banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Từ Thiên An Môn đến đấu tranh quần chúng

 

Trần Hùng

Trong tuần lễ này có ngày tưởng niệm vụ thảm sát Thiên An Môn, năm thứ 19. Đây là vụ nổi dậy có tính cách điển hình nhất, và đồng thời cũng là vụ thảm sát có con số nạn nhân lớn lao nhất trong giai đoạn chấm dứt thời kỳ chiến tranh lạnh trên thế giới, đưa đến sự sụp đổ của đế quốc đỏ. Chính quyền Trung cộng nói có khoảng 300 người chết. Báo chí ngoại quốc nói số thương vong lên đến 800. Hồng thập tự nêu con số từ 2 đến 3 ngàn. Dẫu gì thì đây cũng là một vụ tắm máu kinh hoàng ngay giữa thủ đô Bắc Kinh, và là một vết nhơ cho chế độ cộng sản Tầu mãi mãi về sau.
Nguyên nhân xâu xa của sự nổi dậy khởi đi từ cuối thập niên 70, khi Đặng Tiểu Bình chủ trương chính sách đổi mới để cứu vãn nền kinh tế tập trung đang bị phá sản. Như tất cả những chế độ độc tài khác, và sau này cũng là con đường mà CSVN đi theo, đảng cộng sản Trung quốc chủ trương chỉ cởi mở về kinh tế, còn chính trị thì vẫn siết chặt để bảo vệ quyền lực của đảng.
Chính sách khập khiễng kinh tế thị trường sánh đôi cùng với chính trị độc đảng đã đưa đến việc phát triển mất cân đối, làm gia tăng tình trạng phân cách giầu nghèo, trong khi một thiểu số thành thị ở ven biển đạt tỷ lệ phát triển cao thì cuộc sống của phần lớn cư dân ở lục địa lại thêm khó khăn vì vật giá gia tăng. Chính quyền Trung cộng vô phương đối phó với 2 vấn đề trầm trọng do chính cơ chế của họ tạo ra là lạm phát và tham nhũng. (Tình trạng này cũng xẩy ra đúng y như vậy tại Việt Nam hiện nay). Từ đó, trong dân chúng và ngay cả trong thành phần cán bộ cao cấp, phát sinh niềm khao khát chính sách đổi mới về chính trị đang được Gorbatchev chủ xướng ở Liên Xô.
Tất cả những luồng sóng ngầm đó bùng nổ nhân cái chết của cựu chủ tịch Hồ Diệu Bang. Họ Hồ có chủ trương cấp tiến, muốn đẩy mạnh chính sách cải cách. Sau vụ chống đối của sinh viên năm 1986, ông bị mang ra làm con dê tế thần, bị gán trách nhiệm về những bất ổn đó, và bị buộc phải từ chức. Ngày 15-4-1989, Hồ Diệu Bang từ trần vì một cơn động tim. Phong trào sinh viên ngay lập tức tổ chức những buổi lễ tưởng niệm, và đòi phục hồi danh dự cho họ Hồ. Ngày 16 và 17, con số mới chỉ vài trăm, sang ngày 18, có trên 10 ngàn người tụ tập trước Đại Sảnh Nhân Dân ở quảng trường Thiên An Môn. Cũng thời gian này, nhiều ngàn người tụ tập trước Trung Nam Hải đòi đối thoại với lãnh đạo Trung cộng. Có tin nói rằng công an dùng vũ lực giải tán đoàn biểu tình khiến lòng người thêm căm phẫn. Đêm 21, hơn 100 ngàn sinh viên tuần hành trên quảng trường Thiên An Môn. Những ngày sau đó, phong trào chống đối lan ra những tỉnh lân cận, và mở rộng dưới hình thức bãi khoá tại những trường đại học ở Bắc Kinh. Cuối tháng 4, có những cuộc tuần hành trên đường phố Bắc Kinh với trên 50 ngàn người. Sinh viên học sinh tại hầu hết những trường trung và đại học ở Bắc Kinh đều hưởng ứng cuộc tranh đấu. Họ bất tín nhiệm ban đại diện của chính quyền, thành lập ban đại diện của mình, đẩy làn sóng đấu tranh lan sang nhiều thành phố lớn khác như Thượng Hải, Hồng Kông....
Đầu tháng 5, phong trào đã kéo dài hơn 2 tuần, con số người tuần hành ở Bắc Kinh lên hơn 100 ngàn. Sinh viên nhiều trường lân cận Bắc Kinh đều đổ về hỗ trợ. Giữa tháng 5, nhân cuộc viếng thăm Trung Hoa của Gorbachev, lực lượng tranh đấu thực hiện tuyệt thực dài hạn với sự tham gia của hàng ngàn người. Cuối tháng 5, tượng nữ thần Dân Chủ được dựng lên giữa Thiên An Môn, hình ảnh này được chiếu đi khắp thế giới.
Từ đầu đến giờ, lãnh đạo Trung Cộng tỏ ra bối rối, không biết phải đối phó như thế nào. Trong nội bộ thành phần lãnh đạo cũng không thống nhất với nhau. Một vài nhân vật chủ trương giải quyết mềm dẻo, trong khi đó, thành phần "thái thượng hoàng" là những người lãnh đạo không còn chức vụ nhưng vẫn còn nhiều ảnh hưởng, lại muốn giải quyết mạnh tay. Cuối tháng 5, chính quyền ban hành thiết quân luật, điều động những đơn vị của Lộ quân 27 từ xa kéo về Bắc Kinh. Lực lượng đấu tranh đốt xe bus, lập rào cản trên đường phố. 10 giờ đêm ngày 3-6, quân đội dùng chiến xa, lựu đạn cay, nổ súng càn quét quảng trường Thiên An Môn. Cuộc tàn sát kéo dài nhiều tiếng đồng hồ, và rạng sáng ngày 4-6, tất cả chỉ còn là những vũng máu cùng với những xác người. Một cuộc đấu tranh hào hùng vừa bị dẹp tan. Cả thế giới bầy tỏ lòng thương cảm với những nạn nhân tại Thiên An Môn, hàng năm đều có những buổi lễ để tưởng niệm những người nằm xuống.
Từ trường hợp Thiên An Môn, người dân sống dưới chế độ độc tài có thể rút ra được nhiều bài học hữu ích. Một trong những kinh nghiệm chính yếu, là phong trào tranh đấu này do thành phần thanh niên sinh viên phát động, vẫn chưa được hậu thuẫn rộng rãi của những thành phần quần chúng khác, vì thế đã bị dẹp tan. Tuy nhiên, không thể từ thất bại này mà cho rằng hình thức đấu tranh quần chúng không hữu hiệu, để rồi từ bỏ con đường chính nghĩa, đẩy nhau vào một cuộc phiêu lưu đầy bất trắc.
Người ta từng nghe thấy ý kiến bôi nhọ những nhà đấu tranh dân chủ can trường trong quốc nội, cho rằng họ chỉ là "cò mồi, tay sai cho chế độ". Hoặc nhìn cuộc diện là một bàn cờ quốc tế, trong đó dân tộc Việt Nam chỉ giữ thân phận "nhược tiểu", đóng vai trò "chậu kiểng, bình hoa". Có người xuyên tạc việc đấu tranh này là "hoà hợp hoà giải, bắt tay với chế độ". Kẻ khác đặt nghi vấn về những người đang xung phong về chiến đấu với cộng sản ngay trên mảnh đất quê hương, cho là chỉ để "giàn cảnh, lấy tiếng". Tất cả đều là những luận điệu phản chiến, nhằm mục đích làm mọi người thờ ơ với công cuộc đấu tranh chung. Đây là những luận điệu vô cùng nguy hiểm, vì ngày nào công cuộc đấu tranh còn đặt trên căn bản quần chúng, ngày đó chúng ta còn có sức mạnh, còn có chính nghĩa. Khi xa rời quần chúng, trao phó nhiệm vụ cứu nước cho một đội quân vô hình, bằng con đường bạo lực, chính nghĩa sẽ mất, sức mạnh cũng không còn. Chưa nói đến tính chất hoang tưởng của nó, người đưa ra những ý nghĩ này còn phơi bầy bộ mặt "nguỵ quân tử" của mình, tương tự như kẻ kêu gọi người khác tự thiêu để họ có dịp hiến dâng cho đại cuộc một que diêm....
Đúng là những chế độ độc tài dù tả hay hữu cũng đều sẵn sàng nhúng máu người dân. Sau Thiên An Môn, vừa qua người ta lại thấy vụ đàn áp ở Tây Tạng, hay ở Miến Điện... Nhưng cái chết của những người nằm xuống không bao giờ là vô ích. Phong trào nổi dậy của người Hung Gia Lợi bị hồng quân Liên Xô đè bẹp vào năm 1956, nhưng chính việc tái thẩm định về biến cố này vào năm 1989 đã đẩy thành phần bảo thủ ở Hung vào thế cô lập, từ đó phong trào dân chủ Hung chấm dứt được thể chế cộng sản vào cuối năm này. Tại Tiệp Khắc, tin tức nói về việc công an đánh chết một sinh viên trong cuộc biểu tình đêm 17-11-1989 đã làm toàn quốc phẫn nộ, dấy lên một luồng sóng đình công, bãi khoá... buộc tổng bí thư đảng cộng sản Tiệp phải từ chức chỉ một tuần sau đó, và đến cuối năm, đưa người tù của cộng sản Vaclav Havel trở thành tổng thống trong một thể chế cộng hoà. Người dân Đông Đức đã từng nổi dậy và bị đàn áp dã man trong vụ 17-6-1953 giết hại hơn 100 người. Hơn 30 năm sau, chế độ CS Đông Đức vẫn còn tổ chức diễn hành mừng quốc khánh vào ngày 7-10-1989, với xe tăng tầu bò và binh lính hùng hậu. Nhưng chỉ 1 tháng sau, sức mạnh quần chúng đã đẩy xập bức tường Bá Linh, đưa đến việc chấm dứt chế độ cộng sản tại đây...
Nói chung, đấu tranh quần chúng là hình thức thích hợp để chống lại sự bạo tàn của các chế độ độc tài. Nó không ầm ĩ, coi nhẹ nhàng nhưng khiến cho địch thủ bị nội thương trầm trọng. Với hình thức này bất cứ ai cũng có thể góp phần. Tuy nhiên, chúng ta cần phải kiên trì, không để những dư luận quá khích tác động. Trong hoàn cảnh hiện nay, việc kêu gọi những hình thức bạo lực, ồn ào, đầy kịch tính chỉ là vỏ ngoài của âm mưu triệt hạ nỗ lực đấu tranh chung. Bởi vì, có điều gì vô nghĩa hơn là khi những lời kêu gọi đầy "sắt máu" như vậy lại phát xuất từ những người chỉ biết vui hưởng nắng ấm Cali!.

 

 

Có phải là đĩa bay?

Trần Khải

Câu chuyện có vẻ rất là cổ điển: người ta đồn nhau về người hành tinh tới thăm địa cầu từ nhiều thế kỷ rồi, nhưng không ai có chứng cớ cụ thể nào hết. Thế rồi chỉ mới tuần qua, "một vật lạ bay không xác định" đã tới thăm Việt Nam, và sau đó biểu diễn màn bể tan tành thành nhiều mảnh vụn vào sáng Thứ Ba 27-5-2008.. Có phải người hành tinh tới biểu diễn, hay là một kiểu "phi cơ không người lái" đã nhào tới biển Phú Quốc "đánh võng" hay chỉ đơn giản là đàn anh Trung Quốc biểu diễn màn bắn rớt vệ tinh trên bầu trời Phú Quốc trứơc khi ông Nông Đức Mạnh tới thăm Bắc Kinh?
Câu chuyện có nhiều vẻ rất ly kỳ, và khó có thể xác định giả thuyết nào là đúng. Tuy nhiên, các diễn biến vây quanh thời điểm "rớt đĩa bay" này rất là khả nghi, cực kỳ khả nghi.
Câu chuyện được đaì VOA mô tả với ngôn ngữ ngờ vực rằng có thể "vật lạ" đó là một phi cơ quân sự rớt, nhưng quốc gia liên hệ đã im lặng. Bản tin VOA loan ngày 29-5-2008 kể, trích:
"Cư dân trên đảo Phú Quốc sát với vùng duyên hải Kampuchea nghe thấy một tiếng nổ lớn, rồi nhìn thấy nhiều mảnh kim khí, có mảnh dài tới hơn một mét, rớt từ trên trời xuống sáng thứ Ba vừa qua.
Thông Tấn Xã Reuters cho hay lực lượng vũ trang và tình nguyện viên đã được triệu tập để đi cấp cứu người sống sót, vì tin rằng một tai nạn phi cơ có thể đã xảy ra.
Tuy nhiên, cả Reuters lẫn thông tấn xã Pháp AFP cùng cho rằng đây là một chuyện bí mật, đang làm ngạc nhiên nhiều người. Giới hữu trách đã tiếp xúc với các hãng hàng không của Việt Nam, Kampuchea và Thái Lan, và tất cả đều nói rằng họ không mất một phi cơ nào.
Tin của Thông Tấn Xã Việt Nam nói rằng Đại Tá Nguyễn Văn Quí, Chỉ Huy Trưởng Ban Chỉ Huy Quân Sự Huyện Phú Quốc, Kiên Giang, mô tả vật bị nổ này là 'một vật thể bay không thể xác định'.
Giữa lúc người ta chưa rõ chuyện gì xảy ra, Phó Tư Lệnh Không Lực Kampuchea Kung Mony lại tuyên bố rằng theo ông biết, một phi cơ của nước ngoài đã rớt xuống tỉnh Kampot của Kampuchea, nhưng sau đó ông đã rút lại lời tuyên bố vừa kể. Dân làng Kampot cho hay họ cũng nghe thấy một tiếng nổ lớn và tìm thấy những mảnh kim khí vụn gần vùng duyên hải.
Một giả thuyết cho rằng rất có thể đây là một phi cơ quân sự đang thực hiện một phi vụ bí mật thì bị phát nổ, nhưng nước sở hữu chiếc phi cơ này chưa lên tiếng nhìn nhận.
Giả thuyết này có vẻ được Thông Tấn Xã Việt Nam xác nhận phần nào khi bản tin của Thông Tấn Xã này viết rằng vụ nổ xảy ra ở độ cao khoảng 8,000 mét và nhiều khả năng đây là một vụ nổ máy bay, nhưng chưa thể xác định là máy bay dân dụng hay quân sự." (hết trích)
Vài hôm sau, bản tin báo Thanh Niên kể, trích:
"Chiều 30.5, trao đổi với Thanh Niên, ông Lâm Quang Chánh - người phát ngôn của UBND tỉnh Kiên Giang cho biết, UBND tỉnh đã gửi báo cáo chính thức lên Văn phòng Chính phủ về vụ có nhiều mảnh kim loại vụn rơi xuống khu vực phía bắc đảo Phú Quốc.
Theo đó, UBND tỉnh khẳng định có việc các mảnh vỡ kim loại rơi xuống khu vực xã Gành Dầu và xã Cửa Cạn vào khoảng 10 giờ 20 phút ngày 27.5. Lúc xảy ra vụ nổ, lực lượng dân quân tự vệ đang diễn tập gần khu vực có các mảnh vỡ rơi xuống và lực lượng này đã cùng với người dân nhặt các mảnh vỡ giao cho ngành chức năng.
Liên tiếp mấy ngày qua, lực lượng chức năng và người dân địa phương H.Phú Quốc đã chia nhau tìm kiếm các mảnh vỡ của vụ nổ. Theo nguồn tin từ BCH Quân sự H.Phú Quốc, đến chiều 29.5, ông Lâm Quốc Trung, một người làm nghề lặn mò ốc biển ở ấp Gành Vẹm, xã Ghềnh Dầu trong lúc lặn dưới đáy biển đã tìm được thêm 2 mảnh vỡ, dài từ 0,3m đến 0,7m đem nộp cho ngành chức năng. Ngoài ra, tại khu vực xã Bãi Thơm, người dân cũng đã tìm gặp 1 mảnh vỡ kim loại và đang làm thủ tục giao nộp. Như vậy, tính đến chiều qua, đã có 14 mảnh vỡ kim loại rơi xuống từ vụ nổ được tìm thấy tại khu vực đảo Phú Quốc. Trong số này, có 1 mảnh in chìm số 27 và 1 mảnh có số rất mờ in nổi trên kim loại. Phần lớn các mảnh này đều bị ám khói, có mảnh còn nguyên ốc vít nối kết. Các chi tiết được chế tạo bằng một kết cấu kỹ thuật cao.
Trong khi đó, tại Phú Quốc xuất hiện tin đồn "có người nhặt được đô la rơi từ vật thể bay" hoặc "lượm được kim loại rất lạnh". Trao đổi qua điện thoại với phóng viên Thanh Niên, thượng tá Nguyễn Thanh Bảnh - Phó giám đốc Công an tỉnh Kiên Giang cho biết tình hình an ninh trật tự tại Phú Quốc vẫn không có biểu hiện gì phức tạp..." (hết trích)
Thử liên kết ngày tháng, sẽ thấy: "Đĩa bay" này rớt ngày Thứ Ba 27-5-2008. Tới hôm Thứ Năm 29-5-2008 thì đăng trên các bản tin quốc tế.
Tới hôm Thứ Sáu 30-5-2008 là lễ khai mạc Hội Nghị "2008 Shangri-La Dialogue" tại Singapore; đây là hôị nghị cấp cao về quốc phòng và an ninh khu vực giữa các quốc gia vùng Châu Á Thái Bình Dương với 27 phái đoàn tham dự.
Trong hội nghị này, hôm Thứ Bảy 31-5-2008, Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates đưa ra lời cảnh cáo nhẹ nhàng tới Trung Quốc là vùng Châu Á có thể thiệt hại kinh tế nếu TQ hà hiếp các nước láng giềng để tranh tài nguyên thiên nhiên ở vùng Biển Đông. Gates nói thế, trong khi lập lại rằng Mỹ vẫn cam kết vì hòa bình khu vực Biển Đông.
Cũng ở hôị nghị Singapore này, cũng hôm Thứ Bảy, Gates nhắc tới chuyện TQ lặng lẽ bắn rớt 1 vệ tinh hồi tháng 1-2007, trong khi ông nóí là Mỹ mới tháng 2-2008 này đã xử thế tế nhị hơn, đã thông báo các nứơc khác biết trứơc khi bắn rớt 1 vệ tinh đã hỏng trên Thái Bình Dương.
Thế là Tướng Ma Xiaotian, Phó Tham Mưu Trưởng Quân Đội CSTQ, đọc diễn văn trả đũa, nói TQ không chạy đua vũ trang, và chi phí quốc phòng vẫn là hạn chế.
Cũng cần nêu một thắc mắc rằng, vệ tinh Vinasat-1 của Việt Nam đã bay ở bầu trời, đã nối mạng quan sát Hoàng Sa và Trường Sa qua vệ tinh từ ngày 25-5-2008, theo lời Thứ Trưởng Truyền Thông CSTQ Trần Đức Lai. Nếu thế, thì tại sao vệ tinh này không thấy được chuyện ba ngày sau, hay sao không chụp hình được vào lúc một "đĩa bay" nổ ở bầu trời Phú Quốc?
Cần thắc mắc nữa, nổ "đĩa bay" cũng xảy ra hai ngày trước khi Nông Đức Mạnh tới Bắc Kinh, để chuyến đi kết thúc vào ngày 2-6-2008 với bản tuyên bố rằng Biển Đông sẽ giảỉ quyết ôn hòa giữa TQ và VN. Có gì liên hệ tới "đĩa bay" rớt ở Phú Quốc không? Hay có phải hồn ma Ông Hồ lái "đĩa bay" chở hồn ma cụ bà Tăng Tuyết Minh ra Phú Quốc tắm biển, mà lại đổ nhằm xăng dỏm nên nổ nửa chừng?
Nói tới Biển Đông, có lẽ không ai có thể biết hết các sự thật. Nhưng các diễn biến này tất nhiên là không lành tí nào.

 

 

 

Tiền Nhân, Thuyền Nhân và Phi Nhân

Chu Tất Tiến

Những năm 75-78 mà nói đến chuyện H.O. thì như chuyện Công Chúa ngủ trong rừng, bất ngờ có Hoàng Tử đến hôn một phát, tỉnh dậy, thơ thới hân hoan.
Anh em trong tù, cứ nghĩ rằng đời mình rồi tàn như những người bị nhốt ở Lý Bá Sơ, nên an tâm ở tù. Nhưng mấy tay Cộng Sản đời nào chịu cho anh em yên thân, nên tung tin hỏa mù, sương khói dăng dăng. Tin thứ nhất: "Nguyên Soái Nguyễn Cao Kỳ đã tập trung vài Sư đoàn ở Long Khánh" làm một số anh em ồn lên, sung sức. Người viết thấy vô lý, và với tính thẳng thắn, phản đối luôn. Trước hết, là Nguyễn Cao Kỳ đã dọt, ai cũng biết. Nếu có trở lại, đâu có dễ về đến Long Khánh sớm thế! Thứ hai, khó mà có vài Sư Đoàn trong lúc ấy. Anh em Sĩ Quan tình nguyện đi tù hết trọi rồi, chỉ còn có Hạ Sĩ Quan và lính, lấy đâu ra chỉ huy mà lập thành Sư Đoàn? Trên hết, là danh xưng. Từ xửa từ xưa, Việt Nam Cộng Hòa không có danh xưng "Nguyên soái"! Sạo ke! Coi chừng mắc bẫy Việt Cộng, lộ mặt là dính chùm cả nút. Một số anh em hiểu biết, tin ngay. Nhưng cái tin thứ hai, dù vô lý hơn, lại có một số anh em tin theo: "Phạm văn Đồng từ chức! Dinh Độc Lập đã treo cờ vàng!" Người viết lại phản bác. Lịch sử đảng Cộng Sản, từ Lê Nin đến Staline, rồi Mao Trạch Đông, chưa hề có vụ Thủ Tướng từ chức! Chỉ có thủ tiêu mà thôi. Tên nào bị loại, là đầu rơi, máu chẩy, làm gì có chuyện từ chức! Hơn nữa, cờ vàng sao lại treo dễ thế! Đánh nhau đổ máu, chưa thấy đâu, tự dưng Việt Cộng lại đầu hàng? Thế là bản "tin miệng" này tịt ngòi. Rồi đến tin thứ ba, do mấy bà thăm nuôi đưa lên: Mỹ đã thỏa thuận trao đổi mỗi đầu người cải tạo một chiếc máy cầy y như hồi Cuba. Hiện nay máy cầy đang trên đường tới cảng Sàigòn! Gần một triệu chiếc! Người viết lại phản đối. Mẹ kiếp! Có hơn 300 triệu viện trợ vào phút chót mà Mỹ không chịu tháo khoán, khiến anh em phải buông súng. Mỹ lại đi đêm với Trung Cộng, đổi Việt Nam lấy thị trường Trung Cộng cả hàng tỷ người, còn tha thiết gì với mấy trăm ngàn Sĩ Quan thất thế? Từ khi Nixon sang Trung Cộng được mời ăn mấy trăm món Tầu cả ba ngày ba đêm, rồi đến Ford, họ đều muốn nhắm mắt, bịt tai trước lời kêu cứu mong Mỹ tháo khoán đạn dược, thì làm gì có chuyện mang máy cày sang đổi mạng người như hồi Cuba? Hồi đó việc tấn công Cuba là hoàn toàn do Mỹ đạo diễn, lực lượng tấn công phát xuất từ Mỹ luôn, nên để gỡ thể diện, Mỹ phải trao đổi, còn mình, đâu phải là lính Mỹ, mà Mỹ phải vội vã chuộc mạng? Mấy điều trần tình ngược đời này, làm một số anh em nhiều dũng khí bị chạm tự ái, nổi giận, trong khi tin hỏa mù thì càng bùng lên. Tình hình căng thẳng hơn, khi bàn giao tù từ quân đội sang công an, mấy tay công an coi tù cứ lờ đi mọi chuyện xung đột, thậm chí đánh nhau, mặc dù có báo cáo, nên anh em càng sôi nổi: "Thấy chưa? Đến rồi! Tới rồi! Sắp có máy cầy tới rồi!"Người viết thấy nguy quá, vội cản: "Coi chừng! Công an là chuyên viên mưu mẹo, chúng nó mới tiếp quản từ bộ đội, không biết tên nào ăng ten, người nào phản kháng, nên chúng nó để mấy người chống đối nổi lên, như bèo nổi trên nước, rồi lấy vợt, vớt một phát là xong! Anh em nên cẩn thận! Đừng mắc mưu Cộng Sản!" Giọt nước làm tràn ly, vài anh em nóng nẩy đè nguời viết ra, đục cho một trận phù mỏ. Mũi miệng sưng vều. Hết phân tích, lý luận! Hết cả kể chuyện "chưởng" cho anh em nghe (Hai bộ Cô Gái Đồ Long và Lộc Đỉnh Ký được kể từ Cà Tum đến Suối Máu.) Nhưng sự thật rồi xẩy ra y trang. Ngay sau đó vài ngày, bọn công an bất thần làm một cuộc đàn áp tung người, ào ào vào từng trại, bắn súng đùng đoàng, lôi đi một số người chống đối, tống vào con-nếch. Võ Sư Trương H. bị chúng khảo tra, dùng báng súng nện vào bàn tay cho dập. Võ Sĩ H., Thiết giáp, bị nhốt vào con-nếch rồi biệt tích luôn. Chấm dứt tin đồn, và cũng chấm dứt hy vọng. Thôi thì chỉ còn chờ thời gian, năm hay mười năm, được tha rồi tính đường vượt biên sau.
Suy nghĩ mãi về chuyện vượt biên, nên khi vừa được thả chừng một tháng, người viết tìm cách dọt liền, mặc dù bà xã đã mua được hai cái máy đầu bạc, bán đi một cái mua vỏ thuyền, nhờ ông em làm thuyền trưởng, chuẩn bị xin phép ra khơi. Không muốn chờ, chắc còn lâu mới có giấy tờ, rồi lại phải dò dẫm đường đi nuớc bước, nên người viết phóng ra Bà Rịa, kiếm ông chú họ, có tầu sẵn, nếu đi được thì đi liền. Ngày đi, chỉ có một cái áo sơ mi nâu, một cuốn sách "Mác Xít - Lê Nin nít" cầm tay làm cái bùa. Còn một cây vàng, chẻ nhỏ, khâu vào quần đùi. Ai dè lá bùa này hiệu nghiệm vô cùng. Vừa đến cầu Cỏ May, bất ngờ bị lục soát. Một lũ công an ào lên, la lối: "Xuống hết! Xét!" Nguy to! Giấy tờ đi đường không có, nhất định là bị tóm, đời tàn trong sương khói. Mọi người lục tục đi xuống hết, còn người viết vẫn ngồi ghế sau cùng. Khi tên công an tiến đến, hất hàm: "Anh này, xuống!" Người viết chẳng biết làm sao, tửng tửng lật ngửa cuốn sách trên tay, không nói một tiếng nào, chỉ cho tên công an cái tờ bìa có chữ "Mác Xít - Lê nin nít"! Tên này liếc vào trang bìa, giật mình một cái.. cúi chào rồi lùi xuống! Trên xe chỉ có một mình người viết ngồi lại, chân tay run rẩy! Chừng nửa tiếng sau, đoàn người lục tục lên xe, còn dư vài chỗ trống vì có một số phải ở lại Cầu Cỏ May! Ba tên công an thứ thiệt, ngồi ngay trước người viết, vừa lên xe vừa chửi ầm ĩ: "Đ.M. nó! Đã bảo là công an, mà nó cứ bắt trình giấy. Đ.M. Có ngày tao cho biết tay!" Nhưng cả lũ thấy người viết ngồi nghiêm nghị nhìn chúng, thì lập tức câm, liếc nhau, rồi im lặng! Chắc ông này là "cối" lớn! Ai biết đâu là tên cải tạo mới về, đang run như giẽ! Chuyến đi đó không thành công. Oâng chú bị bắt mất tầu rồi! Nên đành về, chờ vậy.
Lần thứ hai, nộp vàng cho một người quen, vì chiếc ghe của gia đình vẫn chưa xong giấy tờ. Hai vợ chồng, hai đứa con trai, và bà nội các cháu đi theo, cầm đồ. Đến Vũng tầu, vào địa điểm hẹn, thì chưa sẵn sàng, chới với, không biết ra sao, bà nội các cháu kéo vào nhà ông cậu, em của bà nội, ở đỡ. Vừa thấy một lũ kéo nhau vào, ông cậu cau mặt, lầm bầm chửi thề, nhưng cũng phải cho tá túc một đêm. Cả đêm không ngủ được vì mấy đứa em họ, ngày xưa quý hóa ông anh lắm, nay vì sợ hãi liên lụy, nên chửi thẳng vào mặt, không nể nang: "Đ.M. Tự dưng dẫn xác đến! Đ. M. chết đến nơi rồi!" Nghiến răng chờ sáng, đến chỗ hẹn. May sao vào được nhà, nhưng ở phía bếp. Chủ nhà dặn thật kín tiếng, không được ho, không được nói. Ỉa đái thì phải chờ đêm. Vậy mà cũng hết hồn hết vía. Bên cạnh nhà có một thằng nhóc khoảng 12 tuổi, thông minh ghê gớm. Nó qua hỏi thằng nhóc trong nhà: "Ê! Nhà mày hôm nay có người sao mà tao thấy chẻ củi nhiều qúa!" Chết bỏ bu rồi! May mà tên nhóc trong nhà cũng thông minh không kém: "Có gì đâu! Nghe nói mai mưa, hôm nay chẻ trước cho khô." Tên kia lại nói: "Sao tao thấy trong phòng mày nghe sột soạt?" Nhóc này trả lời liền: "Đ.M. Có con chuột to, tự dưng chạy từ nhà mày qua nhà tao. Tao đang tìm cách bắt mà chưa được!" Tên nhóc cháu ngoan bác Hồ già kia liền bắc ngay một cái ghế, ngồi chặn trước cửa. Trong nhà run lập cập. Thế là tiêu đời! Cũng may mà tên nhóc trong nhà thông minh hơn, hy sinh mấy đồng, rủ cháu ngoan Bác đi ăn đồ ngoài chợ. Nghe nói đến ăn chùa, tên nhóc khăn quàng đỏ kia đi liền, quên vụ canh gác. Còn trong nhà, nín thở chờ hai, ba ngày, vẫn chưa ra khơi được, liền rủ nhau về. Trời còn lờ mờ sáng, đã phải ra trạm xe đò, ngồi chờ. Nhưng ôi thôi, khi mặt trời lên, từng đoàn người kéo nhau vào chật phòng vé, mà toàn cán bộ với bộ đội nón cối. Chúng xếp hàng dài từng lũ. Nguy rồi, làm sao về nhà đây? Bà nội các cháu, nói: "Để Me, con đừng lo!" Rồi bà cụ xăm xăm đi lên, vượt qua lũ bộ đội. Một tên nổi sùng, thò tay ra, nắm áo bà cụ lại: "Ê! Bà già! Đứng ra sau!" Bà cụ giật tay nó ra, chỉ vào mặt: "Mày câm cái mồm! Dám nói với mẹ mày như vậy hả! Tao tát cho một cái bây giờ!" Tên kia chưng hửng. Chắc là Mẹ chiến Sĩ rồi! Thôi nhịn! Bà cụ đi tiếp, vẹt mọi người ra. Đến đúng chỗ quầy vé, một tên bộ đội nón cối lại gạt cụ xuống: "Bà này! Đi xuống cuối hàng!" Bà cụ chỉ tay vào mặt hắn, quát lớn: "Mày biết thân mày đi! Lui ra! Cho mẹ mày mua vé!" Tên kia hoảng quá! Thôi đụng thứ dữ rồi! Mẹ cán bộ Bắc Kỳ rồi! Hắn lui ra ngay; bà cụ tỉnh bơ, nói với tên bán vé: "Cho tao năm cái vé về thành phố!" Năm cái vé được đưa ra cấp kỳ. Thế là cả nhà vượt biên về Sàigòn an toàn! (Bà cụ còn nhiều giai thoại chửi Cộng Sản te tua. Sau khi ba thằng con đi cải tạo hết, cụ lên Bảo Lộc, mua mấy mẫu đất, trồng cà phê. Một hôm, ba tên công an bước vào nhà. "Này! Nghe nói bà già là mẹ lính ngụy phải không?" Bà cụ trợn mắt: "Ai bảo mày thế? Nhà này không có ai là lính ngụy cả!" Ba tên công an ngẩn người: "Tôi nghe báo cáo nói bà cụ có ba thằng con đi lính ngụy mà!" Bà cụ quát liền: "Tao không có đẻ ra lính ngụy! Mày biết chưa! Tao đẻ ra ba thằng toàn là Sĩ Quan Cộng Hòa hết!" Rồi bà gào lên: "Chồng tao thì bị đấu tố chết! Thằng con lớn tao mới chết trong tù! Tụi mày còn muốn gì nữa? Muốn đưa tao vào tù luôn hả? Tao cũng muốn vào tù để chết chung với mấy đứa con tao? Mày đưa tao đi luôn đi!" Ba tên công an hãi quá! Gặp bà già giết giặc rồi! Chúng vội chuồn ngay, không bao giờ trở lại.)
Lần vuợt biên thứ hai và thứ ba cũng không thành công. Mất tiền và lo sợ. Đi hết nhà ém này đến nhà ém khác. Toàn di chuyển ban đêm bằng xe đạp. Ban tổ chức
chở từng người bằng xe đạp qua các con đường âm u, sương mù mịt, chẳng nhìn thấy chi. Vợ chồng con cái chia tay nhau hết, nên sợ bị bắt thì ít, mà sợ lạc nhau thì nhiều. Nhưng khi gặp nhau thì phải nằm bẹp như cá hộp. Cả chục nguời đàn ông, đàn bà, con gái, thanh niên ép dí trong phòng kho, đi tiểu, đi cầu vào bô, có người nhà đem đổ, nên hoạt cảnh thiệt buồn cười. Chả có ai mắc cỡ, cứ tụt quần ra, ngồi bô ngay cạnh đầu người, dù là con gái, đàn ông..., vì nhịn không nổi. Mấy cô lúc đầu thì đỏ mặt, sau thì quen dần với tiếng tồ tồ, với mùi thối và khai. Được vài ngày lại chạy chỗ khác. Có hôm đang nằm ém, nghe báo động, "Công an tuần tra!" là cả bọn tung tóe chạy ra ngoài đồng, nằm rạp xuống đất, sau mấy cái bờ ruộng, không dám thở. Có lần, đang nằm bẹp xuống đất ruộng, núp mấy cái đèn pin công an đang rọi chiếu lung tung, thì một bà giáo nằm bên cạnh, cứ ngỏng cái đầu lên xem Công An đi đến đâu! Người viết phải dúi đầu bà xuống, nhưng bà này man man, cưỡng lại: "Để xem chúng làm cái gì!" Người viết nổi sùng, xáng cho một bạt tai, dúi đầu xuống. "Xem cái con khỉ! Ở giữa ruộng, mà ngỏng đầu lên như rắn lục thế, thì đứng xa cả cây số cũng thấy!" Bà này im re, nhưng sau khi bọn công an xa vừa bỏ đi, thì chạy vào nhà, ra phía sau hè, cởi quần áo ra múc nước xối lên người um sùm! Mọi người muốn điên luôn!
Lần đó, đi trên xe đò về thành phố, quần áo ướt đầy bùn. Mấy tên lơ xe cười hì hì:
"Dọt không thoát phải không?" Không thèm trả lời, cứ im như thóc.
Lần vượt biên thứ tư cũng xui, ra "tắc xi" đến biển rồi, thì thấy tầu công ăn dăng đầy, đèn chớp lia chia. "Cá lớn" đã bị phát giác! Cả lũ thuyền con phải chạy tạt vào một đảo hoang, đúng vào ngày bão. Đứng trên đảo, núp dưới mấy cây lớn, chịu trận với cơn bão giật đùng đùng suốt một ngày, không ăn uống gì. Ngày hôm sau, có mấy ghe của dân chài, biết là có đám vượt biên hụt, nên kéo tới, làm tiền. Cứ một mạng đổi lấy một "chỉ" vàng, đưa về tới Bà Rịa. Đành chịu, nếu không thì công an kéo đến..
Lần chót, thì do chính ông em chủ động. Đã chạy biển được một thời gian, mua bãi bến đủ cả, thế là cả nhà lên đường. Ngày đi, hẹn nhau ở Sở Thú. Hai vợ chồng, hai đứa con ngồi trên ghế đá bên trái của cổng. Hai ông "bộ đội" tiến đến, nói mật khẩu, rồi một ông lãnh vợ và hai con, một ông lãnh tên chồng. Lên xe đến Phước Hải, hai vợ chồng một nơi, hai đứa con một chỗ. Sợ quá chừng! Lỡ ra mất con thì làm sao sống nổi! Hai ngày chờ đợi như ở trong địa ngục. Đến tối ngày thứ hai, bỗng nhiên có một cô gái dẫn thằng anh đến, mếu máo: "Bố ơi! Em nó sốt! Nó khóc quá chừng!" Thế là bắt buộc cô kia phải dẫn bố đi kiếm con, và bằng mọi giá, phải đưa cả hai thằng vào một chỗ. Cháu nhỏ khóc lặng người, vừa nhớ bố mẹ, vừa sợ, vừa đau. Oâm con vào lòng, mà mừng quá đỗi, cả hai bố con đều khóc. Đến ngày thứ ba, mới có tin tối nay chuẩn bị đi. 12 giờ lên đường. Bãi đáp được mua từ 12 giờ đến 2 giờ sáng.
Bất ngờ, đang chuẩn bị náo nức, tay bộ đội liên lạc với công an bãi đáp, chạy đến nhà ém, hớt hải: "Bỏ mẹ rồi, có thằng đổ bãi bậy, đánh nhau với công an. Chúng nó bắn chết ba tên công an của mình rồi! Bây giờ, công an tỉnh đang bao vây, khóa đầu chặn đuôi, phải dọt lẹ!" Mọi người kinh hoảng, tản hàng. Từ nhà ém ra đến đường cái, chó sủa kinh hồn. Đi một quãng lại ngừng cho bớt tiếng sủa mới đi tiếp. Đến đường cái, cũng phải vừa đi vừa núp, chờ xe đò về Sàigon. Một lúc sau, tay bộ đội đi xe "cúp" chầm chậm ngang qua từng nhóm người núp, dặn nho nhỏ: "Đừng lên xe thứ nhất! Đừng lên xe thứ nhất!" Vì câu dặn này, mà người viết thoát nạn. Chừng khoảng 2 giờ sáng, chiếc xe đò thứ nhất từ phía Bà Rịa đi ngang. Một số người không nhịn nổi, leo lên. Người viết vẫn kiên nhẫn chờ, không cử động cho bớt tiếng chó sủa. Đến chiếc thứ hai, mới chạy ra vẫy lại, và khi lên xe, thì tìm chỗ ngoài cùng, ngay cửa sau. Quả nhiên, khi xe đến gần Long Thành, nhìn thấy phía trước thấy lửa cháy từ một cái vỏ xe do công an đốt giữa đường để chặn xe. Đám người đi xe thứ nhất bị dính chấu toàn bộ. Công an chạy lăng xăng canh chừng. Chiếc xe thứ hai trờ tới, bọn công an chưa kịp phóng đến thì người viết nhẩy ngay xuống, cùng với một cô gái khoảng 20 tuổi. Cả hai lao vào rừng. Vừa chạy được mấy thước, một tên công an từ trong rừng chạy ra: "Chị kia! Chạy đâu?" Người viết chạy sau, hắn không thấy, nên kịp núp vào một thân cây. Người con gái hổn hển nói: "Tôi mắc đi cầu!" Tay công an quát: "Kiếm cớ dọt hả?" Người con gái gắt lên: "Tôi mắc thiệt mà!" Rồi không đợi tay công an nói thêm, cô gái tụt luôn quần ra, ngồi xuống, phô cái mông trắng bóc giữa bóng đêm. Tay công an mắc cở, phải quay lưng đi. Vừa thấy bóng hắn khuất nẻo, cô gái kéo quần lên, chạy tiếp. Hai người phóng sâu vào trong rừng rồi mới quành trở ra đường cái, xa hẳn phía cái bánh xe cháy. Đứng núp bên đường đến khi thấy xe đò thiệt, người viết mới chạy ra chặn lại, leo lên, nhận cái giá đắt gấp ba lần, nhưng thoát về được Sàigòn, còn vợ con bị bắt hết. Chúng tống dân vượt biên hụt vào ngay trại Suối Máu, nơi người viết đã từ đó được thả ra! Giả tỷ mà trở lại, chắc không sống sót với những tên cai ngục đã nhẵn mặt mình!
Về nhà, buồn bã, chơ vơ. Đến khoảng 10 ngày sau, quá buồn, tới nhà chị Đại Tá NVĐ (Anh vẫn còn ở tù), than: "Em buồn quá, chị ạ! Vợ con bị nhốt không biết bao giờ mới được thả ra!" Chị nghĩ một lúc rồi nói: "Chiều nay, em lại đây, chị có chuyện này hay lắm, có thể làm em bớt buồn!" Buổi chiều, đến gặp chị, thì thấy có hai ông đang ngồi đó. Chị giới thiệu một ông là chuyên viên coi Tử Vi, một ông coi Nham Độn. Chị nhờ hai ông xem giùm cho người viết một quẻ. Oâng Tử Vi coi cũng thường thôi, không có chi đặc sắc, nhưng ông Nham Độn mới thật là tiên tri! Sau khi hỏi xong tên tuổi, năm sinh, ông bấm đốt ngón tay: "Hừm! Hừm! Quẻ này khá lắm!..." Rồi, bấm ngón tay nữa. "Hừm! Không sao đâu! Sắp về rồi!" Một lúc sau: "Không phải sắp về, mà về rồi! Về nhà rồi!" Ông lắc vai người viết: "Về nhà đi! Vợ con đang ở nhà đó!" Trời đất! Thiệt không? Thiệt mà! Về ngay đi, kẻo bà ấy mong! Quên luôn cả cám ơn, quên chị NVĐ, quên hết mọi sự, vội vàng chụp cái xe đạp, phóng ào như gió về đến nhà, thấy vợ con đang ngồi chờ đợi! Thiệt không tả nổi nỗi vui, nỗi khâm phục người tiên tri Nham Độn!
Và đó cũng là chuyến vượt biên hụt cuối cùng, chấm dứt giấc mơ làm "Thuyền Nhân" vì đúng lúc đó, có chương trình H.O! Nghe tin hôm sau, quận Phú Nhuận sẽ nhận đơn, người viết đi báo với bạn bè. Có ông tin, có ông không tin: "Lỡ ra, chúng rình, nhốt mình lại thì sao?"
Kệ mẹ nó! Nếu chúng muốn nhốt, thì cần gì phải làm đơn đi Mỹ rồi mới nhốt! Chúng nhốt lúc nào chả được! Cứ làm đại! Và, 3 giờ sáng hôm sau, có mặt tại công an quận, tưởng sớm, ai dè có ông bạn đã chăng võng ngủ trước cửa từ 11 giờ đêm hôm trước. Như thế, số vào cửa của người viết là đúng số 50! Và, số 50 lên đường đi Mỹ theo diện H.O 1, ngày 5 tháng 1 năm 1990, chuyến bay thứ 2, khởi hành lúc 10 giờ sáng. Nhưng để chắc ăn, người viết buộc cả nhà phải lên đường lúc 4 giờ, lẳng lặng ra xích lô, đến phi trường cho chắc ăn. Quả nhiên, lúc 8 giờ sáng, hai tên Phường Đội đến gọi thằng con lớn đi Nghĩa vụ Quân Sự! Khi biết rằng cả nhà đã lên đường đi Mỹ, hai tên chửi nhau:" Đ.M. mày! Đã bảo đến từ hôm qua, lại lo nhậu! Nhậu cái con mẹ gì! Bây giờ chúng đi mất rồi!"
Đi mất thật! Dù là ở ngay phi trường Tân Sơn Nhất, người viết trả lời phỏng vấn của David Jackson, phóng viên đài truyền hình số 9 tại Los Angeles, khi anh này đi lanh quanh, hỏi ai biết tiếng Mỹ không. Khi biết người viết có thể trả lời phỏng vấn, anh ta cho máy quay phim, đèn pha chiếu tùm lum, trước mắt công an, nói chuyện linh tinh, cảm tình cảm nghĩ. Rồi cũng lên đường. Hát Ô Một tới Mỹ để bắt đầu cho một giai đoạn "phi nhân" (có mấy anh bạn đùa vui, gọi Hát Ô là Phi Nhân để khác với Thuyền Nhân). Nhóm Phi Nhân này khổ hơn Thuyền Nhân, vì đến nước Mỹ trễ tràng, vào đúng giai đoạn kinh tế xuống, nhà cửa rẻ như bèo. Kiếm việc công không ra, đành làm công cho Thuyền Nhân và nhất là "Tiền Nhân" là những người đi tiền phong từ năm 1975, nay đã thành các luật sư, bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, ông chủ, bà chủ khách sạn, nhà hàng, tiệm bán "fớ ni chơ", "neo", hay "xóp" may. Một số các ông bà chủ Tiền Nhân này (dù không nhiều lắm), cứ coi nhóm Phi Nhân toàn là "nhà quê", ít học, nên sai bảo như vặt lông vịt. Có bà Phi Nhân, cựu giáo sư, phải làm 10 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần, mà lương có 800 một tháng! Có ông Phi Nhân, cựu Bác sĩ, phải đi giao bánh mì từ 3 giờ sáng đến 2 giờ trưa, lương cũng 800 một tháng. Một Phi nhân, cựu sinh viên Quốc Gia Hành Chánh bỗng biến thành Hành khất, làm 10 tiếng một ngày, sáu ngày một tuần, cũng 800 một tháng! Lạ lùng thay con số 800! Một nữ giáo sư chuyên dậy học sinh giỏi, đi làm cho một dược sĩ bạn học cùng trường, bị chủ mắng như tát nước, phải gạt lệ ra đi... Oi! Cuộc đời đã làm Tù Nhân, nay lại thành Phi Nhân, chán ngắt. Nhưng có lẽ nhờ chịu đựng gian khổ đã quen, nên chỉ một thời gian 10 năm sau, Phi Nhân đã lấy lại phong độ và quên đi dĩ vãng đau buồn, Câu chuyện Hát Ô có mở đầu, nhưng rồi cũng như câu hát: "lâu dần đời người cũng qua..", dù cho Tiền Nhân, Thuyền Nhân, hay Phi Nhân sẽ đều đến chung một điểm vĩnh hằng...
Chu tất Tiến.