá vừa rơi khỏi tay mình và đã tan, đã vỡ... Đã nhiều năm trôi qua, khuôn mặt Thụy không còn rõ nét trong trí nhớ của tôi, nhưng mỗi khi bất chợt nghe đâu đó vang lên giai điệu của bài Hạ Trắng thì trong tâm hồn tôi lại gợi lên một sự tiếc nhớ rưng rưng. Mãi mãi tôi không quên được một hình ảnh đẹp mà Trịnh Công Sơn đã vẽ lên bằng lời nhạc, và Thụy là người tô điểm, đặt nó vào trái tim tôi.
Hồ Thụy Mỹ Hạnh
30 Tháng Tư: Nghĩ về một nền văn học đầy tiếng súng
Nguyễn Mạnh Trinh
Buổi chiều phân vân với câu tự hỏi. Mình sẽ viết cái gì vào dịp 30 Tháng Tư này? Thời gian 1975-2008 quả thực khá dài nhưng những tâm cảm ngày nào tới bây giờ hình như vẫn còn. Và đó cũng là những khoảng cách để nhìn lại một sự kiện lịch sử. Nhất là để nhìn lại cái mà Việt Cộng gọi là "văn học". Chữ nghĩa được dùng để phục vụ chiến tranh nên sau một thời gian ngắn đã thành những trang giấy bẩn...
Đọc đại một cuốn sách của Việt Cộng về ngày 30 Tháng Tư để xem họ viết ra sao và tôi đọc cuốn "30 Tháng Tư" do nhà xuất bản chính thức của nhà nước mang tên thành phố Hồ Chí Minh. Tập sách có nhiều bài viết của những người lãnh đạo như Lê Khả Phiêu, Võ Trần Nhã, Nguyễn Trần Thiết, Thành Tín (tức là Bùi Tín)... và cũng có những người theo đuôi như Ngụy Ngữ, Sơn Nam.
Đọc lại những bài viết, thấy cùng một giọng, khoa trương đến lố bịch và tự hào của những kẻ hãnh tiến khi thấy mình thành công. Đọc những bài như "Tiến vào Sàigòn" của Lê Khả Phiêu, hay "Đòn quyết định cuối cùng" của Nguyễn Viết Tá đều cũng giống nhau một giọng nên chẳng có điều gì đáng đề cập đến. Văn chương để tuyên truyền!
Nhưng đọc lại bài viết của Võ Trần Nhã "Ngày cuối cùng cuộc chiến tranh của Sàigòn" ghi lại chuyện của Nguyễn Văn Diệp, một tay thân Cộng nhưng lại làm bộ trưởng kinh tế thương mại của nội các VNCH của Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Bá Cẩn mới thấy sự thật và những điều không thật trộn lẫn vào nhau để thành một sự kiện có thể làm sai lạc lịch sử. Ở đó, mới thấy được sự đón gió theo thời của một trí thức và những hành động để tiếp tay cho chủ trương chủ bại, đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp Định Paris. Và những chuyện ấy được kể lại và đọc trong "Hội Nghị Khoa Học Lịch Sử về Chiến Dịch Hồ Chí Minh" để ghi công nhưng chẳng được gì vì "anh ta đã già và đây là một hồi tưởng của một người có mặt trong một biến cố lịch sử" (Võ Trần Nhã đã ghi chú như thế)... Đọc bài của Thành Tín tức Bùi Tín, một người bây giờ phê bình hết sức nặng lời với chế độ hiện hữu, cũng viết lại những sự kiện bằng lối nói phách lối ngạo mạn và ca tụng chiến công một cách tự mãn. Đọc "Nhớ những ngày Tháng Tư" từ "Cánh Rừng Dầu Tiếng" đến "Sàigòn những khuôn mặt trẻ thân quen", từ đoạn này sang đoạn khác cũng là lối nhìn và diễn tả thiên kiến và một chiều. Ngay như đoạn viết về tên phản bội Nguyễn Thành Trung "Người ném bom xem vết bom của chính mình" cũng chỉ là những ghi nhận lại vụn vặt nhưng có ý tán dương cái "chính nghĩa" mà bây giờ ông ta phê phán và kết tội...
Lại đọc "Ba Lòng Ngày Đó", một hồi ức của Ngụy Ngữ mà sau này thành một văn nô của chế độ, viết về những ngày 30 Tháng Tư ở trại tù Ba Lòng nơi giam giữ các người mà được gọi là "tù ngụy" để thấy được cái gian dối của người cầm bút. Ông ta phác họa lại cái không khí vui mừng đón chờ của những tù binh và sự thân ái của người coi tù và tù binh (có lẽ ông ta đang kể về chuyện thân ái giữa mèo và chuột). Bao nhiêu người bị bắt làm tù binh khi vùng I và vùng II và đều kể lại cái tâm trạng buồn thảm và đau đớn của những người bị mất tất cả. Trong khi đó Ngụy Ngữ thì lại bày tỏ cái tâm cảm vui sướng trái ngược lại. Có lẽ, "Con Thú Tật Nguyền" ấy đã "Tôi không về từ nhà giam mà là trại cải tạo, không phải tha về luôn hay hay trốn về mà là được về phép, về có gạo tiền ăn đường đi bộ và cả mấy cuộn mây ban chỉ huy gửi theo tặng gia đình, nghỉ ngơi vài hôm xong tôi sẽ lên trại thêm một thời gian nữa..."
Đọc bọn Cộng Sản đã chán mà đọc cái bọn theo thời cách mạng nửa mùa còn chán hơn! Đọc Sơn Nam với bài "Trước lúc bình minh" cũng thế, thở than bị cơ quan an ninh VNCH bắt giữ cho đến khi Việt Cộng chiếm được Sàigòn. Lại cũng xưng tung kẻ thắng và mạt sát người thua...
Đọc cuốn sách xong, tự hỏi mình giữ lại cuốn sách này làm gì? Mặc dù là người yêu quý sách vở tôi không có chọn lựa nào là vứt nó đi. Cũng như, bỏ đi những trang sách viết để cổ võ giết người của một nền văn chương tuyên truyền mà từ bao lâu nay ở miền Bắc trước 1975 và trong nước sau này vẫn đầy dẫy...
Từ xưa tới nay, chiến tranh vẫn là một đề tài lớn của nhân loại. Những danh tác như "Chiến Tranh và Hòa Bình", như "Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh"... đã phác họa lại một thời nhưng lại sống lâu cả đời và thành những tác phẩm "classic" tiêu biểu. Viết về chiến tranh của những thời đại khác nhau, nhưng vẫn là viết về một con người muôn thuở. Do đó, từ những chân dung ấy, những người sống ở các thế hệ sau dễ dàng bắt gặp những tần số chung để có sự chia sẻ...
Chiến tranh ở Việt Nam, suốt mấy chục năm, đã trở thành chuyện bình thường. Bao nhiêu là biến cố, bao nhiêu là sự kiện, viết hoài cũng chưa hết, kể hoài cũng chưa đủ. Thậm chí cho đến nay, tiếng súng đã hết từ ba mươi ba năm, nhưng chiến tuyến hình như vẫn cón ẩn hiện giữa những người Việt với nhau. Kêu gọi hòa giải, thúc giục đoàn kết, đôi khi chỉ là những chiêu bài cho những tính toán, mưu đồ riêng.
Trong văn chương, trong nghệ thuật, đã thấy những dấu hiệu. Giơ tay mời trở về, không phải vì tình tự dân tộc, mà vì cái túi tiền, vì chất xám của người trở về. Còn người quy cố hương, chưa hẳn vì muốn góp công góp sức cho đất nước, mà, còn nhắm vào những lợi lộc sẽ có, đến những mục tiêu cá nhân.
Trước năm 1975, ở miền Bắc Việt Nam, đã có một nền văn học phục vụ chiến tranh. Một dàn hợp xướng vĩ đại được Đảng thành lập với chủ trương hy sinh tất cả cho chiến tranh. Chủ trương ấy đã được đầu nậu văn nghệ Tố Hữu viết thành thơ:
"Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn ngàn trang sách luận văn chương"
Cũng như những đề cương văn hóa của Trường Chinh viết từ những năm đánh Pháp tới về sau là những kim chỉ nam để các văn nghệ sĩ noi theo. Từ hình ảnh anh vệ quốc quân thời kháng Pháp đến anh bộ đội thời chống Mỹ, chỉ là một, những con người quên mình vì lý tưởng, luôn lạc quan dù cả những khi biết mình sẽ bị hy sinh như một con cờ làm chốt thí. Về văn xuôi, về thơ, và nhất là ở thể ký, tất cả như một giàn đồng ca cùng một giọng điệu, một cung bậc. Nếu có ai đi ra ngoài hạn định sẽ bị phê bình và tự nhiên bị loại ra khỏi sinh hoạt văn chương ngay.
Thời chống Pháp, chiến tranh được ghi dấu lại với những bài thơ của Tố Hữu, Quang Dũng, Chính Hữu, Hoàng Cầm, Hồng Nguyên, Hoàng Lộc, Hữu Loan... Hình ảnh anh bộ đội là đề tài tập trung của văn học. Những áng văn xuôi như "Trận Phố Ràng" của Trần Đăng, "Voi Đi" của Siêu Hải, "Bên Đường 12" của Vũ Tú Nam, "Xung Kích" của Nguyễn Đình Thi... đều là những lời kêu gọi hy sinh, toàn là mô tả những gương anh hùng, những người không nghĩ đến cá nhân mình khi liều mình vào trận chiến. Những bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, những Đêm Liên Hoan và Bên Kia Sông Đuống của Hoàng Cầm, những Nhớ của Hồng Nguyên, những Các Anh Về của Hoàng Trung Thông.. góp phần vào dòng văn học viết về chiến tranh thời đó.
Nhưng, lại bị phê bình chỉ trích kịch liệt. Những bài thơ của Quang Dũng, được coi như là những bài thơ tuyệt tác đỉnh cao của thi ca kháng chiến thì bị Tố Hữu cho đó là "tư tưởng sa đọa, văn hóa suy đồi". Quang Dũng vì mấy bài thơ bị ghen tài mà suốt cả đời lận đận.
Bài "Nhớ" của Hồng Nguyên cũng bị Hoài Thanh kết án là "yếu đuối ủy mị" và có ngôn ngữ của thái độ trịch thượng, xa cách với đồng bào, nhất là quảng đại dân chúng bình dân ít học.
Lưu Trọng Lư thì quy tội bài thơ "Không Đề" của Nguyễn Đình Thi có ý tưởng sai lạc, tư tưởng tiêu cực, ngôn ngữ hiu hắt và đòi phải xóa tên Nguyễn Đình Thi khỏi danh sách những thi sĩ của vương quốc thi ca. Và chính Lưu Trọng Lư cũng bị Hoài Thanh sửa lưng trong cuốn sách "Nói Chuyện Thơ Kháng Chiến" nào chê bai là bi quan không tin tưởng vào Đảng và chính nghĩa và đòi phải sửa những câu thơ trong bài "Ngò Cải Đơm Hoa". Lưu Trọng Lư tức giận nhưng vì bị áp lực nên đành sửa chữa để một bài thơ hay trở thành một bài thơ dở...
Một phong trào viết về những người lính anh hùng được phát động sau khi Trường Chinh đọc báo cáo "Thi đua ái quốc và chủ nghĩa anh hùng mới". Những nhà văn tên tuổi được chỉ định để viết về từng người được phong tặng chiến sĩ anh hùng. Nguyễn Xuân Sanh viết về Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Huy Tưởng viết về Ngô Gia Khảm, Vũ Cao viết về Nguyễn Thị Chiên, Tô Hoài viết về Kim Đồng, Vũ Tú Nam viết về La Văn cầu, Từ Bích Hoàng viết về Nguyễn Phú Vỹ... Và sau này khi in thành tập truyện Anh Hùng Chiến Sĩ Thi Đua và được giải thưởng văn học ngoại hạng... những hình tượng anh hùng này không hiểu có thực trên cõi đời không hay chỉ là trong tưởng tượng như anh hùng Lê Văn Tám liều mình để đốt kho xăng của thực dân Pháp?
Đến thời kỳ chiến tranh ở miền Nam sau này khi bắt đầu những hành động vũ trang, chiến tranh lại có mặt và giàn đồng ca lại nổi lên mạnh mẽ hơn với những giọng hợp xướng quen thuộc. Nguyễn Hưng Quốc viết trong "Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản":
"Dấu vết chiến tranh hiện hình ngay trên những tựa sách. Thơ nào là Ra Trận (Tố Hữu), nào là Gửi Chiến Trường Chống Mỹ (Hoàng Tố Nguyên), nào là Những Bài Thơ Đánh Giặc (Chế Lan Viên), nào là Chiến Trường Gần Đến Chiến Trường Xa (Huy Cận), nào là Hoa Dọc Chiến Hào (Xuân Quỳnh), nào là Trong Gió lửa (Hoàng Trung Thông)...
Văn xuôi cũng thế. Cũng hừng hực không khí chiến tranh Chế Lan Viên viết Những Ngày Nổi Giận (1966). Nguyễn Đình Thi viết Vào Lửa (1966), Hữu Mai viết Phía trước là Mặt Trận (1966), Hồ Phương viết Nhắm Thẳng Quân Thù Mà Bắn (1968), Lê Văn Thảo viết Ngoài Mặt Trận (1969), Vũ Cao viết Từ Một Trận Địa (1969), Nguyễn Khải viết Họ Sống và Chiến Đấu (1966)...
Thật ra văn học Cộng Sản từ năm 1945 đến nay lúc nào cũng là một nền văn học chiến tranh. Lúc nào trên trang sách cũng vang vang những tiếng súng nổ. "Nay ở trong thơ nên có thép". Nhà thơ cũng phải biết xung phong. Hai câu thơ của Hồ Chí Minh đã được coi như một cương lĩnh sáng tác cho tất cả mọi người. Tuy nhiên chưa có lúc nào dấu vết của chiến tranh lại rõ rệt lại bao trùm trong toàn bộ nền văn học của Cộng Sản như trong gia đoạn 1965-1975.
Viết về miền Nam, viết về vùng trời, vùng biển, viết về những nơi gọi là "tuyến lửa" như Quảng Bình, Nghệ An... người ta mô tả như là trung tâm của cơn bão. Ngay cả khi viết về những đề tài như nông, công nghiệp người ta cũng coi chiến tranh như một cơn bão rớt gió dữ vẫn lồng lộng thổi tới len vào tận các ngõ ngách trong tâm trạng con người. Không có cảnh ngộ nào, kể cả lúc hai người con trai con gái đang tỏ tình với nhau, chiến tranh lại không là một ám ảnh..."
Nhưng cũng có những giọng ca lạc điệu trong giàn hợp xướng ấy, như bài thơ "Vòng Trắng" của Phạm Tiến Duật có những câu như:
"Khói bom lên trời thành một vòng đen
Trên mặt đất hiện lên bao nhiêu vòng trắng
...
Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang vòng tròn như một số không."
Những câu thơ ấy không được chấp nhận. Từ những hình ảnh để đến những liên tưởng, từ vòng đen của khói bom đến vòng trắng của khăn tang rồi con số không của tận cùng mất mát, cái thông điệp của chiến tranh đầy những suy tư khốc liệt. Dù rằng trong bài thơ có đoạn kết khá có hậu:
"Tôi và bạn tôi đi trong im lặng
Với cái đầu bốc lửa ở bên trong."
Tạp chí Học Tập đã phê phán gay gắt: "Giữa lúc cần nói to lên niềm sung sướng tự hào về cái được vĩ đại của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thì nhà thơ chỉ thấy cái mất, chỉ thấy tang tóc đau thương và than thở..."
Thế là, âm hưởng của những bài thơ như "Trường sơn Đông, Trường Sơn Tây" lại mất đi trong lỗ tai những lãnh đạo văn nghệ. Và, cái án treo lại lơ lửng với thi sĩ họ Phạm...
Lưu Quang Vũ, một nhà đạo diễn kịch tài ba, viết kịch bản cũng xuất sắc và là một nhà thơ đã thức tỉnh về chiến tranh khá sớm. Những câu hỏi luôn đặt ra trong thơ ông, như những gút mắc càng ngày càng thắt chặt không gỡ bỏ được. Những câu thơ như:
"Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều
Rách tan cả những làn sương đẹp phủ."
Hay
"Khi con người giết nhau
Những lá thư không biết gửi về đâu
Những hải cảng không có tàu cập bến..."
Bài thơ "Việt Nam ơi!" có những câu như:
"...Tổ quốc là nơi tỏa bóng yên vui
Nơi nghĩ đến lòng ta yên tĩnh nhất
Nhưng nghĩ đến Người lòng tôi rách nát
Xin Người đừng trách giận Việt Nam ơi
Người có triệu chúng tôi, tôi chỉ có một Người
Tất cả sẽ ra sao
Mảnh đất nghèo máu ứa?
Người sẽ đi đến đâu
Mà Việt Nam đói khổ?
Đến bao giờ bông lúa
Là tình yêu của Người...?"
Những câu hỏi cho lãnh tụ, những vấn nạn khó cho chính người đặt ra. Lưu Quang Vũ nhìn thấy được cái chiêu bài thúc giục hy sinh và hiểu được cái vô nghĩa của hành động bắn giết. Và cả một thời kỳ, ông bị đầy ải cực nhục, sống không ra sống, chết chẳng ra chết. Nếu không có tình yêu với Xuân Quỳnh, có lẽ ông không ngóc lên được...
Cái chết của gia đình Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh đầy những nghi vấn. Những vở kịch của Lưu Quang Vũ chuyên chở thật nhiều những ý hướng muốn thay đổi xã hội và nhắm vào những tiêu cực của một chế độ với những ngôn ngữ và ý tưởng đầy ẩn dụ. Và, chính vì nói lên được cái tâm tư chung của nhiều người nên có lúc đã thành tiếng nói của một thời đại mà chiến tranh tuy đã dứt tiếng súng nhưng vẫn còn ác liệt.
Có người đã phát biểu rằng những ký sự hoặc tiểu thuyết chỉ viết về một nửa sự thực bởi giới tuyến đã làm tầm nhìn bị phân cách và sự chủ quan đã làm những nhận xét bị thu hẹp lại và một chiều. Nhất là, khi văn chương bị chỉ đạo chặt chẽ bởi chính sách đường lối của Đảng như ở Việt Nam.
Trong tạp chí Văn Nghệ Sông Cửu Long, nhà văn "Việt Cộng" Nguyễn Khắc Phê viết: "Theo tôi, một nguyên nhân không kém phần quan trọng khiến cho các tác phẩm viết về chiến tranh chưa thỏa mãn được người đọc là quan niệm, cách nhìn về chiến tranh, về người anh hùng, vì lẽ này, lẽ khác còn phiến diện. Do đó chiến tranh hiện ra trên trang sách không sinh động thường chỉ một chiều diễn tả, chứng minh "ta thắng địch thua" và người anh hùng thì thường đơn giản, xơ cứng..."
Nhưng theo nhà văn này, cũng có những tác giả dám viết ra một phần sự thực, dù sau đó bị phê bình, kiểm thảo tơi bời. Như tiểu thuyết "Đất Trắng" của Nguyễn Trọng Oánh, "Nỗi Buồn Chiến Tranh" của Bảo Ninh, "Người Lính Đào Hoa" của Nguyễn Việt, "Sông Dài Như Kiếm" của Nguyễn Quang Hà.
"Đất Trắng" là một tiểu thuyết viết về vùng đất chiến tranh khốc liệt ở Quảng Trị cũng có những nhân vật anh hùng chiến đấu kiên cường nhưng cũng có mẫu nhân vật hèn nhát đào ngũ như một chính ủy thuộc thành phần trung kiên của Đảng.
"Nỗi Buồn Chiến Tranh" là một tiểu thuyết mô tả lại tâm tư của một lớp thanh niên bị đẩy vào cuộc chiến với chiêu bài giả tạo chống Mỹ cứu nước. Qua những trang sách những cực kỳ bi thảm của chiến tranh được phô bầy, những cuộc đời lỡ làng sau chiến tranh, những hy sinh vô lối của một cuộc chiến vô nghĩa.
"Người Lính Đào Hoa" là chuyện kể về một anh chàng lính trẻ có số đào hoa, yêu đương cũng hết mình và chiến đấu cũng xuất sắc. Nhưng bên cạnh chân dung chiến sĩ ấy, cũng có những bóng dáng của cấp chỉ huy hèn nhát, lại ham danh cướp công của cấp dưới mà lại còn mê gái và dâm đãng nữa. "Sông Dài Như Kiếm" cũng là một tiểu thuyết viết về những ngày tháng chiến đấu gian khổ và cũng có những cấp chỉ huy nhỏ mọn, kèn cựa, thâm hiểm, và thích hưởng thụ, khoái ăn ngon, gái đẹp...
Tất cả những tiểu thuyết trên đều bị phê bình là sao làm vẩn đục cuộc chiến tranh mà họ gọi là thần thánh bằng những nhân vật, những tâm tư như thế. Và có nhiều nhà phê bình cực đoan đã chụp mũ: Đó có phải là một cách chống đối chế độ có ý thức không?
Bảo Ninh, trong một bài phỏng vấn của phóng viên Sinh Viên Việt Nam đã phát biểu:
"Hỏi: Trong Nỗi Buồn Chiến Tranh, độc giả cũng được tiếp cận rất mạnh với một dòng văn học gọi là "dòng ý thức". Có người gọi đó là "một sự phủ nhận về hình thức, một sự phá vỡ bố cục truyền thống". Còn trong tác phẩm anh viết rằng... "Đây là một sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo của sự rối bời. Tôi không muốn nói là điên rồ". Jean Paul Sartre có nói rằng "Kỹ thuật của tiểu thuyết liên quan đến tư tưởng của tác giả" anh có đồng ý với quan niệm đó khi viết soi vào Nỗi Buồn Chiến Tranh? Và có một sự tác động nào đó từ bên ngoài hay chỉ là sự "rối bời" của nội tâm lôi kéo anh theo cách viết này?
Bảo Ninh: Không cuốn tiểu thuyết nào lại không hàm trong nó cái mà anh gọi là "dòng ý thức". Chỉ khác nhau là ẩn sâu hoặc lộ ra thôi. Bây giờ nghiệm về những sự mình đã viết tôi thấy "dòng ý thức" của Nỗi Buồn Chiến tranh nó lồ lộ quá. Tác giả nghĩ hộ cho nhân vật quá nhiều và cũng bắt nhân vật lúc nào cũng đăm đăm suy nghĩ. Vì thế mà rối bời chăng...?"
Nếu ai đã đọc Nỗi Buồn Chiến Tranh thì sẽ thấy bên cạnh những vạch trần sự thực, vẫn còn những chi tiết mà sự mô tả còn chủ quan và đẫm cảm tính. Khi viết về những người ở chiến tuyến đối diện, Bảo Ninh vẫn ở trong một tâm thức đối nghịch nên đã có những ngôn từ hoặc ý nghĩ thiên lệch không trung thực như khi tả những xe tăng T54 cán lên những người lính VNCH, hoặc tả lại cảnh chiến đấu của những người nữ cảnh sát tại Ban Mê Thuột, hay những toán lính thám báo miền Nam xâm nhập mật khu hãm hiếp các nữ cán bộ. Hình như, những điều tuyên truyền của chế độ chuyên chế Cộng Sản không thể nào gột rửa được trong trí óc những người lính miền Bắc. Đã sau 15 năm không còn tiếng súng, mà cái tâm tư căm thù như thế vẫn còn dù Bảo Ninh là một nhà văn tương đối ít cuồng tín và không phải là người theo đuôi chính sách văn hóa mà Đảng chỉ đạo...
Một cuốn tiểu thuyết khác của Dương Thu Hương viết ở trong nước và in ở hải ngoại. "Tiểu thuyết vô đề" cũng gây ra nhiều dư luận. Viết về một cuộc chiến tranh mà nguyên nhân chỉ là những huyền thoại mơ hồ và những người tham dự bị đẩy vào trong những hoàn cảnh chẳng thể lùi bước. Như một người lính đã nghĩ "Em nghĩ nhiều... Em cũng nghe chán vạn điều thiên hạ nói. Nhưng mà nhân dân lúc có thực, lúc như bóng ma. Nếu cần lúa, nhân dân là con bò kéo cày. Lúc có chiến tranh con bò ấy mặc áo giáp và cầm súng. Rồi khi mọi sự đã qua, vào những ngày lễ lạc, hội hè... người ta tôn xưng nhân dân như hú vọng các hồn ma, tưởng thưởng cho khói thơm và tro tiền, còn phần xôi thịt thì kẻ khác hưởng..."
Cuộc chiến đã được phô bầy để thấy được tấn thảm kịch của một dân tộc phải chịu đựng. Bao nhiêu người chết, nghĩa trang Trường Sơn bạt ngàn xác người, bao nhiêu tuổi thanh xuân bị phung phí vào lò lửa thiêu đốt, bao nhiêu sinh lực của dân tộc bị hao phí vô mục đích...
Một cuốn tiểu thuyết khác của Dương Thu Hương "Chốn Vắng" viết về thời kỳ hậu chiến tranh tuy đã không còn tiếng súng nhưng cuộc chiến đấu lại bi thảm và khó khăn hơn nhiều. Những sương phụ nửa chừng, những thương binh tàn phế, những cuộc đời lỡ làng dở dang, những cuộc sống sinh lý chênh lệch... tất cả những nhân vật ấy có mặt trong một tấn thảm kịch thê thảm giữa những đè nén tính dục và những đòi hỏi xác thịt...
Phác họa qua một vài tác phẩm, và theo dõi suốt một hành trình văn học, dần dần chiến tranh đã được giải mã sau những thời kỳ tác giả viết theo chính sách, tạo nên những hình tượng anh hùng, của những tưởng tượng tuyên truyền không thực./.
Nguyễn Mạnh Trinh
|