Kinh tế Việt Nam - Nghèo túng cơ cực
Roger Mitton
(Straits Times 28-5-08)
Nguyên Hân chuyển ngữ
Hànội - Chuyện đã từng xảy ra trước đây.
Những năm đầu của thập niên 1990, có một sự háo hức, sôi nổi khi sự đổi mới kinh tế của Việt Nam được kích hoạt. Sau hằng chục thập kỷ đi theo con đuờng cộng sản chính thống đã làm cạn kiệt cả một quốc gia, sự thay đổi này nhằm tiến về những chính sách hướng đến thị trường tự do đã có một tác động đáng ngạc nhiên. Mức sống căn bản được biến đổi và một đoàn những nhà đầu tư ngoại quốc, nhìn vào thị trường mới gồm gần 80 triệu người dân, đã ồ ạt nối đuôi nhau bước vào.
Nhưng những ầm ĩ lúc đầu này bỗng trở nên eo xèo ngay sau đó. Nạn quan liêu, tham nhũng, cảm tính chống người ngoại quốc có tính cục bộ cũng như sự nặng nề, cứng nhắc của bộ máy quan liêu đã làm cho nhiều người đầu tư ngoại quốc ra đi. Bỏ băng cái đoạn giữa để nhìn vào hiện trạng hôm nay khi những yếu tố tương tự vẫn còn đó, lại chồng chất lên trên hết là sự quản trị kinh tế nghèo nàn, đã làm lu mờ hình bóng của một thằng nhóc mới ra lò được quảng cáo rầm rộ của vùng Á châu. Đời sống đang khốn khổ ở Việt Nam và ngày càng khốn khó hơn. Và hầu hết mọi người cảm nhận rằng những biện pháp của nhà nước đưa ra là hơi ít ỏi, hơi trễ tràng.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển của Hà Nội nói: "Lý do chính làm cho nền kinh tế đi xuống dốc là vì chính sách kinh tế của nhà nước kém cỏi và không thống nhất cùng nhau."
*Viễn cảnh tối tăm: tháng tới đây khi nhà nước bỏ chính sách bù lỗ cho nhiên liệu và các nhu yếu phẩm khác, tỉ lệ lạm phát có thể tăng cao hơn mức 30 phần trăm.
Việt Nam hiện đang có tỉ lệ lạm phát tệ lậu nhất trong vùng Đông Á. Mới tháng rồi, lên tới 21.4 phần trăm. Sự thâm thủng mậu dịch, ước tính sẽ lên tới 25 tỉ đô-la trong năm nay, đã đặt Việt Nam nằm cuối dưới đít danh sách so với những nước khác trong vùng.
Ts. A nói: "Nhà nước luôn luôn nói rằng sự thặng dư của hàng nhập cảng so với hàng xuất cảng là chuyện thường. Nhà nước tập chú qúa nhiều để đạt mức tăng trưởng cao mà không để ý đúng mức phẩm chất của sự tăng trưởng."
Sự thiển cận đó đã đưa đến sự mất cân bằng lợi tức triền miên, công nhân nhà máy và ngay ở vùng thôn quê cho rằng cho dù họ có thể có đồng lương cao hơn chút đỉnh, nhưng mức sống của họ lại xuống cấp. Như là một hệ qủa, điều đó đã làm cho Việt Nam điêu đứng vì một loạt đình công ngày càng leo thang.
Mới hôm thứ Năm tuần rồi, gần 7,000 công nhân ở một nhà máy sản xuất giày do Đài Loan làm chủ ở Hải Phòng đã đình công đòi hỏi tăng lương và bớt giờ làm việc. Một tuần trước đó, 3,000 công nhân đình công ở một hãng chuyên về chất dẻo (bao bì) do Trung Quốc làm chủ nằm ở phía Bắc Hà Nội. Và vùng trung tâm kỹ nghệ quanh thành phố Sàigòn đã đình công hầu như hằng tuần.
Lương công nhân nhà máy thường là 55 đô-la một tháng. Họ nói rằng họ không thể sống nổi với đồng lương chết tiệt như thế khi mà gía thực phẩm và nhiên liệu tăng ở mức 30 phần trăm và còn tiếp tục tăng nữa. Về phần thị trường chứng khoán của Việt Nam, nó hiện là thị trường làm ăn tệ hại nhất thế giới hiện nay và đã giảm 63 phần trăm gía trị cổ phần kể từ năm rồi.
Ông Phan Hồng Quân, sếp của Europe Capital Securities ở Hà Nội nói: "Lý do làm cho thị trường chứng khoán xuống dốc là vì chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước đưa ra đã qúa liều lĩnh và bất nhất."
*Lực lượng thợ thuyền, dân lao động chân lấm tay bùn khốn đốn nhất với nạn lạm phát phi mã đang xảy ra ở Việt Nam.
Ông Jonathan Pincus, kinh tế gia thâm niên của Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc đặc trách Việt Nam nói rằng: "Vấn đề của Việt Nam tồi tệ hơn những nước láng giềng của họ, bởi vì nguyên tắc tài chính bị sai sót trong năm 2007 và nó đòi hỏi nhiều thời gian để sửa chữa hơn là người ta tuởng."
Và trong một nước cờ đáng ngại, công ty chuyên đánh giá Standard and Poor's của Hoa Kỳ mới đây đã hạ thấp triển vọng nền kinh tế Việt Nam xuống con số âm từ ổn định vì những quan tâm về sự quản trị nền kinh tế vĩ mô.
Có lẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên, nếu những quan tâm đó dường như làm cho ông nhà nước ngạc nhiên. Vì nói gì thì nói, đất nước này đã và đang hưởng và khoái trá với gần như một thập niên tăng trưởng hằng năm ở mức 8 phần trăm cơ mà. Người tiêu thụ trẻ của đất nước này đã hăm hở đi theo cái triết lý "tiêu trước, trả sau", ầm ầm chạy theo xe gắn máy đời mới Piaggio, phone cầm tay Nokia và áo quần hiệu. Và khó mà đổ lỗi cho họ, vì chính ông nhà nước cũng tiêu xài như nước, tưởng chừng như không có ngày mai.
Một cách đương nhiên, là sự gia tăng tỉ lệ lạm phát và tháng Mười Một năm rồi nó tăng lên thành hai số. Ngay lúc đó, nhà nước cứ khăng khăng cho rằng mọi cái đều nằm trong sự kiểm soát và chẳng mấy chốc nhà nước sẽ níu sự lạm phát lại cùng lúc duy trì sự phát triển ở mức 8 đến 9 phần trăm.
Cái niềm hy vọng đó tan thành mây khói chẳng lâu ngay sau đó và nhà nước giờ đây đã giảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế xuống còn 7 phần trăm. Ít ai tin rằng mục tiêu đó sẽ đạt được trong năm nay. Tháng tới, khi nhà nước không còn bù lỗ nhiên liệu và các nhu yếu phẩm khác, tỉ lệ lạm phát được dự đoán sẽ tăng trên 30 phần trăm. Cũng chẳng trông mong gì nhiều cái thị trường chứng khoán kia sẽ hồi sinh hoặc là thâm thủng mậu dịch sẽ bớt đi trong tương lai gần. Ông Pincus nói: "Sự thâm thủng mậu dịch của Việt Nam trong ba tháng đầu trong năm nay là 11 tỉ đô-la. Trên căn bản tính toán dựa vào hằng năm, đó sẽ là 40 phần trăm của tổng sản lượng nội địa (GDP).
Thị trường quốc tế lo ngại là Việt Nam không có khả năng tài trợ sự thâm thủng này với con số lớn như thế, và như là hệ quả, đồng bạc trong nước, là tiền tệ với đơn vị "đồng" hiện đang mất giá."
Nhà nước cộng sản đang cầm quyền cũng cùng chung số phận, cũng đang mất giá. Ngày càng có nhiều người nhận thức rằng chính sự quản trị kinh tế tồi tệ và những chính sách "trống đánh xuôi kèn thổi ngược" đã đưa đến cuộc khủng hoảng ngày hôm nay.

*Nạn nhân đầu tiên của sự quản trị kinh tế tồi tệ và những chính sách "trống đánh xuôi kèn thổi ngược" là dân mạt hạng cùng đinh buôn thúng bán bưng...
Những nhà báo trong nước bạo gan, tuồng như đi gần với đại chúng hơn là đảng cộng sản, đã đi những bài báo bày tỏ sự bất bình bằng một ngôn ngữ ngày càng đanh thép. Mới tuần rồi, tờ báo bán chạy nhất nước là nhật báo Thanh Niên đã chỉ trích cái mà họ cho là những người lãnh đạo đảng đã không có một ý niệm gì ngay trong lúc hỗn loạn kinh tế ngày càng tăng.
Bài báo nói toạt móng heo: "Bơm sự tăng trưởng lên 8 hay 9 phần trăm để ăn được cái giải gì khi đời sống người dân ngày càng tồi tệ và người nghèo lại càng nghèo hơn?"
Hôm đầu tháng rồi, Thông Tấn Xã Việt Nam xưa nay vốn đi luồng bên phải đã cho đi tít in đậm trong trang đầu làm xôn xao dư luận khi bài báo đổ dầu vào lửa chuyện đồn đại được bàn ra tán vào là chuyện khả năng tồn tại của chính phủ do ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cầm đầu. Bài báo, cũng được đăng lại trên các báo khác ở Việt Nam, nói rằng Bộ chính trị, là cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam đang cầm quyền, đã cho những lời cố vấn về mặt kinh tế. Điều đó đã gây nên chuyện đồn đại là chuyện này cưu mang cái ý nghĩa gì đây cho ông Dũng và cái ê-kíp của ông khi bị Bộ chính trị chỉ tay năm ngón bảo phải làm gì.
Nói chung người ta cho rằng Bộ chính trị được tách ra làm hai nhóm giữa những người ủng hộ phương cách tiến gần với cộng đồng quốc tế của ông Dũng và những người có khuynh hướng hướng nội hơn, như ông tổng Nông Đức Mạnh.
Trước khi sự rối loạn kinh tế này xảy ra, Thủ tướng Dũng trông vững như bàn thạch. Nhưng giờ đây dường như cái uy thế của ông có thể bị xói mòn nếu nền kinh tế bệnh hoạn của Việt Nam không khá hơn trong một tương lai gần đây.
Người nhà quê
Hưng Yên
Hình như ít có người thích nhận mình là người nhà quê, bởi vì cứ nghe thấy hai tiếng "Nhà Quê" thôi là người ta đã hình dung ra: Nếu là một anh chàng thì vai u, thịt bắp, mồ hôi dầu, mặt mũi "cù lần lửa", nói năng ấp a ấp úng chả ra làm sao! Còn nếu là một cô nàng thì đầu bù tóc rối, có khi còn... toét mắt, thối tai, chân tay mốc thếch khiếp chết đi! Cứ tưởng tượng ra như thế nên người ta ngại, dù có "nhà quê" thật đi chăng nữa mà khi được hỏi tới thì cũng cố nói sao cho thiên hạ tưởng mình là người thành thị cho nó văn minh như người ta.
Tôi là một anh chàng chẳng những đã "Nhà Quê" lại còn có cái tật thích nhận bà con. Vào Nam mới lấy vợ. Bà xã tôi cũng Bắc Kỳ "ri" cư như tôi, quê quán Nam Biên, Duyên Mậu Ninh Bình. Nghe nhạc mẫu tôi nói thế thì tôi biết thế chứ tôi có biết Nam Biên nó ở chỗ nào trên đất nước Việt Nam đâu. Có hỏi thì bà xã tôi cũng chỉ mù mờ, bởi ngày còn ở ngoài Bắc bà ấy còn... bé tí. Tuy không biết tí gì về quê vợ, nhưng tôi vẫn cứ dặn bà xã: "Ra đường gặp ai người Nam Biên, Duyên Mậu em cứ mời về nhà ăn cơm, vì anh coi tất cả những người cùng quê với em đều là bà con cả!" Quý vị ngạc nhiên à? Thế quý vị chưa nghe câu: "Khi yêu, yêu cả đường đi, khi ghét, ghét cả tông chi họ hàng" hay sao? Bởi vì tôi rất yêu bà xã nên tôi nhận tất cả những người cùng quê với nàng là bà con chứ có gì lạ đâu?
Mặc dù tính tôi rất thích nhận bà con như vậy, thế mà một lần tôi đã phải nói thật vì sợ lỡ "mình bị nhận lầm" là bà con thì vỡ mặt!
Mới ở tù cải tạo về, nghèo rớt mồng tơi, bạn bè, anh em ngày xưa phiêu bạt đi đâu mất cả, cầu gặp được một người thân cho nó "có vây, có cánh". Một hôm nghe mấy ông mấy bà người "Bắc Kỳ" đứng nói chuyện với nhau, nhân cũng đứng đó, tôi mới lên tiếng hỏi một ông trông ra vẻ cán bộ: "Thưa ông, thế ông quê ở đâu ạ?" Ông ta mau mắn trả lời: "Tôi ở Hà - Lội", thế ông cũng người Hà "Lội" à?" Tôi vội nói thật: "Dạ không, tôi người nhà quê!" Trả lời xong, tôi lỉnh!
Tôi là một anh Bắc Kỳ rặt, Bắc Kỳ 9 nút (1954) và quê thật là quê. Làng tôi là làng Viên Tiêu, thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Từ làng lên tỉnh đường xa bốn cây số. Muốn lên tỉnh phải đi trên một khúc đê sông Hồng rồi rẽ vào Phố Hiến, qua khỏi Phố Hiến là tới trung tâm tỉnh. Câu: "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến" để chỉ sự phồn vinh và đông vui của Phố Hiến là từ đời nảo, đời nào ấy, chứ đến đời tôi thì Phố Hiên tiêu điều và cũ kỹ lắm rồi!
Khác hẳn với những ký ức về Hưng Yên và Phố Hiến, cũ kỹ điêu tàn, hình ảnh làng quê vẫn luôn luôn ngời sáng trong tôi. Viên Tiêu, một làng quê nhỏ bé, đếm cả làng không biết có được đến một trăm nóc gia hay không nhưng được chia làm bốn xóm: Xóm Trên, Xóm Giữa, Xóm Dưới và Xóm Ngoài. Nhà ông bà nội tôi và dĩ nhiên cũng là nhà tôi ở Xóm Dưới. Vết tích chiến tranh chỉ trên tỉnh và Phố Hiến mới thấy chứ ở nhà quê thì không. Làng tôi nhỏ, ruộng vườn không nhiều, chỉ thấy toàn ao. Ao to, ao nhỏ, ao nọ nối ao kia chỉ cách nhau bằng một bờ tre. Giao thông trong làng bằng một con đường đất, cuốc bộ hoặc đi xe đạp thì được chứ với các loại xe khác là không thể! (Mà cũng có thấy loại xe nào khác đâu?) Mà đi xe đạp cũng phải cẩn thận chứ lạng quạng thì coi chừng lăn tòm xuống ao lúc nào không biết. Nguy hiểm thế mà từ lúc có trí khôn cho tới khi rời bỏ quê hương di cư vô Nam tôi chưa hề thấy một đứa trẻ nào chết đuối bao giờ. Nói không phải là "nổ" chứ, trẻ con nhà quê như tôi, mới sáu, bẩy tuổi, con trai cũng như con gái đều đã bơi lội giỏi như những con rái cá. Mười một tuổi tôi đã có thể đứng trên một chiếc thuyền nan dùng cây sào tre đẩy thuyền lao vun vút trên mặt nước. Tính từ ngày di cư vào Nam cho tới hôm nay ngồi viết lại những dòng này đã hơn nửa thế kỷ tôi chưa thấy lại quê lần nào, nhưng những hình ảnh làng quê từ ngày còn thơ ấu vẫn còn đậm nét trong tôi.
Nhà tôi là một ngôi nhà năm gian hai chái, vách đất quét vôi trắng, mái lợp lá gồi, nền đất nện. Trước nhà có cái sân gạch, rộng khoảng sáu, bẩy mét, chiều dài bằng chiều dài ngôi nhà. Bên ngoài sân là một mảnh vườn trồng rau: Su hào, bắp cải, cải canh, cải củ... Mùa nào rau nấy, ngoài ra còn có chanh, cam, bưởi, mít. Một bên hông nhà có hai cây nhãn, phía sau nhà cũng có hai cây, thêm một cây ổi sẻ và một cây vối mọc sà xuống bờ ao gần sát với mặt nước. Cây ổi sẻ và cây vối này chính là nguồn vui của lũ nhóc tụi tôi. Trái ổi chưa kịp chín, mới chỉ ương ương đã bị leo lên vặt sạch. Ăn ổi ương, ổi xanh chấm muối ớt cay tê đầu lưỡi. Ăn chán rồi, cởi quần áo vắt lên hàng rào rồi leo lên cây vối nhẩy ùm xuống nước bơi, lội, cười rỡn. Đùa rỡn chán chê mê mỏi lại leo lên, người ngợm nước còn chẩy ròng ròng đã vội mặc quần áo vào, rồi đứa đi về, có đứa còn đi chơi nữa. Đấy là phía sau nhà, còn phía đàng trước thì bao quanh mảnh vườn trồng rau có mấy cây ăn trái là một bờ dậu duối; ngoài bờ dậu duối là con đường đất rộng chừng hơn thước Tây. Hai bên mép đường cỏ mọc xanh rì có nhiều chỗ cỏ phủ cả lối đi. Những đêm sương xuống nhiều, sáng ra những giọt sương còn đọng trên ngọn cỏ lóng lánh như những hạt kim cương tuyệt đẹp. Nhưng đừng lấy thế làm thích vì nếu có việc phải đi ra ngoài sẽ bị ướt chân, mà chân có giày dép gì đâu, may ra chỉ có đôi guốc mộc. Hơn nữa vô tình mà dẵm phải một "bãi... mìn" của mấy chú cẩu "gài" ban đêm thì vỡ nợ, thế là lại phải nhẩy cò cò hay đi cà nhắc xuống ao rửa chân chẳng thích tí nào. Kế con đường đất hẹp lại một cái ao, ao này lớn và sạch hơn ao phía sau nhà. Ao lớn, ao nhỏ, ao nào cũng chỉ để thả cá, nhưng ao phía sau nhà còn có bè rau muống, ngoài ra là bèo hoa dâu. Rau muống người ăn còn bèo hoa dâu nuôi lợn... Không như nơi thành thị, một trăm thứ nhu cầu lỉnh kỉnh, người nhà quê trong nhà chỉ cần hũ gạo, dưới ao bè rau muống và ngoài sân là chum tương: "Còn ao rau muống còn đầy chum tương" là yên chí lớn.
Cái ao đằng trước rộng gần gấp đôi cái ao phía sau nhà, nước trong và sạch, không có rau muống với bèo hoa dâu mà lại trồng sen. Quê tôi có hai thứ là nhãn và sen nổi danh... thiên hạ. Cả tỉnh đi đâu cũng thấy nhãn, toàn nhãn là nhãn, nhãn trồng chung quanh nhà, nhãn trồng ngoài bờ đê. Nói ra sợ bị cho là "nổ" nhưng mà thật, nhãn lồng Hưng Yên hiếm có người không nghe tiếng. Những trái nhãn to gần bằng quả trứng gà con so và tròn xoe như những hòn bi mọng nước. Bỏ trái nhãn vô miệng cắn nhẹ một cái, nước nhãn ngọt lự ứa ra thơm phức. Trái nhãn to thế mà cái hột nhăn nheo chỉ nhỉnh hơn hột đậu đen một tí còn toàn cùi dầy thật là dẩy. Nhãn lồng Hưng Yên đem tiến Vua phải dùng ngựa trạm, phóng ngày phóng đêm để nhãn về tới kinh đô mà vẫn còn tươi. Đến mùa nhãn chín, đi đến đâu cũng chỉ ngửi thấy mùi nhãn, một mùi thơm ngọt ngào toả khắp không gian. Vũng Tầu cũng là thành phố có nhiều nhãn nhưng để bảo vệ khỏi bị dơi ăn, người ta bao nhãn lại bằng những cái bao cói. Sở dĩ làm được như vậy vì nhãn ở Vũng Tầu vừa nhỏ vừa thấp có thể dùng thang trèo lên mà bao được. Trái lại, nhãn Hưng Yên là những cây cổ thụ, có cây cao như cây đa và to một người ôm không xuể. Muốn đuổi dơi người ta phải dùng một thứ "dụng cụ" gọi là cây phách. "Phách" được làm bằng những cây nứa hay cây luồng mà thường là cây luồng vì cây này vừa to vừa dài hơn cây nứa. Một cây luồng được chẻ làm đôi, dọc từ ngọn xuống đến gần gốc, một sợi dây thật dài và bền (dây gai hoặc dây đay) buộc vào một nửa trên ngọn cây, sau đó cây luồng được cột dựng đứng và thật chắc vào thân cây nhãn. Sao cho khi cầm sợi dây kéo rồi buông, kéo rồi buông làm cho hai nửa cây luồng đập vào nhau phát ra những tiếng kêu pác! pác! pác thật lớn, lớn còn hơn cả tiếng pháo nữa. Những con dơi đang ăn nhãn giật mình bay túa ra. Dơi là con vật thật kỳ cục - phi điểu, phi thú - có cánh như chim nhưng lại không có lông vũ, và đặc biệt là mõm và tai lại giống như mõm và tai chuột. Khi ngủ thì móc hai chân vào cành cây hay vào một chỗ nào đó thả mình chúc đầu xuống đất. Lúc muốn bay lại thả mình cho rơi xuống rồi nương theo đà rơi vỗ cánh bay lên. Nếu chót rơi hẳn xuống đất thì khó mà bay lên được. Dơi chỉ hoạt động về đêm còn ban ngày thì ngủ hoặc trốn trong bóng tối.
Pác! pác! pác! Đàn dơi đang ăn nhãn giật mình bay túa ra. Pác! pác! pác, suốt đêm chỗ này pác, pác, pác, chỗ kia pác, pác... tưởng không làm sao mà ngủ được, nhưng không sao người ta quen rồi, ai ngủ cứ ngủ, ai có bổn phận coi nhãn và giựt phách cứ giựt. Hơn nữa cũng chỉ nửa tháng, một tháng là cùng, nhãn chín sẽ được bẻ hết, đóng sọt (basket) cho xuống tầu chở đi khắp bốn phương trời. Sợ nhất không phải là dơi mà là mưa, bão. Sau một cơn mưa to gió lớn nhãn chín rụng đầy chung quanh nhà và ngoài bờ đê. Khách đi đường cứ thoải mái nhặt rồi ngửa nón ra mà đựng. Nhãn ăn rất bổ, chả thế mà thang thuốc Bắc nào mà là thuốc bổ thì ngoài sâm, quy, thục, táo Tầu thế nào cũng có vài cái long nhãn. Nhãn ăn bổ, mà món nào bổ thì thường nóng vì thế mà cứ đến mùa nhãn bọn nhóc chúng tôi bị toét mắt là thường.
Theo như bu tôi kể, mới có bầu tôi được ba tháng thì thày tôi xuống tầu qua Pháp. Cứ phải thành thật khai báo là vì thày tôi đi lính cho Pháp nên nó mới bắt Người đi dự trận "Đại Chiến Thế Giới Thứ Hai", chứ không phải sang Pháp mà làm vương làm tướng gì như ai kia rõ ràng là đi làm bồi tầu nhưng lại huênh hoang là đi tìm đường cứu nước đâu (?). Sau hơn 6 năm "lê gót nơi quê người", các nước như An Giê Ri, Tuy Ni Di, Ma Rốc Canh, Pháp, Đức... thày tôi đều biết cả. Đại Chiến Thế Giới Thứ Hai chấm dứt, may mà không "đi ngủ với giun" nơi quê người, thày tôi lại "lê gót trở về" thì năm ấy tôi đã được hơn 6 tuổi, đi học đã biết đọc biết viết. Câu cách ngôn "Đi một ngày đàng học một sàng khôn" thật chẳng sai chút nào, nhờ có đi đây đi đó mà thày tôi khôn hơn mấy ông trong làng nhiều. Không chịu làm một anh nông dân như hầu hết đàn ông trong làng, thày tôi đi buôn: Buôn ao và buôn nhãn non. Cá giống mới thả được vài tháng chưa kịp lớn đã cần tiền thế là chủ ao kêu người "buôn ao" đến bán. Thày tôi coi sổ sách của chủ ao, cá thả ngày nào, bao nhiêu con trắm, bao nhiêu con chép, rồi cá chầy, cá trôi, cá mè... mỗi thứ bao nhiêu. Bây giờ muốn bán cả ao bao nhiêu. Nhắm chừng đến kỳ tát ao, bán cá có lời thì thày tôi mua. Có năm mưa nhiều nước ngập bờ ao cá đi hết sạch, đến kỳ tát ao chả còn mấy con cá, thế là lỗ sặc gạch. Buôn nhãn non cũng vậy. Làng tôi ở gần bờ đê, mà nhãn trồng trên bờ đê thuộc phạm vi làng nào thì làng đó hưởng. Hàng năm nhãn mới ra hoa các cụ đã cần tiền: Cúng Kỳ Yên, cúng Thành Hoàng thổ địa chẳng hạn, thế là các cụ kêu bán nhãn non và thày tôi mua. Cũng nhờ thế mà đến mùa nhãn chín, đêm nào tôi và mấy ông anh rể cũng được ra bờ đê nằm trong mấy túp lều tranh nhỏ xíu để coi nhãn và giựt phách, vui hết sức.
Nhãn chín bẻ xuống bó lại thành từng bó, mỗi bó hơn trăm trái nhưng chỉ tính là một trăm thôi. Cách bó nhãn cũng đặc biệt: bên dưới lót một lớp lá nhãn xanh đậm rồi mới đến những trái nhãn chín, to, tròn luôn toả ra một mùi thơm ngọt ngào, mới nhìn thấy đã muốn ăn. Mấy câu ca dao dưới đây cho ta thấy cuộc sống ở nhà quê cũng thú vị đấy chứ!
"Tháng Giêng ăn tết ở nhà
Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè
Tháng Tư đong đậu nấu chè
Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng Năm
Tháng Sáu buôn nhãn bán trăm
Tháng Bẩy ngày rằm xá tội vong nhân
Tháng Tám chơi đèn kéo quân
Bước sang tháng Chín chung chân buôn hồng
Tháng Mười buôn thóc bán bông
Trở về Một, Chạp tính công hoàn thành!
Ngoài nhãn quê tôi còn một thứ cũng nổi tiếng nữa là sen.Trước cửa nhà tôi là cái ao lớn nước trong và sạch chỉ thả cá và trồng sen. Cách một bờ tre lại là một đầm sen; đầm này của làng, rộng đến mấy trăm mét ra tới chân đê còn dài từ đầu làng qua khỏi cuối làng sang giáp ranh với một làng khác, ước chừng chiều dài đến hơn một cây số. Như đã nói, làng tôi ao nọ nối tiếp ao kia, lại thêm một cái đầm rộng nên cứ đến mùa sen thì toàn làng như một bức tranh vẽ khổng lồ. Mầu xanh biếc của lá chen lẫn mầu đỏ hồng của hoa chan hoà trong nắng sớm, đứng trong làng mà ta có cảm tưởng như lạc vào cõi Thiên Thai. Đọc truyện cổ tích thấy có ông Từ Thức uống rượu say rồi đi lạc vào cõi Tiên lấy được vợ đẹp.Tôi nghĩ, cõi Tiên đây chắc là Tiên Lữ chứ chẳng phải đâu xa. Câu nói: "Trà Yên Thái, gái Tiên Lữ" chắc hẳn nhiều người đã từng nghe. Yên Thái là tên một làng ở ngoại ô Hà Nội và cũng là tên một làng ở tỉnh Thái Nguyên nổi tiếng trồng được trà ngon. Còn "gái Tiên Lữ" thì cô nào cũng da trắng tóc dài má hây hây. Tiên ở đấy chứ còn ở đâu nữa? Thế mà làng tôi lại thuộc huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên đấy, nếu không di cư vào Nam thì biết đâu tôi lại không có một bà xã cũng là một nàng "Tiên... Lữ!"
Đến nay đã năm mươi tư năm, tôi chưa về thăm nơi chôn nhau cắt rốn một lần nào. Ngày mới ra khỏi trại "tù cải tạo", cũng đã định về thăm quê hương một lần, nhưng thấy Miền Nam Việt Nam khổ quá tôi lại nghĩ: Miền Nam mới được "giải phóng" có mấy năm mà đã khổ thế này, trong khi Miền Bắc sống dưới chế độ XHCN ưu việt đã ba mươi năm ngoài, thì chắc gì còn có cái quần lành mà mặc?! Cứ nghĩ thế thôi là tôi không còn đủ can đảm để trở về thăm làng quê xưa nữa. Tôi không muốn những hình ảnh đẹp đẽ, trân quý của quê hương trong tôi bị pha trộn với những hình ảnh tối tăm bệ rạc sau này.
http://www.machsong.org
|