Giới thiệu sách mới, tác phẩm "Chiến Trường Xưa"
của tác giả Vũ Uyên Giang
Nguyễn Mạnh Trinh
Có những tập thơ, mà sự ra đời như một duyên do tiền định của những bất ngờ kỳ thú. Như tập thơ của Vũ Uyên Giang "Chiến trường Xưa" là một.
Nhà thơ Trần Hoài Thư khi sưu tập lại những bài thơ cũ in trước năm 1975 ở thư viện trường đại học Cornell để làm những tuyển tập thi ca như Thơ Miền Nam, Thơ Lục Bát đã tìm thấy một số bài của Vũ Uyên Giang và tuyển chọn vài bài rồi gửi tất cả cho họ Vũ. Tự nhiên, anh nảy ra ý định in tập thơ "Chiến Trường Xưa" và thực hiện ngay lập tức. Thế là, trong một thời gian ngắn, chúng ta có thêm một tập thơ mang lại một không gian, thời gian thuở nào.
Thơ, có khi là bước chân trở lại dĩ vãng. Thơ, cũng có khi là những hình dạng thân thuộc thoáng qua khi nhớ lại tấm lòng không khỏi bồi hồi cảm xúc. Thơ của quá khứ, nhưng một lúc trở thành hiện thực, của một phương trời nào mù xa nhưng vẫn còn hiển hiện.
Có người nói bây giờ mà còn đọc thơ thời chiến đã qua mấy thập niên có phải là biểu hiện của những người không bằng lòng với hiện tại và ngoái nhìn lại thuở vàng son của mình. Thơ như một chuyến tàu đi giật lùi vào những không tưởng đầy ắp lãng mạn nhưng bồng bềnh không thực tế. Nhưng với tôi, là một người yêu thơ và coi thơ như một phần đời sống của mình khi đọc những bài thơ trong thi tập này, tự nhiên thấy một phần đời của chính mình sống lại từ sự chia sẻ từ tâm thức đến ngôn ngữ. Những câu thơ chân thành như bàn tay lôi kéo về, như hồi tưởng chợt đến. Chiến trường xưa, ôi, đã bao nhiêu năm qua rồi mà sao còn như ngày hôm qua... Nhớ sao là nhớ!
Thơ của Vũ Uyên Giang không mới nhưng có nét chân thành, của những nét bộc trực nội tâm và của tấm lòng yêu mình yêu đời tha thiết. Những tên bạn bè thân thuộc, những địa danh đã đi qua, đã sống những thời điểm căng thẳng của chiến tranh, trong thơ anh, được nhắc đến như những sợi chỉ màu đan vào nhau để thành một bức tranh thêu sinh động của thực tế một đất nước chiến tranh.
Thơ Vũ Uyên Giang, có khi là phút giây nhớ bạn:
"Bạn mày rũ áo trận đêm qua
Nước mắt làm sao chẳng nhạt nhòa
Khóc cho thân phận đời chinh chiến
Và khóc những thằng chết trận xa
Lính chiến đi bao giờ trở lại
Thân trai trong khói lửa quê nhà
Bảo vệ quê hương, còn phải hỏi
Giữ cho yên ấm hậu phương xa
Cũng rót một ly cho bạn bè
Những thằng bạn chết chốn sơn khê
Tuyến đầu khói súng mù binh lửa
Quyết chí hy sinh giữ cõi bờ..."
Uống rượu không phải để vui, mà có khi là chuốc nỗi buồn. Những người lính, có khi ngang tàng không quản tử sinh nhưng cũng có lúc bùi ngùi như câu thơ ở thế gian nào cũng đắng cay để kết luận cho một thời thế đầy bão giông khói lửa:
"Mày hãy uống thêm nữa để say
Sống trên trận mạc được bao ngày
Anh hùng không rượu anh hùng nhát
Hào khí ngất trời ta cứ say
Tao cũng vào thêm dăm bảy chai
Cho dù sống chết, để mai hay
Uống giùm thằng bạn vừa nằm xuống
Ở thế giới nào cũng đắng cay"
Những địa danh đi qua, những nơi chốn từng chiến đấu, dường như chẳng thể nào quên:
"...Diệt giặc cỏ ở vườn thơm sáu mẫu
Phá trùng vây kinh Trà Cú, Bo Bo
Đám lá tối trời, ngủ bụi ngủ bờ
Sông Vàm Cỏ ngụy trang ta phá địch
Ôi Long An những đêm dài tịch mịch
Trong bóng đen ẩn náu những hình ma
Muỗi mòng thêm đỉa vắt quấy rầy ta
Vượt sông rạch về Đức Hòa, Đức Huệ
Tạm dừng quân nhậu vài chai lẻ tẻ
Xóm Cầu Trai ai bắc nhịp Cầu Duyên
Đi trên cầu lại nhớ Mã Sanh Nhơn
Tìm hình bóng em Tha La, Xóm Đạo
Rời Lộc Giang, Trảng Bàng ta khờ khạo
Lỡ sa vào cô giáo trẻ sớm mai..."
Rồi mất nước, Vũ đau đớn với thân phận tù binh. Với bạn bè như Dương Hùng Cường, như Trần Ngọc Tự... cùng chịu chung số phận, Vũ đã tâm sự như chia sẻ những số phận hẩm hiu của người bại trận với nhau. Như bài thơ gửi Trần Ngọc Tự:
"Mày đi nặng gánh lao tù
Gió mưa Việt Bắc mịt mù từ đây
Còn tao heo hút chân mây
Khổ sai lao dịch dưới tay vượn người
Mày đi môi vẫn mỉm cười
Cỏ cây rũ rượi khóc lời chia xa."
Hay bài gửi Dương Hùng Cường:
"Heo hút đồi cao bụi phủ mờ
Những thân còm cõi dáng chơ vơ
Bốn vòng gai sắc như dao nhọn
Đâm suốt hồn ai nhát hững hờ
Đã mấy mùa xuân trong đớn đau
Cao su vàng lá úa u sầu
Bọn ta chung kiếp tù tăm tối
Ngày tháng chừng trôi qua rất lâu..."
Rồi vượt biên tị nạn. Rồi hiu hắt xứ người. Rồi nhớ thương về quê cũ nhà xưa. Tình cảnh và tâm cảm ấy, chúng ta ai cũng có. Buổi chiều xứ người sao man mác buồn. Giọt nắng quái như loang trong lòng người xa xứ một nỗi niềm tê tái. Bài "Chiều trên xứ người":
"Những giọt nắng đã ngả màu cỏ úa
Phủ đời ta trên xứ lạ quê xa
Nước mắt nào vừa nghẹn đắng trên môi
Bỗng chợt tắt khi hồn ta dậy chết
Một mình ta ôm nỗi buồn trơ trọi
Phố đông vui như mở hội ngày xuân
Chân bước đi lòng vẫn mãi bâng khuâng
Sầu trăm mối nghĩa trang hồn một cõi
Quãng đời ta, ôi! Chuỗi dài xa lạ
Sống lưu đầy trong biển cả hoang vu
Ta bơ vơ phiêu bạt giữa sa mù
Nghe trống vắng âm u dồn đáy mộ..."
Có lúc phẫn chí, muốn lên núi ở cho tịch lặng đời, cho quên đi những eo sèo nhân thế:
"Từ độ về đây sống vắng người
Bạn bè rặt những lũ đười ươi
Chập chùng phố núi leo lên xuống
Ma chẳng ra ma, chẳng giống người"
Lúc buồn thì ngứa miệng như thế, nhưng thủy chung với bằng hữu, Vũ là người hào sảng có tình với bạn:
"Bằng hữu ngồi đây nói chuyện xưa
Chuyện xưa giờ cũng đã dư thừa
Chuyện đời thay đổi như cơm áo
Nào có khác gì buổi chợ trưa
Bằng hữu cùng ta chia nỗi đau
Nỗi đau nào cũng nhuốm u sầu
Mặc cho dâu biển thân vong kiếp
Ai nỡ nào khơi thêm nỗi đau?
Giữa quán đông người nói rất hăng
Bạn ta vung vít chửi lung tung
Rồi cười khanh khách như hào kiệt
Một thuở tung hoành khắp núi sông
Hào kiệt tứ phương đầu đã bạc
Ngồi đây ôn lại chuyện thu phong
Rồi mai tiễn biệt nhau lần cuối
Ai kẻ mài gươm ở cuối đường?"
Hay:
"Hãy uống cho say mới hết buồn
Cho quên quên hết chuyện đau thương
Uống luôn dăm chén cho thằng chết
Bằng hữu gặp nhau cuối đoạn đường
Những thằng bạn cũ của ta ơi
Ta chỉ còn nhau ở cuối đời
Một tình chiến hữu từ bao kiếp
Hãy gặp nhau và hãy cứ vui..."
Mơ mộng và thực tế cho bao giờ gặp nhau? Họa chăng là ở những trang thơ lần giở. Tôi tưởng tượng, nếu đời người không có thơ u ám biết bao. Thơ, là để trái tim thầm thỉ với mình, để quá khứ trở về làm thúc đẩy cho hiện tại. Thơ, có khi là giọt nắng quái rơi rung, tàn phai nhưng vẫn còn níu kéo tầm nhìn, còn níu kéo lúc chính ngọ rực rỡ. Và, có khi thơ chỉ là thơ, là những hiện thực của cuộc sống kết tinh, là những nỗi niềm chất chứa tìm người đồng cảm cùng chia sẻ.
Với "Chiến trường Xưa", thơ của Vũ Uyên Giang, tôi đi vào những cuộc đời của một thế hệ chung mang niềm đau, mà cuộc sống là một đấu trường gay gắt. Đọc thơ để thấy cũng có người cùng ý nghĩ với mình. Cám ơn bạn, Vũ Uyên Giang!
Một câu tái bút của thông lệ vài dòng giới thiệu. Ai thích thơ Vũ uyên Giang xin liên lạc Nhà xuất bản Đất Sống, PO Box 3521, San Leandro, CA 94578-0521, điện thoại:: 510-809-7044
Mùa hè dễ thương
Hồ Thụy Mỹ Hạnh
Thế là chấm dứt tuần lễ tôi du lịch thành phố, khi chuyến xe bắt đầu rời bến, bỏ lại tiếng rao hàng ồn ào phía sau. Gió sớm thổi vào xe mát lạnh, đến chừng ấy tôi mới thấm buồn. Chuyến đi hoàn toàn không đạt mục đích. Gục đầu xuống đôi tay khoanh tròn lên yên ghế trước, tôi nhớ lại hôm chuẩn bị đi, cả nhà ngạc nhiên khi nghe tôi tuyên bố:
- Hè này Vân sẽ đi Sàigòn.
- Chị tôi tròn mắt rồi trêu:
- Vân dám rút tiền tiết kiệm thật sao?
Anh trai tôi thêm vào:
- Chà! Cuối cùng thì Vân cũng chịu đổi mới.
Em trai tôi thè lưỡi tỏ ý không tin:
- Có thể ghi vào chuyện khó tin nhưng có thật.
Mẹ tôi từ tốn:
- Chúng mày cứ trêu nó, thì phải đi cho biết đó biết đây với người ta chứ.
Em trai tôi lại chen vào:
- Thì do chị ấy thôi, đi đâu cũng sợ tốn tiền.
Tôi cãi lại:
- Tại không có tiền chứ không phải sợ tốn tiền.
Tuy nói thế, nhưng mãi đến khi tôi sắp xếp quần áo vào túi xách thì cả nhà mới tin rằng tôi đã quyết định. Mẹ tôi dúi cho tôi gói thuốc đau răng, đau bụng, dầu gió vào túi tôi. Anh tôi cho thêm ít tiền và dặn "Đi Sàigòn mà không đến Thảo Cầm Viên là một thiếu sót, đến Thảo Cầm Viên mà không chụp một tấm hình ngay chuồng con cù lần lại là một thiếu sót hơn".
Chị tôi dặn xuống xe phải cẩn thận giữ đồ đạt kẻo kẻ gian cuỗm mất như chơi. Lớ ngớ như Vân thì không chừng "mẹ mìn" dắt đi luôn.
Em trai tôi cũng tranh thủ truyền "kinh nghiệm". Đọc báo chị thấy đấy, chuyện gì cũng phải đề phòng, cảnh giác, đừng tin người lạ... và bao nhiêu là chuyện trên đời, cứ nghe xong là tôi muốn chết khiếp. Nhưng cái lý do thúc đẩy, làm tôi quyết không bỏ qua ý định thì không ai biết được, chỉ nghĩ rằng tôi không bao giờ đi xa thì hôm nay muốn thay đổi, vậy thôi.
Thành phố ấy mới ồn ào, náo nhiệt làm sao. Đường phố xe cộ dập dìu, người thì đông đúc không êm đềm như xứ lạnh của tôi, cái gì cũng lạ làm tôi cứ đảo mắt nhìn quanh quất, tay ôm mấy thứ linh tinh, vai đeo giỏ hành lý. Trống ngực tôi cứ đánh loạn xạ không còn trật tự gì cả. Cứ thấy ai nhìn là tôi ôm chặt hành lý cho... chắc ăn!
Tôi cứ hỏi chừng bác cyclo sắp đến nhà chưa? Bác hỏi lại "Cô mới vào thành phố lần đầu à?" Tôi sực nhớ đến chuyện... cảnh giác! "A dạ không, đi nhiều lần rồi nhưng hôm nay tại cháu quên đường."
Cuối cùng thì sự lo lắng của tôi cũng chấm dứt, tôi đã đến nhà dì tôi bình an vô sự, chẳng thấy ai theo dõi, hay có vẻ muốn cướp giựt hành lý, đồ đạc của tôi.
Những ngày sau đó Quỳ Hương, con của dì tôi đưa tôi đi chơi cùng khắp, nhưng khi chuẩn bị ra đường y rằng tôi được dặn:
- Muốn ngắm gì cứ ngắm tự nhiên, đừng trố mắt ngạc nhiên cũng đừng xuýt xoa, người ta cho mình là... nhà quê lên tỉnh đấy. Người Đà Lạt "Tây" lắm chứ. Còn chị sao...
Tôi hỏi lại:
- Nhìn chị quê mùa lắm sao?
- Xinh ra phết chứ lị, chỉ có cái tội ngơ ngác của chị, buồn cười thí mồ.
Tôi thở dài:
- Tại chị ít giao thiệp, mà cũng chẳng đi đâu ngoài con đường từ nhà đến trường. Nhưng nếu gặp chị lần đầu có thể... cảm tình được chứ?
- Chị có vẻ lo lắng ngộ ghê. Dĩ nhiên là có thể "cảm" ngay chứ nói gì là cảm tình.
Những câu hỏi của tôi đã khiến Quỳ Hương nghi ngờ, và do sự điều tra khéo léo của nó, tôi đã phải khai ra chuyện mà tôi định giấu kín để âm thầm thực hiện. Tôi có một người quen.
Chuyện bắt đầu từ người bạn gái cùng trường với tôi đăng lời rao tìm bạn trên báo, thư bốn phương bay về tới tấp, cô không hồi âm hết, chỉ chọn một số, còn bao nhiêu... bỏ! Trong số thư đó tôi vô tình đọc thấy thư của Tâm. Lời lẽ ý nhị và nét chữ đẹp làm tôi có thiện cảm, vậy là tôi mang về hồi âm. Thư đi, tin lại...
Người bạn.. à không, người anh tinh thần kia dù chưa biết mặt mũi ra sao, nhưng đã gây cho tôi một ấn tượng đẹp. Tôi cảm thấy những lá thư của Tâm không thể thiếu trong cuộc sống ít giao thiệp bạn bè của tôi.
Quỳ Hương nhún vai khi nghe tôi kể xong:
- Chuyện xưa như trái đất í, có gì ngại mà giấu? Đưa địa chỉ đây, ngày mai em sẽ đưa chị đến trúng phóc.
Không đơn giản như là tôi tưởng, cuộc đi thăm không hẹn trước ấy đã làm tôi muốn hụt hơi, đổ mồ hơi giữa cái nóng của Sàigòn. Sau khi đi vào một con hẻm dài, cua phải, quẹo trái, dò dẫm ra địa chỉ thì Tâm lại đi vắng không biết bao giờ về, gia đình anh tiếp chúng tôi vui vẻ. Không đợi được, tôi ghi vội mấy dòng gởi lại "Duyên có đến thăm nhân dịp vào thành phố mà không gặp anh Tâm, có lẽ Duyên phải về Đà Lạt ngay nên không quay lại thăm anh được" (Duyên là tên người đăng lời rao tìm bạn mà khi viết thư tôi chưa tiện đổi lại tên tôi).
Hôm nay tôi đang trên đường trở về, ít có cơ hội để trở lại thành phố, bất giác tôi thở dài. Mùi xăng bốc lên làm tôi choáng váng, thực sự mệt mỏi vì không quen đi xe. Bên phải là một bà cụ to béo, bên trái là một anh thanh niên cùng chật chội trên một băng ghế bốn người, tôi mong xe chạy nhanh hơn cho mau về đến nhà. Khi xe dừng lại để ăn trưa, tất cả hành khách xuống xe, tôi vội tìm nước rửa mặt, nước mát làm tôi tỉnh táo hơn, trong khi chờ mọi người ra, tôi đứng tựa vào xe, cặp giò được phóng thích khỏi sự gò bó trong xe tha hồ nhịp gót. Tôi lại nghĩ đến tuần lễ vừa qua, những cuộc rong chơi không có gì thú vị, biết thế thì chẳng đi làm gì khi mục đích chính không đạt được. Tâm sẽ nghĩ sao? khi nghe tôi đến nhà bất ngờ như thế...
- Cô không vào dùng cơm trưa sao?
Tôi ngẩng lên nhìn, anh bạn đồng hành ngồi bên cạnh tôi trên xe đang đứng trước mặt. Bây giờ tôi mới chú ý, một người trạc tuổi ba mươi, ăn mặc giản dị, lịch sự. Tôi mỉm cười đáp:
- Dạ không, tôi không quen ăn khi đi xe.
Anh ta tự nhiên:
- Vậy mời cô vào uống nước, đứng đây nắng lắm.
Tôi lắc đầu từ chối:
- Cám ơn anh, xin anh cứ tự nhiên...
Người ấy quay đi, tôi mơ mộng nhìn những đám mây lơ lững trên bầu trời. Thử hình dung xem Tâm như thế nào nhỉ? Giá mà tôi có một tấm hình của anh, sao tôi lại nghĩ đến điều này muộn thế kìa? Nhưng chắc Tâm không đến nỗi... xí! Dân mô phạm mà lị, một người văn hay chữ tốt.
Mọi người lần lượt ra xe, tôi lại thu người vào chỗ ngồi chật ních. Hơi nóng làm tôi khó chịu. Bà cụ ngồi bên phải cứ ép tôi vào anh thanh niên bên trái. thân hình thuộc loại gầy của tôi càng co dúm lại. Hiểu được sự ngột ngạc của tôi, anh bạn đồng hành bèn tỏ lòng tốt của mình:
- Cô có thể đổi chỗ cho tôi, ngồi phía cửa có lẽ thoải mái hơn.
Tôi mừng rỡ:
- -! Thế thì cám ơn anh nhiều quá.
Lách sang chỗ ngồi mới, gió lồng lộng thổi vào mặt, càng lúc không khí càng dễ chịu. Đoạn đường thu ngắn dần. Một số khách lần lượt xuống xe, chỗ ngồi rộng hơn, bấy giờ tôi mới quay sang hỏi chuyện người bên cạnh:
- Hình như anh không phải dân Đà Lạt?
- Sao cô nghĩ vậy? Anh ta hỏi lại.
- Nghe tiếng nói của anh!
Anh ta cười hiền lành:
- Vâng! Tôi ở Sàigòn lên đây thăm bà con, còn cô?
Tôi hóm hỉnh cười:
- Còn tôi thì lại xuống Sàigòn thăm bà con.
Bà cụ kế bên liếc mắt nhìn sang tôi vẻ soi mói, thế là tôi im tịt, cắt ngang câu chuyện, cho đến khi về đến bến, anh bạn đồng hành hẳn phải ngạc nhiên vì thái độ của tôi.
***
Có người mới đến đây hỏi thăm Duyên, sao không đến nhà nó mà lại đến nhà mình?
Tôi giật thót người khi nghe mẹ tôi nói:
- Hỏi thăm Duyên? hỏi sao hở mẹ?
- Anh ta nói ở Sàigòn mới lên, chưa kịp báo tin trước. Mẹ nói Duyên là bạn của Vân nhà này nhưng không có ở đây.
Tôi bối rối:
- Duyên là con, chứ không phải là... Duyên đâu!
Mẹ tôi trố mắt không hiểu:
- Cái gì? Sao con mà lại là Duyên? Chúng mày hôm nay làm sao vậy nhỉ?
Không tiện giải thích cho mẹ tôi hiểu được. Tôi quay về phòng, cảm thấy không yên, lẽ nào Tâm đã có mặt ở thành phố này, từ bao giờ? Chúng tôi đang chơi trò cút bắt đây sao? Rồi anh có trở lại không khi nghĩ đây không phải là nhà của người anh quan hệ thư từ? Bao nhiêu là câu hỏi cứ lộn xộn trong đầu, không thể viết thư cho Tâm kịp nữa rồi. Tôi muốn kể cho anh nghe về chuyến vào Sàigòn của tôi. Tâm trạng của tôi lúc này và không quên giải thích cho anh hiểu, người viết thư cho anh tên thật là Vân.
Thời gian trôi qua trong sự ngóng đợi, tôi không thấy bóng dáng Tâm. buổi chiều quay quần bên mâm cơm, chị tôi lên tiếng trước:
- Nhỏ Vân đi Sàigòn về chợt trầm tư mặc tưởng.
Tôi nhướng mắt lên nhìn, anh trai tôi nhận xét:
- Đôi mắt bồ câu của Vân hôm nay con đậu, con... bay!
Em trai tôi bổ khuyết:
- Cánh cửa sổ tâm hồn của chị Vân hôm nay bị... sút bản lề! Em nghi có "vướng" đề gì đó xảy ra rồi.
Tôi phản đối:
- Đừng đón mò rồi nghĩ bậy bạ...
Cả nhà cười ồ, lại giọng của thằng em tôi:
- Hí... hí... người ta có nói gì đâu mà vội... có tật giật mình.
Mẹ tôi kết luận:
- Tụi mày sao cứ nhè vào nó mà chọc ghẹo hoài vậy nhỉ?
Buổi chiều trôi qua trong điệu Slow. Buổi sớm Đà Lạt vẫn còn gai lạnh dù sương mù đã tan trên đồi cây, tôi ra vườn ngắt một đóa hồng nhung cắm nơi bàn, sửa lại bức rèm nơi cửa sổ, quét dọn kỹ phòng khách. Trong lòng tôi cứ nôn nao. Mẹ tôi ra chợ từ sớm, anh chị tôi đi làm, em trai tôi xách cặp vợt phóng đi hoang phí cho hết những ngày hè của nó, chỉ còn mình tôi ở nhà vì tôi tin rằng Tâm sẽ trở lại.
Mặt trời đã ngả bóng ngang sân. Tôi chán nản vì không thấy người khách tôi đang mong. Tôi mang cây đàn ra đàn cho đỡ sốt ruột, cảm giác bâng khuâng lần đầu tiên trong đời mà tôi có, cũng thú vị lắm, tôi hình dung Tâm đến nhà không gặp tôi, dĩ nhiên anh sẽ buồn. Đêm qua có khi anh không ngủ được, với điếu thuốc trên tay anh thì thầm gọi Vân à quên, Duyên chứ! Và cũng có khi anh một mình lang thang giữa thành phố lạnh, đi ngang qua... nhà tôi, ánh đèn đã tắt, anh thở dài.
Ôi! Thật là một hình ảnh lãng mạn. Lần đầu tiên tôi để cho trí tưởng tượng của mình làm họa sĩ, thật hứng thú nên tôi hát to lên:
- Một đàn kiến nhỏ, chạy ngược chạy xuôi, chẳng ra hàng một cũng chẳng hàng đôi, đang chạy bên này liền sang bên nọ, cắm cổ cắm đầu kìa trông xấu quá, chúng em vào lớp sóng bước hai hàng chẳng như kiến nọ rối tinh cả đàn...
Tôi đàn loạn xị, bởi vì tôi có biết đàn đâu, còn giọng ca thì tôi yên chí vì ngày nào mà tôi chẳng ca cho mấy cháu mẫu giáo ở hàng xóm nghe, tôi cứ hát đi hát lại khúc hát trên, đến khi giật mình vì tiếng động ngay cửa, tôi mới ngẩng lên, buông cây đàn ra trong sự ngỡ ngàng. Người đứng trước mặt tôi cũng không kém vẻ ngạc nhiên. Đó là anh bạn đồng hành của tôi trên chuyến xe hôm trở về, cuộc hội ngộ cứ như là mơ, một giấc mơ tuyệt đẹp. Nắng mùa hè ở cao nguyên bao giờ cũng dễ thương!
Hồ Thụy Mỹ Hạnh
|