Tham nhũng gây khủng hoảng không phải là cá nhân mà là cơ chế
Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Phúc Liên, Kinh tế
Trong suốt 6 Bài Quan Điểm viết cho đến nay, chúng tôi đi tìm cái nguyên nhân cốt lõi cho Khủng Hoảng Kinh Tế Tài chánh hiện nay của Việt Nam. Cùng hợp với việc phân tích của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, chúng tôi thấy rằng con Vi trùng chính yếu gây ra Khủng hoảng là Tham Nhũng, Lãng Phí. Đàn Vi trùng này, con lớn, con bé, bò lổm ngổm ăn hại Kinh tế Việt Nam đã nhiều năm qua để kết quả là Kinh tế bệnh hoạn.
Chống tham nhũng không phải là đi bắt hết từng con Vi trùng ấy vì những lý do sau đây:
- Vi trùng Tham Nhũng Lãng Phí nhiều quá bắt không xuể
- Có những con Vi trùng quá lớn, nếu đụng đến nó, có thể mình bị hại. Tỉ dụ hai Nhà báo vừa bị Vi trùng phản công.
Đối với chúng tôi, việc chống tham nhũng lãng phí không phải là đi bắt từng con Vi trùng, mà phải phải tẩy sạch cái môi trường, cái điều kiện đẻ ra những con vi trùng ấy. Chúng tôi muốn nói đến chống Tham Nhũng, Lãng Phí là chống cái Cơ Chế làm phát sinh Vi trùng.
Những phát biểu trong buổi trực tuyến chiều 9/5/2008
09/05/2008 22:46 (GMT + 7) http://www.tuanvietnam.net//vn/tructuyenvoitop/3710/index.aspx
Những người phát biểu trong buổi trực tuyến này chú tâm đến lãnh vực Kinh tế quốc doanh.
Ts. Nguyễn Quang A nêu rõ: "...chúng ta đang đứng trước khó khăn lớn, thể hiện ở vài con số: lạm phát, thâm hụt ngân sách liên tục ở mức cao trong nhiều năm. Nhập siêu liên tục ở mức cao và ngày càng tăng. Xu hướng đó dài cả chục năm, xuất phát từ nguyên nhân sâu xa bên trong. Chúng ta xem những con số đó là điều bình thường mà không nhìn nhận như là dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm để lưu tâm. Đến bây giờ, mọi thứ bục ra. Trong đó, nguyên nhân chủ quan rất quan trọng, thể hiện qua lạm phát. Lạm phát kì này là hệ quả của tình hình rất lâu dài nằm trong cơ cấu kinh tế, hệ thống điều hành của chúng ta."
Ông Nguyễn Trung đúc rút: "Đi vào kinh tế thị trường nhưng cả bộ máy về kiến thức và kinh nghiệm trong kinh tế thị trường nói chung còn yếu. Chính vì lẽ đó, Chính phủ nên có cơ chế, biện pháp khuyến khích những tiếng nói của các chuyên gia am hiểu và có nhiều trăn trở với tình hình. Chuyên gia trong bộ máy nhà nước có nói, nhưng họ khó nói khách quan, độc lập, nhiều khi chiều theo ý mặt này, mặt khác. Rất quan trọng cần tiếng nói của chuyên gia độc lập, không trong bộ máy, không kiềm tỏa bởi vị trí, các chuyên gia trong và ngoài nước, người Việt và người nước ngoài. Làm sao để những người đó mạnh dạn góp ý."
Theo ông Nguyễn Trung, trong chuyện lạm phát "không có bài thuốc tiên nào cả, chung quy 2 việc: tiết kiệm và tăng hiệu quả đầu tư hơn nữa. Tham gia kinh tế thị trường, chúng ta chưa có kinh nghiệm. Bây giờ Thủ tướng, Chính phủ cũng khó ra lệnh cho DNNN chưa nói cả nền kinh tế. Do đó, cần các công cụ thị trường."
Ông Trần Đức Nguyên đặc biệt nhấn mạnh "việc nhà nước cần rốt ráo cải cách mạnh khu vực kinh tế nhà nước. Đây là giải pháp vừa trước mắt, vừa cơ bản lâu dài. Phân tích toàn bộ khó khăn đang phải đối phó, chủ yếu do tác động từ thành phần của các tập đoàn lớn, với những hoạt động trong các lĩnh vực nhạy cảm: chứng khoán, bất động sản... Tác động tiêu cực của tập đoàn kinh tế nhà nước rất rõ."
"Đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật như vậy, không thể nói chung chung", ông Trung nhấn mạnh.
Ông gợi ý, trước mắt phải làm là hãy công khai minh bạch về hoạt động của họ. Phải kiểm toán và công bố kiểm toán hằng năm. Hiện có muốn góp ý kiến cũng khó vì không nắm được họ làm như thế nào.
Ông Trần Đức Nguyên dẫn chứng: "Tôi lấy làm lạ, năm 2006, kiểm toán công bố tỷ lệ lãi trên vốn của Vinashin là 0,42%. Làm sao nuốt nổi 750 triệu USD tiền trái phiếu Chính phủ bán ra nước ngoài, trong khi khoản vay này đã phải chịu lãi suất chính thức đã là 7,5%. Năm sau lại nói Vinashin lãi trên 10%. Hiện nay, bức tranh kinh tế nhà nước rất tù mù, nên biện pháp khó chấn chỉnh. Tất cả các tập đoàn đều có vấn đề, nhưng không ai nắm thực tế họ hoạt động như thế nào. Cần chấn chỉnh nhưng chấn chỉnh như thế nào cần nghiên cứu.
Ông Nguyễn Trung cho rằng:Ềthông tin có thể chưa đủ, nhưng khá nhiều trên báo chí như chuyện ngành than mỗi năm xuất khẩu lậu 10 triệu tấn than, ngành điện để xảy ra thiếu điện, phải cắt điện liên tục trong khi lại có khoản vốn khá lớn đầu tư ngành khác. Không phải tôi dồn mọi vốn liếng, dành cho anh nguồn lực để anh thích làm gì thì làm".
Theo ông Nguyễn Trung, tình hình hiện nay "đòi hỏi cải cách thể chế, hệ thống quản lý, cơ chế quản lý quốc gia đi trước một bước cải cách kinh tế. Cải cách thể chế có đi trước mới hỗ trợ cho phát triển quốc gia".
Ts. Nguyễn Quang A khẳng định: "Muốn phát triển nữa, chắc chắn phải có cải cách về thể chế".
Để đổi mới, Ts. Quang A phân tích: "đổi mới thể chế phải xuất phát từ nhận định lại vai trò đúng của nhà nước là gì. Nhà nước chỉ làm những việc nhà nước phải làm, kiên quyết không làm những việc không phải là của mình. Việc này phải luật hóa thành thể chế. Hiện nay nhà nước đang ôm vào mình quá nhiều việc".
Vi trùng Tham Nhũng, Lãng Phí.
Ăn ruỗng lãnh vực Kinh tế quốc doanh
Những phát biểu trên đây quy tội rõ rệt vào lãnh vực Kinh tế quốc doanh. Vi trùng Tham Nhũng, Lãng Phí không phải là những cá nhân, mà chính là cái Thể Chế, cái Cơ Chế mà đảng CSVN đã chủ trương để từ đó phát sinh ra đàn Vi trùng lúc nhúc con lớn con bé. Thực vậy, cái Thể Chế đó chủ trương:
- Độc Tài Chính Trị: chỉ một mình đảng CSVN cai trị Quốc gia. Không ai có thể phát biểu ý kiến khả dĩ góp phần xây dựng. Nếu có người phát biểu khác với đảng, thì đảng dùng sức mạnh đàn áp, bắt tù tội.
- Độc Quyền Kinh Tế: mặc dù tuyên bố theo Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng trong thực tế, quyền lực Kinh tế nằm trọn trong tay những Công ty quốc doanh điều hành bởi những người thuộc về đảng CSVN.
Hai quyền lực độc đoán này nằm trong tay một người, một đảng. Một Môi trường, một Cơ Chế như vậy, thì không thể nào không có Tham Nhũng, Lãng Phí. Hai quyền lực chung đụng này, nhú nhí, đi đêm Đánh Đĩ với nhau mà lòi ra bầy Vi trùng Tham Nhũng, Lãng Phí. Thực vậy, một người ngồi bên cạnh đống vàng, mà lại có quyền sinh sát, thì vơ đống vàng làm của riêng. Nếu chỉ có quyền Chính trị không mà không có đống vàng bên cạnh, thì không vơ vét được gì. Còn nếu ngồi bên cạnh đống vàng mà không có độc tài Chính trị sinh sát trong tay, thì nếu chốp vàng làm của riêng, sẽ bị người khác đập bể đầu. Phải có hai thứ quyền trong tay, thì mới có thể Tham Nhũng, Lãng Phí.
Cái Môi trường, cái Thể Chế, cái Cơ Chế từ trước đến nay là để Quyền Lực Chính Trị độc tài và Quyền Lực Kinh Tế độc quyền ngủ chung ở một phòng tối u ám, bí mật để hai thứ đánh đĩ với nhau mà lòi ra bầy Vi trùng Tham Nhũng, Lãng Phí.
Vậy việc thay đổi Cơ Chế, thay đổi Thể Chế mà những người tham dự buổi trực tuyến 9/5/2008 phát biểu có nghĩa là trước tiên phải tách rời hai quyền lực ra, đừng để chúng mập mờ ngủ chung trong một phòng u ám. Cứ để hai quyền lực nằm trong tay đảng CSVN, thì thế nào chúng cũng đánh đĩ với nhau mà đẻ ra Vi trùng Tham nhũng, Lãng phí phá hoại Kinh tế Việt Nam lâu dài. Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng cùng chủ trương như vậy: "đổi mới thể chế phải xuất phát từ nhận định lại vai trò đúng của nhà nước là gì. Nhà nước chỉ làm những việc nhà nước phải làm, kiên quyết không làm những việc không phải là của mình. Việc này phải luật hóa thành thể chế. Hiện nay nhà nước đang ôm vào mình quá nhiều việc".
Chúng tôi xin dứt khoát về việc thay đổi Cơ Chế, Thể Chế như sau:
- Tách hẳn quyền lực Chính trị ra khỏi quyền lực Kinh tế. Đây là nguyên tắc Kinh tế Tự do và Thị trường mà những Kinh tế gia Cổ điển Anh quốc như Adam SMITH, David RICARDO, Stuart MILL... đã nhấn mạnh. Nhà Nước chỉ là "Etat Gendarme neutre". Nhà Nước có thể ảnh hưởng đến những sinh hoạt Kinh tế, nhưng dưới phương diện Cung, Cầu như mọi người. Nhà Nước có thể có những Chương trình chỉ đạo, nhưng không được quyền dùng quyền lực Chính trị để bắt Lãnh vực Kinh tế tư nhân phải nhất thiết theo.
- Khi tách rời quyền lực Chính trị ra rồi, thì quyền lực này cũng không được độc tài bởi lẽ trên thực tế, quyền lực Chính trị mà độc tài, thì trước sau gì nó cũng tìm đến Kinh tế mà xâm lấn, mà đánh đĩ. Thực vậy, kẻ độc tài mà thấy tiền bạc, thì ắt nẩy sinh lòng tham sân si. Đây là vấn đề tránh hậu họa trong thực tế.
- Lãnh vực Kinh tế phải để trong tay tư nhân. Việc giải quyết những vấn đề Kinh tế phải theo nguyên tắc Kinh tế, chứ không theo mệnh lệnh Chính trị hay ảnh hưởng Tôn giáo hay Chủng tộc. Quyền tư hữu những phương tiện sản xuất phải được tôn trọng, bảo đảm bởi Pháp Luật được quyết định bởi chính những Tư-hữu-chủ hay Cá nhân chủ Tư hữu. Chính khía cạnh này mà chúng tôi thường khẳng định rằng một nền Dân Chủ thực sự được lớn lên qua ngả Kinh tế. Một thứ Dân chủ chỉ được cấu trúc theo khuôn mẫu những hệ thống suy tư dễ trở thành những phương tiện áp đặt trên đới sống thực của đại đa số quần chúng để một thiểu số làm Chính trị lợi dụng khai thác cho quyền lực.
Ai có thể làm công việc thay đổi Cơ Chế, thay đổi Thể Chế? Chắc chắn không phải là đảng CSVN bởi vì chính đảng này đang cần cơ chế cũ làm môi trường cho bầy Vi trùng Tham Nhũng, Lãng Phí sống. Vì vậy việc Hòa Hợp Hòa Giải với bầy vi trùng này chỉ là ảo tưởng. Chỉ có đại đa số Dân chúng đang là nạn nhân của Cơ Chế này mới có thể lật hẳn lại Cơ Chế. Chúng tôi nói lật hẳn Cơ Chế bởi lẽ nếu còn để dây dưa, thì từ cái Môi trường dây dưa này, những con Vi trùng Tham Nhũng, Lãng Phí lại có cơ hội tái sinh, đẻ thêm con cháu. Đây là vấn đề tương lai Kinh tế bền vững và lâu dài.
Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Phúc Liên, Kinh tế
Tự do tôn giáo vẫn là vấn đề nhức nhối cho Việt Cộng
Lý Đại Nguyên
Nhằm lấp liếm đi những hành vi đàn áp tôn giáo, tiêu diệt đối lập, vi phạm nhân quyền, Việt cộng đã đăng cai tổ chức Đại Lễ Vesak 2008 của LHQ. Nhưng không sao che mắt được Thế Giới. Trước khi Đại Lễ Phật Đản khai diễn từ ngày 13 đến 17/05/2008, thì Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ ngày 03/05/08, đã kiến nghị Bộ Ngoại Giao Mỹ, nên ghi tên Việt Nam trở lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt - CPC - Theo Ủy Ban này: "Hà nội đã không giữ các cam kết về tôn trọng quyền tự do tôn giáo. Còn hệ thống luật pháp, bộ máy tư pháp của Việt Nam thiếu minh bạch và độc lập."
Ngày 09/05/08, tổ chức Human Rights Watch, phê phán Việt Nam vẫn giam giữ Phật Tử trong lúc chuẩn bị tổ chức Đại lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc. Theo họ ở Việt Nam hiện nay vẫn có "hơn 400 người bị giam vì các hoạt động tôn giáo và chính trị một cách hòa bình."
Ngày 10/05/08, 51 nhân vật quốc tế, như Giải Nobel Hòa Bình, Giám Mục Thiên Chúa Giáo, Giáo Sĩ Do Thái Giáo, Tu Sĩ Phật Giáo, Tin Lành, Dân Biểu, Nghị Sĩ Hoa Kỳ, Châu Âu, cùng những nhà lãnh đạo các tổ chức nhân đạo quốc tế đã gửi thư đến nhà cầm quyền Hà nội, đòi chấm dứt mọi sự đàn áp nhắm vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Trong thư viết: "Nhân dịp Đại Lễ Phật Đản LHQ, chúng tôi kêu gọi quý ông hãy chấm dứt mọi đàn áp đối với GHPGVNTN, trả tự do cho Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, và phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của GHPGVNTN. Bằng động thái đó, quý ông sẽ tái lập ý nghĩa đích thực cho Ngày Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc, và tôn vinh 2000 năm truyền đăng nền Phật Giáo Việt Nam."
Tuy Đại Lễ Vesak 2008 của LHQ được nhà cầm quyền Việt Cộng đứng ra tổ chức trình diễn linh đình tại Hà nội, làm nức lòng những Phật Tử, và dân chúng Miền Bắc, vì từ ngày cộng sản nắm quyền đến nay, họ chỉ có phá chùa, bắt sư, tẩy não Phật Tử chứ không bao giờ cho phép tổ chức lễ Phật. Nay đảng và nhà nước Việt cộng bỗng "phát tâm" mừng lễ Phật Đản, nên dân chúng đã hân hoan kéo nhau về tham dự, nhưng chỉ được đứng ngoài hội trường, không thể hòa mình trong buổi lễ. Còn ở các điạ phương Miền Nam thì cho tổ chức rất giới hạn và được kiểm soát nghiêm ngặt, nhất là những nơi có Ban Đại Diện GHPGVNTN. Đặc biệt là tại Thanh Minh Thiền Viện, Sàigòn, nơi ở của Ngài Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, thì "nội bất xuất, ngoại bất nhập". Công bằng mà nói: "Nếu không có cuộc trường kỳ vận động cho Tự Do Tôn Giáo và đòi phục hoạt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất dân lập, do 2 Ngài Huyền Quang, Quảng Độ lãnh đạo Tăng, Ni, Phật Tử trong, ngoài nước, cùng đứng lên tranh đòi và được dư luận toàn thế giới hậu thuẫn, thì Việt Cộng đâu có cần phải tổ chức Đại Lễ Vesak. Khi một chế độ vô thần đã phải bỏ công của ra để làm một lễ hội tôn giáo, có tính quốc gia của quốc tế, nhằm tôn vinh đấng Giáo Chủ của một tôn giáo, thì dù với bất cứ thứ lý do nào, hoặc bất cứ âm mưu đen tối cách mấy, thì trên thực tế, họ đã phải đầu hàng trước sức mạnh tinh thần tôn giáo rồi."
Sau khi lễ Phật Đản LHQ kết thúc, thì một cuộc đối thoại song phương Việt - Mỹ về vấn đề nhân quyền khai diễn vào ngày 29/05/08. Đây là một cuộc đối thoại mà phái đoàn của Mỹ đã có những cuộc thảo luận, lắng nghe những ý kiến của phía Người Việt Tỵ Nạn tại Hoa Kỳ. Tất nhiên, nhu cầu nhập nội Việt Nam của Mỹ là ưu tiên hàng đầu, nên Mỹ đã phải "mắt nhắm, mắt mở" rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC. Nhưng nay, không vì vậy, mà Việt Cộng có thể lẩn tránh mãi được vấn đề Tự Do Tôn Giáo, vì chính giới và dư luận Mỹ rất quan tâm về vấn đề nhậy cảm này. Về phía Tòa Thánh Vatican cũng đã phổ biến tin tức là sẽ có một phái đoàn Vatican viếng thăm Việt Nam vào tháng 6/08. Theo tin này, vấn đề tài sản của Giáo Hội Công Giáo, như Tòa Khâm Sứ, Thánh Địa La Vang, Giáo Hoàng Học Viện sẽ được đặt ra. Từ ngày 18/12/2007 tới nay, phong trào đòi Việt Cộng trả lại tài sản của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vẫn tiếp tục nổ ra. Mặc dầu có sự can thiệp của Hồng Y Tarcisio Bertone, Bộ Trưởng Ngoại Giao của Tòa Thánh, nên các vụ tập họp của Giáo Dân trước tòa Khâm Sứ Hà nội mới chấm dứt, nhưng cho tới nay chính phủ vẫn chưa có một hành động nào để thực hiện lời hứa sẽ trao trả tài sản này lại cho Giáo Hội. Trái lại nhiều vụ phản kháng tương tự về tài sản trước đây thuộc quyền sở hữu của Giáo Hội cũng lại xẩy ra tại các giáo phận khác như ở Hà nội, Hà Đông, Sàigòn và Vĩnh Long.
Khi tòa thánh Vatican chưa thiết lập bang giao toàn diện với Việt Nam, thì Việt Cộng chưa có lý do chính đáng để trao tòa Khâm Sứ cho Tòa Thánh, còn việc bảo trả lại tòa Khâm Sứ cho Địa Phận Hà nội, thì tất cả các đất đai của Giáo Hội Thiên Chúa ở Việt Nam đều phải trả lại hết, làm vậy Việt Cộng đâu chịu thấu. Mà không trả thì giáo dân có lý do chính đáng để đấu tranh hoài. Trói được Hội Đồng Giám Mục và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam trong Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo, đặt dưới quyền điều khiển của Mặt Trận Tổ Quốc, làm công cụ cho Cộng Đảng, tưởng như thế là đã yên, khỏi lo về việc đấu tranh đòi tự do của một tôn giáo có tổ chức quy mô, có tầm vóc quốc tế. Nhưng nay, vì vấn đề tài sản, mà tạo thành các cuộc biểu tình đòi công lý, thì đâu cũng vào đấy. Còn nếu tòa thánh Vatican vội thiết lập bang giao với Việt Nam, trong lúc Việt Cộng còn duy trì thứ Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo quái đản trên, thì Vatican đã trao con cái mình cho quỷ sứ rồi vậy. Một tôn giáo có chiều dầy gần Hai Ngàn Năm trên hoàn vũ, đâu có vội làm như thế.
Đã đến lúc Hà nội phải giải quyết dứt điểm về vấn Tự Do Tôn Giáo ở Việt Nam, bằng cách hủy bỏ Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo do Thường Vụ Quốc Hội tạo ra, thay vào đó bằng những bản Hiến Chương do chính mỗi Giáo Hội đệ trình trước Quốc Hội, được Dân Biểu thảo luận công khai và biểu quyết thành Luật, để Giáo Hội đó có trách nhiệm thực thi, để cho Chính Quyền có tránh nhiệm bảo vệ, và Tòa Án có trách nhiệm giải thích khi bị vi phạm. Lẽ đương nhiên Quốc Hội sẽ không chấp thuận những bản Hiến Chương có tính cách Tà Quái, Phi Luân, Bạo Hành... Có như vậy mới giải quyết được vấn đề Tự Do Tôn Giáo một cách êm đềm, mới huy động được sức mạnh tâm linh của các tín đồ mọi tôn giáo vào việc chấn hưng đạo đức, lành mạnh hóa xã hội, và mới huy động được nội lực dân tộc vào công cuộc dựng nước, giữ nước, trong tiến trình toàn cầu hóa, mà các thế lực quốc tế đen tối vẫn còn đầy rẫy.
Lý Đại Nguyên
Cần chiếm cảm tình của người dân!
Trần Hùng
Tuần qua, tờ International Herald Tribune có đăng một bài viết của phân tích gia Matt Bai nói về những quan điểm chính trị của thượng nghị sĩ John McCain. Trong mùa tranh cử hiện nay ở Mỹ, việc báo chí luôn loan tin và đề cập đến quan diểm của các ứng cử viên là chuyện rất bình thuờng. Trên các phương tiện truyền thông khắp thế giới, ngày nào cũng có nhiều tin tức đề cập đến hoạt động của các ứng viên thuộc đảng Dân Chủ, cũng như của ông John McCain, ứng viên của đảng Cộng Hoà trong cuộc chạy đua vào toà Bạch -c lần này. Tuy nhiên, bài viết của ông Matt Bai khiến cho một số người Việt chú ý vì có đoạn nói rằng "khoảng thời gian ngồi tù ở Bắc Việt đã ảnh hưởng sâu sắc tới quan điểm chính trị của thượng nghị sỹ John McCain". Người ta muốn biết hoàn cảnh của ông trong nhà tù Việt cộng khắc nghiệt ra sao, và nó đã khiến ông có quan điểm chính trị đặc biệt như thế nào?.
Thời chiến tranh Việt Nam, ông John McCain là một phi công của hải quân Hoa Kỳ, phục vụ trên hàng không mẫu hạm Forrestal. Ông đảm nhiệm nhiều phi vụ oanh tạc những địa điểm quân sự ở miền Bắc Việt Nam. Cuối năm 1967, phi cơ của ông bị bắn hạ trên không phận Bắc Việt. Ông bị thương, bị bắt và bị giam giữ trong những điều kiện khắc nghiệt của nhà tù Hoả Lò ở Hà Nội trong vòng 5 năm rưỡi. Sau khi hiệp định Paris 1973 ký kết, ông được Việt cộng trao trả cho Hoa Kỳ. Ông giải ngũ năm 1981 và bắt đầu sự nghiệp chính trị khi được bầu làm dân biểu liên bang năm 1982. Sau 2 nhiệm kỳ dân biểu, ông được bầu làm thượng nghị sỹ năm 1985, và liên tiếp được tái nhiệm cho đến nay. Năm 2002, ông ra tranh chức ứng viên tổng thống của đảng Cộng Hoà, nhưng bị thua ông George W. Bush. Năm nay, ông ra tranh cử một lần nữa, và nhanh chóng đạt đủ số phiếu để trở thành ứng cử viên chính thức của đảng Cộng Hoà.
Trong thời gian ở tù Việt cộng, ông John McCain đã bị đối xử rất tồi tệ. Ông cho biết đã bị hành hạ, tra tấn trong lúc vết thương của ông gây ra lúc rớt máy bay vẫn chưa lành. Tuy vậy, sau này, ông không buông lời đả kích nặng nề những kẻ đã từng hành hạ ông. Trong khi đó, cuộc đời chính trị của ông John McCain dính líu nhiều đến những vấn đề Việt Nam, và nhiều việc có vẻ trái ngược với nhau. Người ta nói rằng ông từng tán đồng hoặc cổ võ cho việc chính phủ Clinton hủy bỏ cấm vận Hà Nội vào đầu năm 1994. Sau đó, trong một cuộc viếng thăm Việt Nam, ông lại chỉ trích cộng sản là "Những kẻ tồi tệ đã thắng cuộc chiến". Đến mùa hè 2005, ông lại là người chủ tọa bữa ăn tối thết đãi thủ tướng CSVN Phan Văn Khải ở Hoa Thịnh Đốn, và bị một cựu chiến binh Mỹ tạt rượu vang, lên án là "kẻ phản bội"...
Bài này không nhắm đến việc nhận định về quan điểm hay thành tích của ông John McCain, mà chỉ muốn đề cập đến câu nói của ông qua lời tường thuật của phân tích gia Matt Bai. Ông này viết rằng, khác với những cựu chiến binh Việt Nam khác, ông John McCain "co? thê? ca?m thâ?y căm thu? như?ng ke? đã giam câ?m mi?nh, nhưng không thu? ghe?t như?ng ngươ?i la?nh đa?o đa? đâ?y li?nh My? va?o cuô?c chiê?n". Ông McCain nói thêm rằng "Ba?i học lơ?n nhâ?t ma? nhiê?u cư?u chiê?n binh My? có thể ru?t ra ta?i Viê?t Nam la? ngươ?i ta không thê? thă?ng cuô?c chiê?n chi? bă?ng su?ng đa?n, bă?ng viê?c ke?o da?i chiê?n tranh hay tăng quân, mà cu?c diê?n chỉ có thể thay đổi khi người ta biết chuyê?n sang việc chiê?m ca?m ti?nh cu?a ngươ?i dân miê?n Nam Viê?t Nam".
Nói về chiến tranh Iraq hiện nay, ông McCain khă?ng đi?nh ră?ng "chiê?n di?ch tăng quân va? chi?nh sa?ch chô?ng nô?i dâ?y mơ?i cu?a Hoa Ky? đang mang la?i kê?t qua? vi? no? dư?a trên tha?nh phâ?n cơ ba?n la? chiê?m ca?m ti?nh cu?a ngươ?i dân".
Trong cả 2 câu tuyên bố trên, ông McCain đều nhấn mạnh đến yếu tố tranh thủ nhân tâm mà không đề cao sức mạnh của võ lực. Điều này cho thấy ông rất khôn ngoan, biết nhìn ra cốt lõi của mọi sự việc, mà từ xưa đến nay bất cứ một nhà lãnh đạo nào cũng cần nắm vững trong thuật trị nước. Ngay từ thời Chiến Quốc bên Tầu, nhà binh pháp Tôn Tử cũng đã từng nói: "Đạo là chỉ việc chính trị, đạo nghĩa, phải đáp ứng nguyện vọng của dân chúng". Điều này cho thấy, lòng người luôn luôn là yếu tố quyết định cho việc thành bại của mọi việc.
Ý niệm nói trên trong những thế kỷ gần đây lại được cách mạng thêm một bước, minh định vai trò của người dân là làm chủ đất nước. Đó là ý niệm căn bản của thể chế "dân chủ", hiện được coi là khuôn mẫu cho nhiều quốc gia, giúp ổn định xã hội, tạo hạnh phúc cho người dân và làm cho đất nước được phồn thịnh.
Tuy nhiên, muốn dân chủ mang lại những thành quả tích cực như trên, phải luôn luôn có những điều kiện ràng buộc chặt chẽ, chứ không phải chỉ xử dụng nó như một câu khẩu hiệu để tuyên truyền. Làm như vậy, chắc chắn thất bại như người ta thấy ở Việt Nam hiện nay.
Chế độ cộng sản dùng hai chữ "dân chủ" như một chiêu bài để mỵ dân. Họ muốn tạo cảm giác người dân làm chủ nên đã tạo ra nhiều bộ phận gắn liền với hai chữ nhân dân. Họ đặt ra công an nhân dân, quân đội nhân dân, toà án nhân dân, thậm chí cả chính quyền nhân dân... nhưng tất cả chỉ là hư danh. Cái quan trọng, đồng tiền liền khúc ruột, thì người ta chỉ thấy có... ngân hàng nhà nước!.
Đó là những điều phi lý đầy rẫy dưới chế độ Việt cộng. Hơn 30 năm sau ngày chính quyền cộng sản được dựng lên trên cả nước, dù họ đã thực hiện nhiều thay đổi trong lãnh vực kinh tế, nhưng về phương diện chính trị, tự do dân chủ vẫn hoàn toàn vắng bóng. Và ngay cả khi lãnh vực kinh tế đã có nhiều cải tiến, chiều hướng tiến triển của nó vẫn không nhắm đến việc phục vụ cho quyền lợi của quần chúng bình dân.
Trước hết là thành phần nông dân chiếm đến 80% dân số cả nước. Người nông dân ở 2 vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long vẫn canh tác như tổ tiên của họ từ nhiều thế kỷ trước, vẫn là cảnh con trâu đi trước, cái cầy theo sau. Khi thế giới lên cớt sốt gạo tăng giá từ vài tháng qua, nạn nhân không phải chỉ là giới tiêu thụ ở Âu hay ở Mỹ, mà còn có cả nông dân Việt Nam, bởi vì họ không hề được thêm một đồng nào từ giá gạo tăng, mà lại phải chi nhiều thêm cho phân bón, thuốc sâu, tiền lời ngân hàng... Làm oằn lưng không đủ ăn, chưa kể ruộng đất còn có thể bị cường hào ác bá cướp đi bất cứ lúc nào. Chủ tịch hội Khoa Học Phát Triển Nông Thôn Việt Nam đã phải kêu lên: "Nông dân đang là bộ phận yếu thế nhất trong xã hội!". Trước tình trạng này có nhiều người thắc mắc, như vậy việc gạo tăng giá làm lợi cho ai?. Chuyên gia kinh tế cao cấp của Việt Nam Lê Đăng Doanh nói rằng: "có người tích trữ cả ngàn tấn, rồi bán ra trong mấy ngày thu được 2 tỷ đồng tiền lời". Không thấy ông Doanh nói rõ hơn ai là người có khả năng đầu cơ tích trữ dưới chế độ cộng sản.
Thành phần quần chúng đông đảo kế tiếp là giới công nhân. Công nhân Việt Nam cũng bị bóc lột không kém. Với lương tháng không đủ mua một tạ gạo, họ còn bị chèn ép, đối xử tàn tệ, mất nhân phẩm, nên để đòi hỏi quyền lợi của mình, họ đã phải xử dụng "vũ khí" cuối cùng là đình công. Năm 2007 trên cả nước đã có trên 1.600 vụ đình công. Năm nay, có chiều hướng gia tăng, và nhiều trường hợp xô xát, bạo động đã xẩy ra. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhận định rằng tình trạng này "ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và đe dọa bất ổn xã hội!".
Chưa hết. Mức sống của người dân đã cực khổ vì nạn vật giá gia tăng do lạm phát leo thang, lại còn điêu đứng hơn vì nạn tham nhũng hoành hành khắp mọi nơi. Ngày nay người ta không mất thời giờ tìm hiểu về nạn tham nhũng, góp ý về việc bài trừ tham nhũng hay đi nghe nhà nước kêu gọi diệt tham nhũng nữa, bởi vì mọi người đều biết rằng tham nhũng gắn liền với chế độ độc tài. Còn cơ chế này là còn tham nhũng. Họ chẳng những bóc lột người dân, mà lại còn rút tỉa những ngân khoản viện trợ của ngoại quốc, khiến cho các quốc gia cấp viện phải tìm cách ngăn ngừa. Bản tin của Ngân Hàng Thế Giới vừa cho biết, hội nghị của nhóm các nhà tài trợ cho Việt Nam diễn ra vào tuần lễ đầu tháng 6 sắp tới sẽ đặc biệt thảo luận về công tác chống tham nhũng của nhà nước CSVN.
Xem như vậy, nhà nước này đang làm ngược lại những gì mà những nhà chính trị khôn ngoan từ xưa đến nay đều phải tránh. Họ không cần tranh thủ nhân tâm, bất chấp nguyện vọng của quần chúng. Lẽ ra, có nhiều điều họ cần phải học hỏi ngay ở người cựu tù John MacCain mà họ đã từng giam giữ và hành hạ vậy!.
|