banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Khủng hoảng lạm phát tại Việt Nam rất đáng sợ
- Các biện pháp của chính phủ nhằm ngăn chặn lạm phát cao
cho thấy không hiệu quả.

 

James Hookway
The Wall Street Journal 30/5/08,
Khánh Đăng lược dịch

Tỷ lệ lạm phát trên đà gia tăng tại Việt Nam đang đe dọa chuyển hướng sang thành một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn bộ, và nó đưa ra một lời báo động cho các quốc gia Á Châu khác đang cố chặn đứng tình trạng giá cả tăng vọt.
Chính phủ Việt Nam vào tuần này cho biết tỷ lệ lạm phát trong tháng Năm, trên căn bản hàng năm là 25.2%, tăng hơn mức 21.4% của tháng Tư và 14.1% trong tháng Giêng. Nhà nước bị đổ thừa một phần lớn vì có phản ứng chậm chạp. Khi giá cả thực phẩm và xăng dầu bắt đầu gia tăng hồi cuối năm ngoái, thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với hy vọng sẽ tiếp tục duy trì mức tăng trưởng, đã chậm chạp trong việc kềm giữ áp lực lạm phát bằng cách tăng cao lãi suất hoặc siết chặt một cách có hiệu quả trong vấn đề cho vay mượn. Các nỗ lực kiểm soát lạm phát đã cho thấy không có hiệu quả -- chẳng hạn như việc nới lỏng trị giá đơn vị tiền tệ đồng bạc đối với đồng đô la, khiến phần lớn bị hậu quả ngược vì các thói quen cho vay mượn.
Các chuyên gia kinh tế nói rằng cho tới bây giờ thì chỉ có một phạm vi giới hạn cho các khó khăn của Việt Nam có thể lây lan sang nền kinh tế của các quốc gia Á Châu khác. Nhưng Việt Nam đang trưng bày một bối cảnh tồi tệ nhất về những gì có thể xảy ra nếu các ngân hàng trung ương trong khu vực không nhanh nhẹn hành động để chặn đứng tình trạng giá cả gia tăng, đúng vào lúc khi các nền kinh tế của họ không giống như của Hoa Kỳ hoặc Tây Âu -- vẫn hiện đang cho thấy có sự tăng trưởng mạnh mẽ.
Sau một thời kỳ bùng phát trong ngành xây cất giữa lúc lãi suất thấp và xuất cảng tăng vì trị giá đơn vị tiền tệ địa phương (đồng bạc) yếu hơn so với đồng đô la, thì bây giờ nền kinh tế Việt Nam đang đi ngược lại chiều hướng đó. Chỉ số chính của thị trường chứng khoán bị tụt xuống 55% trong năm nay, và giá cả hàng hoá đang gia tăng mạnh mẽ.
Công ty đầu tư Morgan Stanley trong một báo cáo hôm Thứ Tư đã báo động rằng việc cho vay mượn lỏng lẻo đã gây ra một cuộc khủng hoảng ngân hàng. Họ còn tiên đoán rằng đơn vị tiền tệ Việt Nam, đồng bạc, có thể bị suy yếu thê thảm đối với đồng đô la trong năm sắp tới đây.
Vào hôm Thứ Năm, hãng nghiên cứu và định gía tín dụng Fitch Ratings đã hạ thấp viễn ảnh về các khoản nợ nần ngoại quốc của Việt Nam từ "ổn định" xuống mức "bi quan". Công ty này còn cho biết rằng các chính sách của nhà nước để đối phó với tình trạng lạm phát gia tăng "vừa chậm chạp lại quá nhỏ nhặt"
Nhiều ngân hàng trung ương ở Á Châu trong những năm qua đã đưa việc kiểm soát lạm phát là mục tiêu chính yếu trong chính sách của họ. Nhưng chỉ có một số ít tương đối là thật sự độc lập, khiến họ là đối tượng cho các áp lực chính trị buộc phải duy trì mức tăng trưởng kinh tế.
Vài nước như Ấn Độ và Trung Quốc đã chọn lựa việc hút bớt thanh khoản (liquidity) dư thừa trong hệ thống tài chánh bằng cách áp đặt ra các yêu cầu dự trữ mới trong ngân hàng của họ thay vì gia tăng lãi suất lên đến mức có thể có khả năng hơn để ngăn chận lạm phát. Các quốc gia khác thì đang chờ đợi xem có thể nào các vụ thu hoạch lớn hơn sẽ làm cho giá cả thực phẩm bớt căng thẳng, hiện thời đang ở mức 40% hoặc hơn đối với chỉ số giá tiêu dùng (consumer-price index) ở các quốc gia như Nam Dương và Phi Luật Tân.
Kinh nghiệm của Việt Nam cho thấy sự nguy hiểm của việc chờ đợi qúa lâu trước khi có các hành động dứt khoát để chặn đầu nạn lạm phát. Theo ông Spencer White, một chuyên gia kế hoạch đồng thời cũng là một thành viên trong ban giám đốc công ty tài chánh Thiên Việt Securities ở TPHCM thì, "Những gì đang xảy ra ở đây tại Việt Nam đã xảy ra tại Á Châu cách đây 10, 20 năm. Ở thời điểm này thì không có nhiều sự hoà hợp về tài chánh với các thị trường Á Châu khác, nhưng điều đó có thể làm tổn hại đến sự hăng hái đầu tư rộng lớn hơn từ các thị trường bên ngoài".
Cách đây một năm, Việt Nam vẫn còn là một nơi đáng yêu của các nhà đầu tư thế giới. Các ngân hàng quốc tế như HSBC Holdings PLC đã đầu tư vào các ngân hàng địa phương. Các công ty phát triển địa ốc từ Nam Hàn và Đài Loan đã bắt đầu tiến hành một dự án phát triển lớn để xây dựng các mặt bằng văn phòng ở Hà Nội và TPHCM.
Các nhà sản xuất trên toàn thế giới cũng đổ xô vào Việt Nam, một phần là để tránh khỏi mức lương bổng và giá cả đất đai đang gia tăng ở Trung Quốc, nhưng cũng là để lợi dụng một lực lượng lao động trẻ trung và chăm chỉ đã nhìn thấy một cảnh phồn vinh đang hé mở sau hàng năm trời bị chiến tranh và đình trệ. Các công ty ngoại quốc đã được chấp thuận để đầu tư 20 tỷ Mỹ kim vào Việt Nam trong năm ngoái -- một phần ba hơn nước láng giềng Thái Lan -- đã cộng thêm vào áp lực lạm phát vì làm gia tăng giá cả đất đai, mức lương bổng cho công nhân có tay nghề và tiền mướn văn phòng.
Các doanh nghiệp quốc doanh lớn nhất bắt đầu mở rộng việc kinh doanh ra nhiều ngành nghề khác nhau, hy vọng rằng sẽ trở thành các tập đoàn kinh tế hùng mạnh để cạnh tranh với các công ty nước ngoài đang bắt đầu đổ vào sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO).
Vài lãnh tụ cao cấp của Việt Nam đã nghi ngờ sự cương quyết của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc xây dựng các doanh nghiệp mới này, thường là từ các món nợ vay mượn với lãi suất rẻ mạt từ các ngân hàng quốc doanh. Hồi năm ngoái, một cựu thủ tướng, ông Võ Văn Kiệt đã viết một lá thư ngỏ đến ông Dũng nói rằng đây chính là các sai lầm mà Nam Hàn, Mã Lai Á và các nước khác đã phạm phải trong thời kỳ trước cuộc khủng hoảng tài chánh Á Châu ở thập niên 1990s.
Khi áp lực lạm phát bắt đầu gia tăng hồi năm ngoái, vài chuyên gia kinh tế của nhà nước nói rằng ngân hàng trung ương không muốn ngừng việc cho vay các món nợ với lãi suất thấp. "Phần lớn chính sách của ngân hàng trung ương được lèo lái bởi các nghị trình của nhà nước nhằm khuyến khích tăng trưởng càng nhiều càng tốt, trong khi đó bảo đảm rằng các doanh nghiệp quốc doanh sẽ đóng một vai trò nào đó trong nền kinh tế vào những năm sắp tới", theo một nhà kinh tế Việt Nam cho biết.
Những người quen thuộc với tình trạng này nói rằng hồi đầu năm nay, khi giá cả gia tăng làm xảy ra các cuộc biểu tình và đình công, ông Dũng đã chỉ thị cho thống đốc ngân hàng trung ương Nguyễn Văn Giàu làm việc tích cực hơn để kềm chế lạm phát.
Ngân hàng trung ương đã mở rộng các lĩnh vực để đồng tiền Việt Nam có thể mua bán đối với đồng đô la. Sáng kiến này là để thả lỏng đơn vị tiền tệ địa phương khỏi một đơn vị tiền tệ Hoa Kỳ đang tuột dốc, và để cho Việt Nam có thể hấp thụ các phí tổn cao về xăng dầu. Thay vào đó, biện pháp này đã tạo ra sự hoảng sợ trong quần chúng vì trong hàng năm trời họ vẫn dùng đồng đô la như một phương tiện thuận lợi khác vì sự khó khăn lỉnh kỉnh của tiền Việt Nam, với tờ giấy bạc có mệnh gía lớn nhất là 500.000 đồng (có giá trị khoảng 30 đô la) thì hiếm thấy.
Vài ngân hàng địa phương đã từ chối không chịu đổi tiền đô la, gía cổ phiếu chứng khoán địa phương bị xụp đổ vì các ngân hàng cố nắm giữ lấy tiền Việt Nam và từ chối không cho vay mượn để mua cổ phần. Ông Dũng trong tháng Ba đã cho hạ thấp mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam cho năm 2008 xuống còn 7% từ mức 8.5%, để chú tâm vào việc tiến hành chống lạm phát.
Từ đó, giá cả thực phẩm gia tăng khắp toàn cầu và thu hoạch lúa gạo thấp kém đã làm cho mọi việc bị xấu hơn. Ngân hàng trung ương tiên đoán rằng mức thâm thủng của tài khoản vãng lai (current account deficit) -- là sự khác biệt giữa nhập cảng và xuất cảng hàng hoá, dịch vụ của một quốc gia -- sẽ chiếm đến 7.5% của tổng sản lượng nội địa (GDP) trong năm nay, tăng lên từ mức 5% của năm 2007.
Mức thâm thủng tài khoản vãng lai của Thái Lan ở mức 6.5% GDP khi nước này buộc phải phá giá đồng baht năm 2007, gây ra cuộc khủng hoảng tài chánh tại Á Châu. Người dân Việt Nam, trong khi đó lại rút hết tiền ra khỏi ngân hàng để mua vàng. Một số đang bắt đầu tích trữ đồng đô la như một cách đầu tư để giảm thiểu sự rủi ro của giá cả lên xuống nhằm chống lại nạn lạm phát.
Các bài tường thuật của báo chí địa phương cho biết, giá các căn phòng apartment ở TPHCM, là trung tâm thương mại của cả nước, hiện thời đã rơi xuống chỉ còn phân nửa. Công ty Morgan Stanley ước lượng rằng trị giá các khoản nợ đã nới rộng ra hơn 35% một năm và được dùng vào thị trường địa ốc chỉ khoảng 10% của tổng số các khoản nợ này.

 

 

Việt Nam đang mất dần sức lôi cuốn đầu tư

Amy Kazmin
Financial Times 01/6/08,
Phan Lưu Quỳnh lược dịch

Cộng đồng các doanh nghiệp nước ngoài đang cảnh báo rằng nạn lạm phát gia tăng nhanh chóng, tình hình lao động bất an và một thị trường địa ốc sôi sục có thể làm xói mòn đi sức lôi cuốn của quốc gia do cộng sản cai trị này như một nơi đến để đầu tư.
Trong một buổi họp thường niên giữa giới thẩm quyền Việt Nam và các thành viên của cộng đồng các doanh nghiệp nước ngoài vào hôm Thứ Hai, ông Michael Pease, chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam kêu gọi Hà Nội hãy hành động nhanh chóng để hồi phục lại sự ổn định của nền kinh tế toàn thể.
Buổi họp này xảy ra chỉ vài ngày sau khi có những tin tức về tỷ lệ lạm phát đã dâng lên 25.2% trong tháng Năm, là mức cao nhất kể từ năm 1992, bị thúc đẩy vì sự tăng vọt của giá cả thực phẩm, vật liệu xây dựng và tiền mướn nhà cửa.
"Thành công của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài phần lớn là dựa trên sự mong muốn có một nền kinh tế và chính trị ổn định", ông Pease, tổng giám đốc công ty Ford tại Việt Nam, phát biểu trong buổi họp.
Bây giờ Hà Nội cần phải có "hành động khẩn cấp và dứt khoát" để ngăn chặn một thị trường địa ốc đang sôi sục có nhiều rủi ro "không những chỉ đe doạ ngành tài chánh mà còn làm suy yếu đi sự cạnh tranh lâu dài khi Việt Nam bị các quốc gia láng giềng tranh đua để thu hút đầu tư nước ngoài".
Mức lương bổng gia tăng cũng là "một mối lo ngại quan trọng cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ đang làm ăn ở Việt Nam", và tình hình lao động bất ổn có liên quan trực tiếp đến các khó khăn của nền kinh tế toàn thể.
Từ khi gia nhập Tổ chức Mậu dịch Quốc tế (WTO) hồi tháng Giêng năm 2007, Việt Nam trở thành một thỏi nam châm cho giới đầu tư nước ngoài, bị thu hút bởi mức tăng trưởng nhanh chóng -- trung bình 7.5 phần trăm một năm trong suốt thập niên qua -- và một dân số trẻ trung đầy hăng hái.
Giữa tháng Giêng và tháng Năm, nhà cầm quyền Việt Nam nói rằng họ nhận được 15.3 tỷ Mỹ kim cam kết đầu tư từ nước ngoài, hơn gấp đôi con số cùng thời kỳ năm ngoái. Năm 2007 tổng số nguồn vốn nước ngoài đổ vào khoảng 15 tỷ đô la, đến từ đầu tư trực tiếp ngoại quốc, các danh mục đầu tư và kiều hối gởi về từ người Việt hải ngoại.
Nhưng các nhà kinh tế cho rằng sự tràn ngập của ngoại hối đã gây ra hậu quả làm đảo lộn sự ổn định có thể cản trở việc đầu tư, vì làm mức tín dụng tăng lên quá đáng, khiến lạm phát càng tăng cao hơn. Giá tiêu thụ gia tăng nhanh chóng -- đặc biệt là thực phẩm -- đã gây ra thêm nhiều các cuộc đình công, đôi khi bạo động, vì giới công nhân thấy rằng họ không thể nào tiếp tục có đủ chi phí cho đời sống và đòi hỏi một mức lương cao hơn. Hà Nội nói rằng ngăn chặn lạm phát là ưu tiên hàng đầu của họ, nhưng các nỗ lực để ổn định nền kinh tế bằng cách gia tăng lãi xuất vẫn chưa có tác động gì nhiều.
Ông Pease nhìn nhận rằng giới công nhân "có mối quan tâm chính đáng về khả năng mua bán đang đi xuống với mức lương của họ", nhưng nói rằng nhà nước nên tích cực hơn để ngăn ngừa hoặc giải quyết các vụ đình công bằng cách "giúp đỡ để có một sự thông hiểu tốt hơn giữa các công nhân và ban giám đốc của các xí nghiệp (đầu tư nước ngoài).
Ông cũng gọi tham nhũng là "một trong những thử thách lớn nhất cho sự tiến triển của Việt Nam", và thúc giục nhà nước nên bảo vệ chứ đừng trừng phạt những người lên tiếng tố cáo và các ký giả điều tra các trường hợp tham nhũng.
Hồi tháng trước nhà cầm quyền Việt Nam lại bắt giữ hai nhà báo là những người đã vạch trần một vụ xì-căng-đan có dính dáng đến nhiều cán bộ trong bộ giao thông, chơi cá độ các trận đấu túc cầu Âu Châu bằng ngân quỹ dành cho việc phát triển các cơ sở hạ tầng.
(http://www.ft.com/cms/s/0/60f94ea0-2ff3-11dd-86cc-000077b07658.html)

 

 

Phải thay đổi cơ cấu

Ngô Nhân Dụng

Sau khi đọc tin tức về kinh tế Việt Nam đang tuột dốc, một người bạn kể câu chuyện tiếu lâm đang được người Hà Nội truyền tụng. Kể rằng trong bệnh viện Việt Đức có một người muốn thay toàn thể não bộ để cải lão hoàn đồng. Bác sĩ giới thiệu bộ óc của một nhà khoa học lẫy lừng mới qua đời. Cả nhà bệnh nhân chê vì trông bộ não đã cũ vàng, các nếp gấp méo mó hết, không biết xài được bao lâu. Chắc vì lúc còn sống nhà khoa học suy nghĩ nhiều quá. Lại giới thiệu bộ óc còn mới hơn, của một nhà kinh doanh trẻ bị tai nạn lưu thông. Nhưng gia đình bệnh nhân vẫn chê là nhà tư bản đã sử dụng não thùy bên trái "quá tải," chẳng mấy năm sức sản xuất sẽ đụng trần rồi tụt y như thị trường chứng khoán. Cuối cùng, bệnh viện đưa ra một bộ óc hồng tươi, các nếp gấp còn mới nguyên như thuở thanh niên. Bệnh nhân mừng quá, hỏi: "Óc của ai mà còn tốt như vậy?" Đó là bộ óc của một chuyên gia kinh tế tốt nghiệp một đại học Mỹ danh tiếng!
Bà vợ của nhà kinh tế quá cố giải thích: "Bố các cháu không bao giờ tham nhũng nên cũng không phải mưu mô, kết bè phái với ai cho mệt óc. Chỉ phải cái tội là nghèo, để lại cho vợ con mỗi một bộ óc. Cụ căn dặn rằng khi nào lạm phát lên tới 25% thì phải đem óc cụ bán, óc còn mới sẽ được giá cao, để lấy tiền mà đong gạo. Óc còn tốt vì kể từ khi được vào làm trong Ban Kinh Tế Trung Ương Đảng, bố các cháu chẳng phải làm việc gì hết! Các cụ ở trên có ai cần nghe ý kiến mình đâu mà suy nghĩ cho mệt!"
Gần đây ở Việt Nam có người than rằng Ngân Hàng Nhà Nước (tức ngân hàng trung ương phụ trách chính sách tiền tệ cả quốc gia) thiếu nhân tài. Vì bao nhiêu người có khả năng chạy qua làm các ngân hàng tư nhân cả, ở đó họ được trả lương cao hơn. Nhưng kinh tế là chuyện tiền bạc, không thể đổ lỗi cho các chuyên gia kinh tế tham tiền được! Ngay cả những người không màng đến tiền bạc vì thiết tha đến những mục tiêu cao hơn trong cuộc sống, họ cũng phải được thỏa mãn những nhu cầu tinh thần cao hơn. Ít nhất, họ phải thấy những công trình mình làm, khi "vặn óc" suy nghĩ về các vấn đề kinh tế, tài chánh đề ra những kế sách, ít nhất cũng phải có... người đọc! Nhưng trong chế độ cộng sản, chính trị quyết định hết thẩy, những kế sách hay ho đến mấy mà không phục vụ cho quyền lợi của các quan chức cộng sản thì cũng bị xếp xó. Những người đưa ra các ý kiến nghịch với quyền lợi "các cụ" có thể còn bị trù ểm nữa! Trong cảnh đó, các chuyên gia kinh tế làm sao có thể ngồi suy nghĩ mệt óc, để sau cùng các ý kiến của mình được "xếp hồ sơ lưu" vĩnh viễn? Ai muốn đóng bung xung cho các "tập đoàn kinh tế" của đảng nhà nước bòn rút tài sản của quốc dân?
Trước khi tình trạng kinh tế nguy ngập, rất nhiều chuyên gia kinh tế có tiếng đã công khai góp ý kiến. Các ông Lê Đăng Doanh, Nguyễn Thăng Long ở trong, các ông Vũ Quang Việt, Nguyễn An Nguyên ở nước ngoài đã trình bày các biện pháp ngăn ngừa lạm phát, ổn định kinh tế toàn thể (vĩ mô) từ khi những mầm mống lạm phát mới ló ra. Nhưng không ai thèm nghe! Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản còn lo thu xếp việc tha bổng cho Nguyễn Việt Tiến cho êm thắm để bảo vệ đoàn kết trong đảng; trước khi các cụ bàn việc Nông Đức Mạnh xuống thì ai lên, và ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn bận đánh dẹp các nhà báo, rồi lại lo bảo vệ cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008! Những lúc nhàn rỗi chợt nghĩ đến chuyện kinh tế ông mới ra lệnh tổng công ty đầu tư Vốn của nhà nước đi mua cổ phiếu để cứu các nhà tư bản cháy túi vì thị trường tụt xuống.
Trong khi đó thì tỷ lệ lạm phát nó không đợi. Chín tháng đầu năm 2007, giá cả tăng hơn 7%, báo động đỏ bắt đầu vì các nguồn đầu tư trực tiếp ngoại quốc đang đem vào sau khi Việt Nam được gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Tiền đổ vào đâu thì cũng có nguy cơ thúc cho giá sinh hoạt tăng lên. Các cụ không quan tâm, cứ thấy đô la vào là vui mừng, và vẫn cho các ngân hàng của nhà nước cho các doanh nghiệp của nhà nước vay tiền thoải mái. Tiền đổ vô những cái thùng không đáy này không giúp gia tăng số lượng hàng hóa và dịch vụ, cho nên áp lực lạm phát càng lên. Cuối năm, tỷ lệ lạm phát cả năm lên tới trên 12%. Báo động đỏ bắt đầu, nhưng nhà nước không biết làm cái gì nữa! Tháng Giêng 2008, tỷ lệ tăng lên 14% một năm, Tháng Tư lên 21%, và trong Tháng Năm thành hơn 25%.
Khi vốn đầu tư ngoại quốc vào, cộng với tiền các ngân hàng nhà nước cho doanh nghiệp nhà nước vay đem ra chi tiêu, thì vật giá phải lên. Ngân Hàng Nhà Nước lúc đầu đã không tăng lãi suất, vì muốn bảo vệ các doanh nghiệp nhà nước lúc nào cũng cần vay thêm tiền. Thời ông Phan Văn Khải lập các "tổng công ty" tính bắt chước các chaebol của Nam Hàn, nhưng các cán bộ được cử làm giám đốc không ai biết làm ăn như người Nam Hàn. Thời Nguyễn Tấn Dũng lại lập ra những "tập đoàn kinh tế" to hơn, nhưng tựu chung vẫn là chính sách bảo vệ guồng máy kinh tế trong tay các đảng viên thân cận. Các tổng công ty và tập đoàn tha hồ vay tiền để làm các dự án, tưởng như vậy là kinh tế sẽ phát triển nhanh hơn. Nhưng vay tiền thì dễ, đầu tư có hiệu quả thì khó. Vay rồi không bao giờ trả được, cũng coi như huề cả làng; vì cả ngân hàng và xí nghiệp đều cùng là con cháu các cụ cả! Chỉ có người dân đóng thuế mất tiền thì xót ruột thôi, nhưng người dân đâu có quyền góp ý kiến?
Cùng lúc đó, Ngân Hàng Nhà Nước lại đem tiền Việt Nam đi mua bớt đô la Mỹ trong thị trường, gây ra cảnh số tiền lưu hành bột phát. Nhà nước bèn thay đổi chính sách, thu tiền về bằng cách cưỡng bách các ngân hàng phải mua công trái, tức là cho chính phủ vay với lãi suất rất rẻ! Các ngân hàng thiếu tiền mặt, có lúc đã từ chối không nhận đô la Mỹ để đổi tiền Việt Nam! Ngân Hàng Nhà Nước lại đổi chính sách hối đoái, cho phép đổi đô la theo một giá linh động hơn, chung quanh giá chính thức để cho phép đồng nội tệ được lên ngõ hầu giảm bớt ảnh hưởng của tiền nhập cảng xăng dầu đang lên. Nhưng hậu quả là nhiều người nghi ngờ và lo sợ cho giá trị của đồng bạc Việt Nam. Họ kéo nhau đi đổi lấy đô la. Tất cả hệ thống tài chánh xoay như chong chóng, theo bàn tay múa may lúng túng của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
Những người ủng hộ chế độ thường cãi rằng cả thế giới đang lạm phát, Việt Nam có bị lạm phát cũng là chuyện bình thường. Nhưng điều bất bình thường là giá sinh hoạt ở Việt Nam tăng gấp đôi và gấp ba tỷ lệ ở các nước ngay trong vùng Á Đông. Trung Quốc, Indonesia thấy giá cả tăng 9% là đã lo ngăn gấp rồi, nhưng họ cũng không dám tăng lãi suất quá cao, sợ các hoạt động kinh tế giảm bớt vì khó vay tiền. Riêng ở Việt Nam thì mới có cảnh lúng túng vì hai tai họa xẩy ra cùng một lúc. Một bên thì lãi suất của các ngân hàng tăng vọt lên, bên kia là lạm phát tăng nhanh hơn, lãi suất chay theo cũng không đuổi kịp. Khi lạm phát lên 25% mà ngân hàng cho vay chỉ đòi 15% thì chính các ngân hàng đang chịu thiệt vì lãi suất là số âm!
Các ngân hàng cho vay lấy 14, 15% một năm, không ai dám vay nếu đem tiền về đầu tư mà không sinh lợi được gấp đôi tỷ lệ đó. Những người dám vay chắc hẳn là những người "không sợ súng," vì có những mối đầu cơ tích trữ bảo đảm sinh lời! Trước đây, người ta còn vay để mua nhà, đất và cổ phiếu, nhưng nay các thị trường đó cũng cạn. Người lao động khổ vì đồng lương không đuổi kịp vật giá leo thang, giới trung lưu cũng mang họa vì nhà nước tấp tễnh làm kinh tế tư bản nửa vời, cho chơi trò mua bán chứng khoán. Đầu tuần qua, bỗng dưng thị trường chứng khoán đóng cửa "vì lý do kỹ thuật!" Không biết lý do kỹ thuật nào mà cả thị trường tê liệt mất 4 ngày! Những người tập tành dự trò chơi cổ phiếu đã mất vốn liếng sau khi chỉ số thị trường chứng khoán tụt mất hai phần ba; riêng từ đầu năm tới giờ đã tụt 55%. Cuối cùng chỉ nộp tiền cho những "tay trong" chuyên lũng đoạn, làm giá. Nhiều người Trung Quốc sang Việt Nam kiếm lời trong thị trường chứng khoán, các đồng chí này có kéo nhau tham dự cuộc rước đuốc Olympic 2008 ở giữa Sàigòn!
Bây giờ một công ty tham vấn tài chánh Mỹ, Morgan Stanley phải báo động rằng chính sách tiền tệ của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đang đưa tới một cuộc khủng hoảng ngân hàng ở Việt Nam. Các ngân hàng không đòi được nợ của các xí nghiệp quốc doanh, có thể đưa tới một cuộc khủng hoảng tín nhiệm. Dân Hà Nội xếp hàng trước các cửa hàng đổi tiền ở phố Hà Trưng để mua đô la Mỹ, giá đô la tăng lên. Thị trường chứng khoán mở cửa sau bốn ngày ngưng, giá các cổ phần tụt xuống mặc dầu nhà nước đem tiền của dân ra mua để cứu các nhà tư bản nội hóa.
Chính sách của nhà nước là khuyến khích xuất cảng, nhưng cán cân thương mại năm ngoái đã thâm thủng 14 tỷ Mỹ kim. May nhờ có gần 7 tỷ đô la do người Việt ở nước ngoài gửi về, 6 tỷ đầu tư trực tiếp của người ngoại quốc, và nhờ tiền viện trợ cho nên có đủ 14 tỷ bù vào lỗ thiếu hụt. Năm nay cán cân thương mại sẽ thiếu khoảng 25 tỷ Mỹ kim, gần bằng một nửa Tổng Sản Lượng Nội Địa. Tiền Việt kiều gửi về khó tăng, đầu tư ngoại quốc càng khó tăng khi cả nền kinh tế đang nguy ngập! Không một quốc gia nào trong vùng chịu khốn đốn như vậy.
Nếu đảng Cộng Sản có thay đổi cả chính phủ, thay chức tổng bí thư, cũng không thể thay đổi được cảnh bế tắc về kinh tế. Ngày Thứ Sáu, các ông bộ trưởng Võ Hồng Phúc (kế hoạch và đầu tư), Vũ Văn Ninh (tài chánh), ông Nguyễn Văn Giầu, chủ tịch Ngân Hàng Nhà Nước, được ra trình diễn trong Quốc Hội cho các đại biểu chất vấn. Ông nào ông nấy chỉ tìm cách chối tội, ông Phúc không ngần ngại đổ tội cho Nguyễn Tấn Dũng, vì đã được báo động mà lại bất động! Chỉ có ông Trần Du Lịch, viện trưởng một viện nghiên cứu kinh tế là biết tỏ ý tha tội cho cả ba viên chức cao cấp nhà nước. Ông Trần Du Lịch công nhận là cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay là do "cơ chế kinh tế" tạo ra, cuộc khủng hoảng tiền tệ chỉ là nguyên nhân trực tiếp nhất thời mà thôi.
Vậy thì làm sao để thay đổi cơ chế? Trước hết là phải tước bỏ độc quyền cai trị của đảng Cộng Sản, trong đó có quyền của các cụ lấn áp tất cả các ý kiến chuyên môn về kinh tế. Khi một đảng chính trị già cỗi, cổ hủ, các lãnh tụ chỉ lo bám lấy quyền lực để hưởng lợi, không ai dám quả quyết thay đổi theo cơ chế thị trường đích thật, thì kinh tế sẽ còn sa lầy mãi, khó thoát ra được.
Nguồn:
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=79339&z=7