Tại sao cuộc chiến dân chủ tại Việt nam chưa ngã ngũ?
Trong bài viết này, chúng tôi không có ý định phân tích dài dòng, mà chỉ là chia sẻ những quan điểm ngắn gọn, rõ ràng của chúng tôi, nhằm đóng góp một chút công sức vô cùng nhỏ mọn của chúng tôi cho công cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền của người dân Việt nam tiến bộ.
Trước hết hãy nói về bối cảnh tình hình xã hội hiện tại ở Việt nam:
Hỏi rằng người dân tại Việt nam có thái độ chính trị hay không, câu trả lời là có, nhưng số người công khai bày tỏ thái độ chính trị rõ ràng đối lập với chế độ độc tài cộng sản toàn trị ở Việt nam là không nhiều, số còn lại chiếm đa phần là bị độc tài cộng sản toàn trị ''đoảng và bác'' xỏ mũi dắt đi những con cừu ngốc nghếch, trong số bị xỏ mũi dắt đi như thế có nhiều trí thức, có cả đám đoàn thanh niên cộng sản ngu ngục hcm mù quáng...
Theo chiều dài lịch sử của Việt nam, thì người dân có đủ dũng cảm, dũng khí, rất khí phách anh hùng để đánh đuổi giặc ngoại xâm, thế nhưng hiện nay thì người dân không có đủ dũng cảm lẫn anh hùng để có can đảm đứng lên lật đổ chế độ độc tài toàn trị đã cưỡi lên đầu lên cổ họ suốt hơn 60 năm qua và trắng trợn cướp đi các quyền lợi căn bản của người dân.
Hơn 80% dân số Việt nam có xuất thân từ nông dân, nên mặc dù số đông có thể đã không còn là nông dân nữa, nhưng vẫn mang nặng tư tưởng nông dân. Thêm vào đó là bị ảnh hưởng văn hoá Khổng giáo của Tàu cộng, là thứ văn hoá nhang khói từ ngàn đời nay, nên người dân Việt nam sẽ còn tiếp tục bị u mê trong thứ bùa mê nhang khói này, u mê đến mức độ thậm chí là có rất nhiều người Việt nam mặc dù đã đi theo đạo công giáo (đạo công giáo nguyên bản là không có thắp hương hay nhang khói gì cả) vẫn cứ tiếp tục thắp nhang khói thì quả là một điều lạ lùng! Việt cộng hiện đang cho xây dựng, tu bổ thêm vô số các chùa chiền trên khắp cả nước để tiếp tục u mê dân chúng Việt nam, thậm chí còn đưa cả cái gọi là ''cha già dân tộc'' vào ngồi chễm trệ trong các chùa chiền, sánh vai cùng với các tượng Phật để ép buộc dân chúng phải thờ phượng! Quả là mưu mô thuộc loại ''đỉnh cao trí tuệ'' của cộng sản và cũng chỉ có cộng sản mới nghĩ ra được.
Một thực tế không thể phủ nhận đó là đa phần những người tham gia tranh đấu dân chủ hiện đang phải chấp nhận sự ''cô đơn" trong một trào lưu xô bồ chạy theo đồng tiền của xã hội. Ngoài ra khả năng tài chính của những người tham dân chủ phần lớn là rất eo hẹp, sự yểm trợ từ bên ngoài là có và đã giúp đỡ rất hiệu quả cho dân chủ quốc nội, nhưng chưa đủ và không thường xuyên, mà là lúc có lúc không, không có kế hoạch dài hạn, cho nên người dân chủ quốc nội sẽ như những cánh bèo trôi dạt trên sóng, khi mà mọi khả năng kinh tế của họ bị độc tài cộng sản toàn trị gây khó dễ đủ đường, thậm chí là cắt đứt nguồn kiếm sống sinh nhai của họ. Phe dân chủ quốc nội với một khả năng tài năng tài chính èo uột như vậy thì thử hỏi rằng liệu có khả năng hạ bệ một phe độc tài toàn trị cộng sản (hiện đang chiếm đoạt toàn bộ tài nguyên quốc gia, và có hàng chục tỉ dollars nằm trong các quỹ đen, tài khoản nhà băng, và có khả năng in ra tiền) hay không??? Thêm vào đó nữa là hàng năm, nhiều ''vịt kìu yêu nước'' gửi thêm về khoảng hơn 5 tỷ dollars, vô hình chung là ''nuôi béo'' thêm cho đám độc tài cộng sản toàn trị có khẩu hiệu quen thuộc là ''đoảng và bác'', hàng năm các tổ chức tín dụng quốc tế cũng bơm thêm vào cho cộng sản vay mượn từ 5-10 tỷ dollars, như vậy là phe độc tài toàn trị cộng sản khoẻ re, có dư thừa tiền bạc để đầu tư cho đội quân có tên gọi là ''chống khủng bố'', nuôi đám nô bộc ngu trung, mua sắm các phương tiện thiết bị kỹ thuật tân tiến, nghe trộm điện thoại, cản phá sóng điện thoại di động, cản trở các hoạt động của phe dân chủ, như vậy thì phe dân chủ chỉ có đi từ thua đến thua mà thôi.
So sánh tương quan lực lượng giữa phe dân chủ và phe độc tài toàn trị cộng sản:
Trước hết nói về phe dân chủ: phe dân chủ là gì, phe dân chủ là bao gồm những người Việt nam tiến bộ, cầu thị, muốn tranh đấu đòi hòi một nền dân chủ, tự do cho mọi người dân, đòi hỏi các quyền căn bản của con người phải được thực thi nghiêm túc. Vũ khí của phe dân chủ là gì, vũ khí của phe dân chủ là đấu tranh ôn hoà bất bạo động, là ngòi bút, là lương tri, là phơi bày sự thật, và công cụ sắc bén là mạng lưới internet toàn cầu, là sự yểm trợ của cộng đồng người Việt tự do hải ngoại, là sự ủng hộ của toàn thể dư luận văn minh tiến bộ trên thế giới.
Phe độc tài toàn trị cộng sản là gì, phe độc tài toàn trị cộng sản là bao gồm hơn một chục con cá tra hiện đang ngồi chễm trệ trong cái gọi là ''bộ chính trị'' lưu manh, quái thai của đảng việt gian cộng sản, được chỉ đạo từ đám trung ương Tàu cộng Hán triều phương Bắc. Vũ khí của phe độc tài toàn trị cộng sản là gì, đó là những thủ đoạn lưu manh chính trị, là lừa đảo, bịp bợm mị dân, là đám công an quái thai, là đám quân đội ''anh hùng nhe răng'', là luật rừng cộng sản, là những phiên toà trá hình bất công phi pháp, là nhà tù, là đám vô số những tên tay sai nô bộc phục vụ cho chế độ cộng sản rải khắp từ trong nước ra đến nằm vùng tại hải ngoại, là khả năng tài chính dồi dào nhờ chiếm đoạt trắng trợn và trọn vẹn mọi nguồn tài nguyên của quốc gia...
Một vài ý kiến đóng góp chủ quan:
Hiện nay trên sân nhà, phe dân chủ đang bị yếu thế và thua phe độc tài cộng sản về vấn đề tuyên truyền, phe độc tài toàn trị cộng sản nắm gọn trong tay ưu thế bộ máy thông tin tuyên truyền khổng lồ nhưng với tính chất là lừa đảo, mị dân, bịp bợm dân chúng.
Lý thuyết sẽ mãi mãi là lý thuyết suông, nếu không có những hành động cụ thể trong thực tiễn. Hiện phe độc tài cộng sản đang khuếch trương thanh thế bộ máy tuyên truyền độc thoại, nhằm tăng cường sức chiến đấu cho ''đoảng và bác'' bằng cách mua hẳn một vệ tinh riêng có xuất xứ từ HK để tiếp tục mở rộng tuyên truyền nhồi sọ nhân dân. Thiết nghĩ phải chăng phe dân chủ cũng nên có một vệ tinh riêng của mình để có thể phủ sóng truyền thanh truyền hình trên toàn bộ lãnh thổ VN, phát đi những kênh truyền hình tuyên truyền về tự do dân chủ nhân quyền tới toàn thể người dân VN, hiệu quả sẽ gấp bội so với internet, vì hầu hết dân chúng VN ưa chuộng xem truyền hình hơn là internet, và hiệu quả lan toả của truyền hình thì rõ ràng là hơn hẳn internet. Nếu được như vậy thì may ra mới cân bằng được về mặt tuyên truyền, mới hy vọng đưa phần thắng cuộc chiến dân chủ tại VN ngả về phe dân chủ tiến bộ. Mặt khác, đáng nhẽ ra tư bản HK không nên bán những kỹ thuật hiện đại tiên tiến cho phe độc tài toàn trị cộng sản VN, để rồi họ tiếp tục duy trì nền cai trị độc tài toàn trị, tiếp tục hủ hoá tư tưởng nhân dân VN. Như vậy xem ra thực tế nó khác hẳn với câu nói hùng hồn trước đó: "nếu các bạn đứng lên đòi tự do, thì HK sẽ luôn luôn ở bên cạnh các bạn'' chỉ hoàn toàn là một câu nói mang tính chất xã giao không hơn không kém, không có ý nghĩa gì trong thực tế, mà thậm chí họ còn tiếp tay cho phe độc tài toàn trị có thêm sức mạnh.
Muốn giành được chiến thắng trong cuộc chiến dân chủ tại VN, ngoài việc cân bằng về mặt tuyên truyền quảng bá nền dân chủ tốt đẹp đến cho người dân, thì phe dân chủ cần phải chiếm được tình cảm của nhân dân, cần phải có được những ''ngôi sao'' dân chủ, hay là những con người thực sự tài năng, đức độ, hay nói một cách khác là những người có ''thiên tài'' làm chính trị thu hút được quần chúng nhân dân, phe dân chủ VN rất cần những con người tài năng như vậy.
Hiện tại thì phe dân chủ VN còn quá nhỏ bé, thiếu và yếu toàn lực, đáng nhẽ cần phải đoàn kết là vấn đề hàng đầu, thì ngay trong nội bộ của phe dân chủ cũng đã có những xung đột, chia rẽ nghiêm trọng. Điều này thì không hề có lợi gì cho cuộc chiến dân chủ, mà trái lại, đó là cơ hội tốt cho phe độc tài toàn trị cộng sản vốn là thuộc loại lưu manh chính trị hàng đầu, dựa vào đó để ra đòn tấn công nhằm triệt hạ phe dân chủ là phe đòi đối lập công khai, nhưng lại bất bạo động với phe độc tài toàn trị cộng sản vốn có đầy đủ vũ khí súng ống đạn dược, xe tăng, thiết giáp, gậy gộc, dùi cui điện, luật rừng và các phiên toà thực sự là rừng rú nhưng vẫn được gắn tên gọi mỹ miều là ''toà án nhân dân''...
Lời kết nho nhỏ:
Cuộc chiến dành dân chủ tại VN quả là một cuộc chiến hoàn toàn không cân sức chút nào, và phần thắng sẽ thuộc về kẻ mạnh hiện là phe độc tài cộng sản toàn trị, phe dân chủ tiến bộ muốn giành được phần thắng trong cuộc chiến không cân sức này không có cách nào khác là phải có đường đi đúng đắn và dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc VN cả trong và ngoài nước, tranh thủ tình cảm của dư luận tiến bộ văn minh trên thế giới, thì may ra ánh hào quang dân chủ mới có cơ hội ló dạng và soi rọi trên đất nước VN.
Nhóm Phóng Viên Dân Chủ-Nhân Quyền Việt xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" Nam tại Hải Ngoại.
Stockholm, Sweden (Trung Tâm Dân Chủ Nhân Quyền Số 1 Thế Giới)
website: http://nhomphongviendanchunhanquyen.blogspot.com
Date: June 05th, 2008.
Thiên thần khuất bóng
Trần Bình Nam
Một vị thiên thần vừa khuất bóng. Một ngôi sao chợt tắc. Ba Lan vừa mất một người con yêu dấu. Thế giới vừa mất một nét đẹp tân kỳ.
Ba Lan là nước gặp nhiều bất hạnh nhất trong cuộc Thế giới đại chiến thứ II. Và những nổi đau khổ của dân tộc này còn bị lịch sử xuyên tạc suốt nửa hậu bán thế kỷ 20 bởi chính bàn tay và khối óc của chính quyền cộng sản Ba Lan do Liên bang Xô viết (nay là Liên bang Nga) dựng nên. Trại hơi độc Auschwitz do Đức quốc xã dựng nên để giết người Ba Lan gốc Do thái được gọi là "Trại Tử thần Ba Lan", và qua bộ máy tuyên truyền của quốc tế cộng sản, thế giới vẫn lầm tưởng rằng người Ba Lan dững dưng trước cuộc tàn sát người Ba Lan gốc Do thái do bàn tay Đức quốc xã. Cựu lãnh tụ Do Thái Yitzhak Shamir từng tuyên bố một cách thiếu trách nhiệm, "người Ba Lan căm thù người Do Thái từ trong huyết mạch."
Thế giới hiểu lầm từ trước chiến tranh, nhưng người Ba Lan vốn vô tâm không lên tiếng vì họ biết họ không kỳ thị người gốc Do Thái.
Một trong những người từng hy sinh tính mạng cứu người Do Thái trong chiến tranh là bà Irena Sendler. Bà là con gái cưng của một bác sĩ y khoa, gia đình có truyền thống bất khuất và thương người. Ông cố nội của bà từng bị đày lên Tây bá lợi á. Cha của bà chết vì bệnh sốt rét cấp tính do săn sóc bệnh nhân gốc Do Thái mà các bác sĩ khác từ chối săn sóc sợ lây bệnh. Trước chiến tranh, Ba Lan bị áp lực Đức quốc xã, đại học Warsaw áp dụng chính sách kỳ thị. Là sinh viên văn khoa tại đó bà Sendler chống chính sách kỳ thị của nhà trường và gặp nhiều khó khăn.
Một lần thấy sinh viên Quốc xã Ba Lan đánh đập vô cớ một sinh viên gốc Do Thái bà Sendler đã xé thẻ sinh viên của bà để phản đối, và bà bị nhà trường đuổi học học trong 3 năm.
Mẹ bà Sendler có thể cho bà tiếp tục học hành nhờ sự giúp đỡ của cộng đồng Do Thái. Bà gia nhập đảng Xã hội do chủ trương thương người chứ không vì lập trường chính trị hay do ảnh hưởng của tôn giáo.
Năm 1939 Hitler chiếm Ba Lan. 400.000 người gốc Do Thái bị tập trung vào trong một khu ghetto riêng biệt rộng chừng 4 cây số vuông tại Warsaw, bị đối đãi tàn tệ, có thể bị lính Đức xử bắn vì bất cứ lý do gì, và về sau được chuyển dần về trại Treblinka để giết chết ở đó. Điều kiện sống trong trại thiếu vệ sinh, thức ăn giới hạn 2 kg bánh mì mỗi tháng cho mỗi người làm cho bệnh sốt rét hoành hành đôi khi giết chết cả lính Đức coi trại nên nhà cầm quyền Đức cho phép những người làm việc xã hội như bà Sendler vào phát thuốc và chủng ngừa chống bệnh.
Nhờ ra vào khu ghetto bà Sendler đã cứu được nhiều trẻ em Do Thái, hơn cả số người do nhà đạo diễn được giải Oscar Schindler cứu mà thế giới ai cũng biết. Công việc của bà Sendler hết sức nguy hiểm vì nếu bị phát giác bà có thể bị bắn. Bà dùng xe truck hoặc xe tram chở nhân sự và dụng cụ làm công tác nhân đạo lén chở các em trốn trại. Có khi bà dẫn các em len lỏi qua các ngõ ngách của các ngôi nhà hoang phế chung quanh khu tập trung để trốn ra ngoài. Để cứu một em bé bà Sindler phải huy động ít nhất 12 người bí mật làm việc với nhau: tài xế lái xe, linh mục cấp giấy khai sinh giả, công chức cấp hộ khẩu và thẻ thực phẩm, và gia đình bảo bọc các em. Những người này đều biết rằng nếu bị phát giác họ sẽ bị xử bắn tại hiện trường.
Bà Sendler không quên ghi lại lai lịch của các em để sau này chúng truy nguyên ra gốc gác gia đình. Bà ghi tên tuổi của chúng trên những cuộn giấy vệ sinh để cạnh giường ngủ, dự phòng vất qua cửa sổ nếu công an Đức soát nhà. Có lần bà bị công an Đức bắt, nhưng bà đã kịp chuyển tài liệu ghi tung tích các em cho một người bạn dấu trong nách. Bị tra tấn dữ dội bà cắn răng chịu đựng, và công an Đức tưởng bà chỉ là nhân vật phụ. Đường giây của bà đút lót công an và bà thoát bị xử bắn. Ra tù bà dấu tên tuổi các em trong một cái chai chôn kỹ. Phần bà, bà đổi danh tánh và sống lẫn trốn công an Đức cho đến khi chiến tranh chấm dứt.
Sau chiến tranh nghe ai nhắc đến công đức bà Sendler thường phàn nàn rằng: "Tôi hối hận đã chưa làm hết sức mình." Bà cho mình là một người con gái chưa trọn đạo với mẹ đã để cho mẹ phải làm việc cực nhọc trong suốt thời chiến tranh, không làm tròn nhiệm vụ đối với hai người chồng và không làm tròn chức năng một bà mẹ đối với con gái. Sau năm 1945 bà Sendler bận rộn công việc trong những nhà giữ trẻ không có thì giờ săn sóc con gái đến nổi con gái bà phải xin vào ở nhà trẻ mồ côi để được gần gũi bà.
Trước khi chiến tranh chấm dứt bà Sendler tham gia kháng chiến chống Đức. Sau chiến tranh chính phủ cộng sản Ba Lan cho hành động kháng chiến và việc giúp giải thoát cho một số trẻ em Do Thái của bà đều là công tác của chính phủ lưu vong Ba Lan thành lập tại Luân Đôn và là tay sai của đế quốc. Bà Sendler bị công an Ba Lan thẩm vấn từ năm 1945 đến năm 1948 đến nổi hư thai. Đứa con thứ hai của bà bị sinh thiếu tháng và chết. Bà bị cấm di chuyển khỏi thủ đô Warsaw. Con gái bà không được học đại học. Con gái thường hỏi bà: "Mẹ phạm tội gì hỡ mẹ".
Mãi đến năm 1983 chính phủ cộng sản Ba Lan mới cho phép bà đi Jerusalem, tại đó những em bé ngày xưa bây giờ đến tuổi trung niên đã trồng một cây kỷ niệm tại Yad Vashem để ghi nhớ ơn bà. Bà Sendler đã cung cấp các thông tin cần thiết để các em truy tìm cha mẹ và thân nhân mà đa số đều bị giết chết.
Năm 2003 chính phủ dân chủ Ba Lan chính thức công nhận công ơn của bà đối với quốc gia và trao tặng bà huy chương "Con Ó Trắng" (White Eagle) cao quý nhất của Ba Lan.
Bà Sendler từ bỏ đất nước thân yêu của bà ngày 12/5/2008, hưởng thọ 98 tuổi. Một ánh sao băng trên bầu trời chợt tắc. Một nữ thiên thần vừa khuất bóng.
Trần Bình Nam
(thuật theo Cáo Phó)
June 2, 2008
The Economist số ngày May 24th - 30th 2008
Anh phải sống. Em phải sống. Chúng ta phải sống
Minh Thu
Đối với hầu hết những người Việt có tí hiểu biết về văn chương cận đại, nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, có lẽ là người được biết đến nhiều nhất của Tự Lực Văn Đoàn, với khá nhiều truyện ngắn, truyện dài rất đặc sắc và cảm động như Gánh Hàng Hoa, Đời Mưa Gió, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn, Bướm Trắng, Dòng Sông Thanh Thuỷ... Đa số các sáng tác của ông đã được nhiều thế hệ học sinh đọc tới và trở thành những tác phẩm "kinh điển" (theo nghĩa classique), bất hủ với thời gian. Chỉ riêng dưới chế độ vô văn hoá của Việt Cộng thì trình độ và kiến thức về văn hoá của học sinh mới tụt dốc xuống mức thê thảm khi mà đa số các em đều không biết tí gì về nhà văn này cũng như Tự Lực Văn Đoàn; do đó mới có cái cảnh nực cười khi có em học đến lớp 12 đã trả lời rằng Nhất Linh là tên của một soạn giả hay ông bầu cải lương trong một cuộc thi đố vui để học được chiếu trên truyền hình!
Trong số các tác phẩm của Nhất Linh, chắc chắn nhiều người đã đọc qua, hay nghe nói tới, về truyện ngắn có tựa đề là Anh Phải Sống, được ông viết chung cùng với Khái Hưng vào khoảng năm 1932. Nội dung của truyện cũng không có nhiều tình tiết dài dòng hay éo le, mà chỉ diễn tả cảnh một gia đình nghèo nàn ở miền Bắc Việt Nam vào thời đó. Cả hai vợ chồng trẻ là anh Thức và cô Lạc đều xuất thân từ những gia đình rất nghèo, cùng làm phu hồ, từ đó quen nhau, rồi yêu nhau và lấy nhau.
Năm năm ròng trong gian nhà lụp sụp ẩm thấp, tối tăm ở chân đê Yên Phụ, không có một sự gì êm đềm đáng ghi chép và hai cái đời trống rỗng của hai con người khốn nạn, càng khốn nạn hơn khi họ đã đẻ luôn ba năm ba đứa con là cái Nhớn, cái Bé và thằng Bò. Gặp thời buổi khó khăn, việc ít, công rẻ, khiến hai vợ chồng loay hoay, chật vật suốt ngày này sang ngày khác mà vẫn không đủ nuôi thân, nuôi con.
Bỗng khi mùa nước mặn đến, anh Thức nghĩ ra được một cách sinh nhai mới. Anh vay tiền mua một chiếc thuyền nan, rồi hai vợ chồng ngày ngày chở ra giữa dòng sông vớt củi để đem về bán, lấy tiền độ nhật. Ấy vậy mà trời thương cho được việc, vì hai tháng sau, anh trả xong nợ, lại kiếm dư dả thêm tiền ăn tiêu. Vì thế nên giờ đây gặp lúc túng đói, vợ chồng anh chỉ mong chóng tới ngày có nước to để đi vớt củi.
Nhưng khi nước sông Nhị Hà bắt đầu lên to, nó cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi. Đứng trên đê, cả hai vợ chồng ngắm sông, ngắm trời để rồi phải lắc đầu thở dài, vì gió to quá, mà đám mây đen to lớn ở chân trời lại đang sắp đùn lên, báo hiệu một cơn giông lớn sắp thổi ập đến.
Nhưng rồi định mệnh nghiệt ngã khiến họ cuối cùng phải đánh nước liều, hay đúng hơn là không còn một chọn lựa nào khác khi mà ở nhà đã không còn có gạo để ăn, ba đứa con nheo nhóc đang khóc và lả người vì đói, và họ cũng đã hết cách để vay mượn nhưng cũng không được, trừ phi họ đem củi vớt đến thì mới được giao tiền. Thế là cả hai quyết định lên thuyền đi vớt củi, mặc dù anh chồng biết rằng rất nguy hiểm và không muốn cho vợ cùng đi, nhưng chị Lạc đã cười và bảo:
- Nguy hiểm thời nguy hiểm cả... Nhưng không sợ, em biết bơi.
Nhưng cái bơi của chị không đủ sức để chống chọi với gió to, nước chảy mạnh, và sấm sét như trời long đất lở làm lật chiếc thuyền nan bé nhỏ khi ra giữa dòng, khiến cho những khúc củi vớt được của họ cũng trôi đi mất. Hai vợ chồng bị đắm mình trong vực sâu thẳm giữa cơn giông bão chợt đổ ập đến, và đang cố gắng để bơi vào bờ.
Đoạn kết của truyện ngắn này là đoạn được nhiều người nhớ đến nhất, tuy chỉ có vài câu đối thoại ngắn ngủi giữa hai vợ chồng trong những giờ phút nguy kịch nhất. Khi thấy vợ đã đuối sức, anh Thức liền vội vàng đến cứu, một tay xốc vợ một tay bơi. Nhưng rồi cũng không kéo dài được lâu, vì cuối cùng anh cũng sắp đuối sức, hai cánh tay rã rời. Chị vợ khẽ hỏi:
- Có bơi được nữa không?
- Không biết. Nhưng một mình thì chắc được.
- Em buông ra cho mình vào nhé?
Chồng cười:
- Không! Cùng chết cả.
Lát sau, anh lại hỏi:
- Lạc ơi? Liệu có cố bơi được nữa không?
- Không?... Sao!
- Không. Thôi đành chết cả đôi.
Bỗng Lạc rung khẽ nói:
- Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!... Không?... anh phải sống!
Anh chồng bỗng thấy nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra chị vợ nghĩ đến con nên đã lẳng lặng buông tay ra để mình xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ. Bằng không thì cả hai cùng chết, không còn ai để chăm sóc cho những đứa con còn thơ dại...
Một câu chuyện hết sức cảm động và thương tâm trong kho tàng văn chương Việt Nam mà người đọc bao giờ cũng xót xa mỗi khi tình cờ đọc lại. Mới đây một câu chuyện cảm động tương tự cũng đã xảy ra ngoài đời, và đã được thuật lại qua bài viết của nhà báo Edward Wong của tờ New York Times, trong số ra ngày 19-05-08. Đây là một trong những tờ báo lớn và uy tín nhất tại Hoa Kỳ, lại thường có nhiều bài viết đặc sắc và công phu liên quan đến đời sống và sinh hoạt tại Trung Cộng. Bài báo nói về một vụ cứu sống hi hữu các nạn nhân của vụ động đất kinh hồn vừa mới xảy ra ở tình Tứ Xuyên (SiChuan) bên Trung Cộng. Nạn nhân là một cặp vợ chồng trung niên người Hoa, đã được vớt ra sau khi đã bị chôn vùi trong 28 tiếng đồng hồ giữa đống gạch vụn hoang tàn đổ nát của một toà nhà 6 tầng. Có đến hơn 32,000 người chết cộng với một số lượng tương đương bị coi là mất tích trong đống đổ vỡ của vụ động đất to lớn này, với cường độ trên địa-chấn-kế Richter là 8 điểm. Câu chuyện được cứu sống một cách đầy may mắn này cũng rất xúc động vì nó cũng là một chuyện thương tâm của một gia đình nghèo khiến cho hai vợ chồng phải xa cách để tìm kế sinh nhai, rồi tình cờ trong một dịp hội ngộ ngắn ngủi, lại phải chịu chung số phận hoạn nạn của thiên tai, bị chôn vùi giữa đống gạch đổ nát, trải qua cảnh cô đơn, vô vọng, trong cái cảnh mưa gió lạnh căm. Nếu như họ không có nằm gần kề nhau trong những giờ phút nguy kịch và tuyệt vọng ấy, có lẽ họ đã đuối sức và buông xuôi để thiệt mạng vì những vết thương. Thế nhưng cuối cùng họ đã sống sót, mặc dù không lành lặn, sau khi đã trải qua những giờ phút cuối chia sẻ tâm tình, an ủi lẫn nhau cũng như cùng lo nghĩ đến sự an nguy của đứa con duy nhất, có lẽ là động lực mạnh nhất khiến họ phải can đảm để tiếp tục sống.
Anh Vương Trí Quân (Wang ZhiJun), năm nay 40 tuổi, lập gia đình với vợ là Lý Hoàn Chi (Li WanZhi), 38 tuổi và hai người có một đứa con gái mới 14 tuổi, đang sống tại thị trấn Lạc Thuỷ (LuoShui) ở Tứ Xuyên, theo đúng với chính sách của nhà nước Trung Cộng là mỗi gia đình chỉ có được một người con. Công việc làm ăn khó khăn, giống như hàng chục triệu người Hoa khác, anh Quân đã phải buộc đi xa nhà, chu du khắp nơi để đến những chỗ nào kinh tế đang phát triển hầu kiếm sống. Thậm chí đến ngày lễ Tết nguyên đán vừa qua, một ngày nghỉ lễ quan trọng nhất trong truyền thống người Hoa, mà anh cũng không thể về quê ăn Tết được vì còn phải mắc bận với công việc ở Quảng Châu. Chị Chi vừa phải tần tảo nuôi đứa con gái trong lúc vừa đi làm công nhân cho một hãng hoá học tại địa phương. Chị kể rằng chồng chị không có một đời sống ổn định, vì phải rầy đây mai đó, đi khắp mọi nơi để tìm cơ hội buôn bán. Có lúc chị đã than với chồng rằng tại sao không bỏ nghề đi buôn để sống ở nhà cho thoải mái, tuy nghèo nhưng được hạnh phúc trong cảnh gia đình đoàn viên.
Định mệnh đưa đẩy khiến anh Quân trở về nhà đúng 2 ngày trước khi xảy ra thiên tai động đất. Hôm đó là ngày thứ Hai 12-05, cả hai vợ chồng anh đang ngồi xem phim trên truyền hình trong căn phòng của họ ở lầu 4. Thế rồi đúng vào 2 giờ 28 phút trưa hôm đó, thì cuộc đời của anh, cũng như của hàng chục ngàn nạn nhân khác, đã bị đảo lộn hoàn toàn khi vụ động đất kinh thiên động địa tạo nên một loạt những cơn chấn động rung chuyển mặt đất khắp vùng Tứ Xuyên. Trong căn phòng của mình, cả hai vợ chồng anh Quân đều cảm nhận những rung chuyển kinh hồn làm lung lay toà bin-đinh họ đang trú ngụ. Theo phản xạ, cả hai vội chạy vào phòng tắm để tìm chỗ trú ẩn an toàn. Thế nhưng vừa chạy đến nơi thì cả toà nhà này đã bị đổ sập xuống, cái cửa phòng tắm bằng gỗ đập vào lưng anh Quân khi cả hai đều té nhào, chôn vùi bởi đống gạch vụn bụi bay mù trời.
Thoạt đầu họ không cảm thấy bị đau đớn gì cả, có chăng chỉ là một sự tê cứng vì sợ hãi. Cả hai bị nằm đè xuống kẹt cứng một bên, và cũng chẳng biết là mình có bị gãy xương hay chảy máu ở đâu trên người. Trên đầu của họ là một mảng tường gạch xi-măng to lớn treo lơ lửng chỉ cách có vài phân, chỉ chực chờ rơi xuống bất cứ lúc nào. Chỉ cần cục cựa đôi chút cũng có thể khiến cho khúc gạch đó có thể rớt xuống và đè nghiến họ. Cánh tay của chị Chi bị nằm kẹt dưới thân xác của chồng. Thoạt đầu chị cũng cảm thấy đau nhói, nhưng rồi sau đó bàn tay trở thành gần như tê cứng, mất hết cảm giác.
Sau một hồi định thần, anh Quân mới nói cho vợ biết rằng trong túi quần của anh có mang theo cái điện thoại di động, và hỏi xem liệu vợ anh có thể nào móc ra để sử dụng. Chị vợ cố gắng moi ra được, nhưng cũng vô ích vì không có dấu hiệu nào nghe được. Rồi chị nghe dường như có tiếng reo của chiếc điện thoại riêng của chị nằm lẫn lộn đâu đó trong đống gạch đổ nát. Tiếng reo cứ vang lên và vang lên mãi. Chị nghĩ chắc đó là những lời hỏi thăm của bạn bè hay thân quyến đang muốn liên lạc để biết tin tức. Mặc dù bị tức ngực và gần như nghẹt thở, mỗi lần hít thở là mỗi lần đớn đau khó nhọc, cả hai anh chị cũng cố gắng gào to lên "Cứu tôi với! Cứu tôi với!". Cứ mỗi lần nghe một tiếng động nào đó ngoài đống gạch vụn đang đổ trùm lên, cả hai đều cố gắng hét to lên để hy vọng có người nghe thấy và tìm cách cứu vớt. Trong giờ phút cô đơn đầy tuyệt vọng đó, chị Chi lúc nào cũng nhắc nhở chồng là cần phải bình tĩnh lắng nghe và để ý đến những gì đang xảy ra chung quanh.
Lúc đó, tâm trí chị chỉ còn chú ý đến hai điều quan trọng nhất: đó là làm cách nào để thoát ra khỏi nơi này, cũng như làm cách nào để tiếp tục sống sót cho đến khi được cứu vớt. Dĩ nhiên chị và anh Quân có lúc cũng nghĩ đến họ hàng thân quyến, phần đông đều cư ngụ gần đó, và nhất là đứa con gái của họ, đang ở trong trường học khi vụ động đất xảy ra.
Có lúc anh Quân đã nói với vợ:
- Anh muốn em được cứu sống. Chúng ta còn có một đứa con gái, anh muốn em tiếp tục nuôi nấng nó.
Trong cái ánh sáng le lói xuyên qua khe hỡ của đống gạch vụn, họ cảm nhận cái thế giới ở bên ngoài đang chuyển động. Ánh sáng bắt đầu mờ nhạt dần. Cái đống gạch đổ vỡ dường như đang chuyển động, đè nặng lên cả hai. Giờ này, họ không còn thấy đau đớn gì cả vì toàn thân đã bị tê cứng. Họ cũng không còn thấy đói hay khát nữa. Cả hai phải thay phiên nhau để hít thở vì thân xác bị đè bẹp cứng. Mỗi lần chị Chi hít thở, lồng ngực đẩy lên thì anh Quân phải ép mình và nín thở. Chị cố hy vọng nhìn vào chiếc điện thoại di động một lần nữa, đang chỉ giờ là 11 giờ đêm, nhưng tuyệt nhiên cũng không có dấu hiệu hay tiếng reo nào cả. Dẫu sao, nó cũng là niềm hy vọng sống sót cuối cùng để có thể liên lạc với thế giới bên ngoài. Trên mặt của chiếc điện thoại, dấu báo hiệu cho biết nó cũng sắp sửa hết pin rồi.
Đến giữa đêm thì mưa bắt đầu rơi. Anh Quân nghe rõ tiếng kêu của mưa đập mồn một xuống đống gạch vụn những tiếng kêu đều đặn. Mưa cũng xuyên qua những khẽ hở chạy xuống làm ướt người. Anh Quân còn nghe thêm nhiều tiếng động khác, những tiếng động lạ lùng, dường như là của những đống gạch này va chạm với đống gạch khác. Anh tưởng tượng đến cảnh phải chăng những đống đất chung quanh mình đang bị truồi đi vì hậu quả của những cơn hậu chấn? Anh nhìn lại chiếc điện thoại một lần nữa. Lần này nó đã chết thật sự rồi, không còn dấu hiệu hoạt động nào cả.
Anh bắt đầu tuyệt vọng và nghĩ quẩn: "Chắc không ai đến cứu được chúng mình cả." Anh nghĩ đến cái chết nó sẽ dần dần đến với vợ chồng anh. Và rồi anh quyết định tìm một cái chết mau chóng hơn để khỏi phải tiếp tục sống trong đớn đau và tuyệt vọng. Anh muốn tự bẻ cổ mình trong đống gạch vụn để có thể tự kết liễu đời mình. Nhưng anh bị kẹt cứng không nhúc nhích được, càng khiến anh tuyệt vọng và phẫn chí hơn. Chính lúc đó vợ anh mới cất tiếng khuyên. Chị nói rằng có lẽ ông trời đã không muốn cho vợ chồng họ chết nên đã không khiến họ thiệt mạng ngay khi xảy ra vụ động đất. Vậy thì chắc là phần số của họ chưa đến giờ chấm dứt. Chị còn nói với chồng rằng theo tử vi anh sẽ có số thọ cao vì sinh trong năm Thân, vì các con khỉ có thể sống đến 500 năm. Chị nhắc cho anh nhớ rằng họ còn có đứa con gái. Chị nhỏ nhẹ khuyên lơn:
- Anh phải sống, để có dịp chia sẻ vui buồn với con. Thôi, mình hãy cố ngủ để dành sức nhé.
Thế nhưng họ cũng không thể nào chợp mắt được với nỗi sợ hãi bao quanh. Ánh sáng ban ngày bắt đầu ló dạng và xuyên qua những khẽ hở của gạch vụn. Không biết đến bao lâu nữa, họ mới nghe lại được những tiếng động di chuyển trên đống gạch đổ vỡ. Mặc dù cổ họng đã gần như bị khan giọng, họ vẫn cố hét to. Đột nhiên, có tiếng người hỏi vọng lại: "Các anh là ai?"
Chị Chi chợt mừng rỡ nhận ra đó là tiếng nói quen thuộc của sếp chị. Chị liền la to lên: "Em là Lý Hoàn Chi đây, cứu em với!" Rồi tiếp theo là câu trả lời:
- Hãy kiên nhẫn nằm im đó đi, chúng tôi đang tìm cách cứu thoát ra ngay.
Liền sau đó là một lô những tiếng nói qua lại. Hai vợ chồng chị Chi không còn nhận thức rõ những câu nói ấy nữa, họ chỉ nghe loáng thoáng để hiểu rằng dường như những người ở trên đang suy nghĩ đến phương cách nào an toàn nhất để cứu vớt họ. Cuối cùng, họ bắt đầu nghe được những tiếng động lớn, dường như là động cơ của những chiếc cần cẩu to lớn đang tìm cách xúc bớt những đống gạch đổ nát. Công cuộc bới những đống gạch này kéo dài đến 5 hay 6 tiếng, cho đến khi có một cái ống hút được chuyền xuống cho họ để nhấm một chút nước đường cho đỡ khát. Cái khẽ hở trên đầu họ bắt đầu lớn dần ra, để cho toán cứu trợ bắt đầu kéo anh Quân ra trước, và sau đó mới đến chị Chi.
Khi những nhân viên cứu cấp đặt hai vợ chồng chị Chi nằm trên chiếc xe cứu thương để chở vào bệnh viện, chị cảm thấy một niềm hạnh phúc dâng trào; chị chỉ muốn ôm chầm lấy chồng vì sung sướng nhưng không làm được vì toàn thân chị đã không còn cử động được. Sau này, tại nhà thương Shifan, bác sĩ đã phải cưa cánh tay trái của chị vì đã bị ung thối sau nhiều giờ bị đè bẹp dưới thân xác của chồng khi cả hai bị chôn vùi dưới đống gạch đổ nát. Còn anh Quân thì trên người còn nhiều vết băng, máu mủ đọng lại nhiều nơi, đang mơ màng kể lại với nhà báo về thảm trạng mà họ đã trải qua. Đứa con gái của họ lúc nào cũng túc trực bên giường. Cả hai dường như vẫn còn đang bị đau đớn nhiều vì những vết thương. Anh Quân kể rằng anh có cảm giác như tim của mình bị ai bóp chặt lại. Còn chị Chi vẫn còn kinh sợ mỗi khi nghe nói đến các cơn hậu chấn. Có lẽ chị còn bị ám ảnh bởi cái hình ảnh kinh hoàng có thể bị chôn sống một lần nữa.
Thế nhưng gia đình của chị rất hạnh phúc và biết ơn về sự may mắn của mình, cho dù là giờ đây họ cũng không còn nhà cửa nào để về trú ngụ.
Chị nói với nhà báo:
- Cái điều quý giá duy nhất chúng tôi còn giữ lại được là những người thân yêu nhất trong gia đình. Chúng tôi đã nói với nhau rằng "Anh phải sống, Em phải sống, Chúng ta phải sống". Và chúng tôi đã tự hứa rằng một khi sống sót được, chúng mình hãy chăm sóc cho nhau để có một cuộc sống tốt đẹp. Chúng tôi có thể bắt đầu làm lại cuộc đời.
Văn phong của nhà báo Edward Wong có thể không khiến người đọc cảm thấy xúc động như khi đọc văn của Nhất Linh. Và cái kết cục "có hậu" của câu chuyện có thực này có thể không mang tính chất bi thảm đầy xúc động như câu truyện hư cấu của Anh Phải Sống. Nhưng khách quan mà nói, nó cũng nêu lên được cái tình người đáng thương và đáng yêu của nhân loại, hiển hiện ở mọi không gian và thời gian, mà nhiều khi phải trải qua những cơn thử thách hay biến cố bi thảm, người ta mới có dịp chiêm nghiệm hay thưởng thức được.
Minh Thu
Houston, Texas,
minhthu54@gmail.com
|