Suy nghĩ về một bài báo
Đỗ Nam Hải
Trên trang 1 của tờ báo An Ninh Thế Giới, số ra ngày 4/6/2008 có đăng bài với tựa đề: "Vì có khác biệt cho nên cần trao đổi để hiểu nhau hơn". Bài báo lược thuật lại buổi làm việc vào chiều ngày 30/5/2008 tại Hà Nội, giữa 2 đoàn Việt Nam và Hoa Kỳ. Ông Nguyễn Văn Hưởng, thượng tướng, thứ trưởng Bộ công an Việt Nam là trưởng đoàn Việt Nam, và ông David Kramer, trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ là trưởng đoàn Hoa Kỳ. Đây là buổi làm việc nằm trong chương trình đối thoại hàng năm về nhân quyền giữa 2 nước Việt Nam và Hoa Kỳ vốn bị đình hoãn từ năm 2002 và đã được nối lại từ năm 2006 đến nay. Tác giả của bài báo, ông Nguyễn Như Phong, hiện nay là đại tá công an, phó tổng biên tập báo An Ninh Thế Giới cũng có mặt trong buổi làm việc.
Theo bài báo thì trong cuộc họp này, 2 bên đã nêu lên nhiều vấn đề mà cả 2 bên cùng quan tâm. Phía Hoa Kỳ nêu lên một số vấn đề như các quyền tự do kinh tế, tôn giáo, báo chí, tù nhân lương tâm, luật pháp,... ở Việt Nam. Phía Việt Nam nêu lên vấn đề chất độc màu da cam, về việc Hoa Kỳ cũng là nước vi phạm nhiều điểm mà luật pháp quốc tế hoặc nhiều quốc gia đã cấm,... Tuy nhiên, trong bài viết này tôi chỉ xin nêu ý kiến của mình về một đọan đối thoại sau, khi 2 bên bàn về việc đặc xá tù nhân ở Việt Nam. Ông David Kramer đề nghị: "...Về trường hợp hai luật sư đang bị giam giữ, đến nay họ đã có đủ tiêu chuẩn để đặc xá, đó là Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài. Tôi hy vọng là hai trường hợp này sớm được giải quyết và chúng tôi coi đó là tín hiệu tích cực của phía Việt Nam...".
Và ông Nguyễn Văn Hưởng đáp lại:
"...Còn mấy trường hợp kia thì Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân đang thụ án. Nhân bị 3 năm tù, nhưng mới tuyên án cuối năm 2007 như vậy chưa được một năm...
Ngài Trợ lý giơ tay:
- Thưa ngài Thứ trưởng, tôi tưởng là Lê Thị Công Nhân chỉ bị kết án 1 năm tù.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng ngạc nhiên:
- Ngài lấy ở đâu ra thông tin này... Lạ thật, ngài tin chúng tôi hay tin vào những thông tin từ đâu đó. Đây... ngài xem... Lê Thị Công Nhân bị tuyên án vào ngày 27/11/2007 với mức án 3 năm tù và 3 năm quản chế. Nguyễn Văn Lý thì bị án 10 năm. Như vậy việc ngài đặt ra là tha họ thì không thể. Ngay khi họ đủ tiêu chuẩn đặc xá, họ sẽ được tha, chẳng cần phải ai can thiệp. Còn nếu các ngài sẵn lòng nhận họ, chúng tôi xem xét ngay...".
Cũng theo bài báo thì chính vì sự nhầm lẫn trên của ông David Kramer mà cuối buổi làm việc, ông Michael Michalak, đại sứ đương nhiệm của Hoa Kỳ tại Việt Nam, người cũng có mặt tại cuộc họp đó đã phải nói lời xin lỗi: "...Sau một thoáng im lặng, ngài Đại sứ nhã nhặn: Thưa ngài Thứ trưởng, tôi xin lỗi ngài vì đã đưa ra những thông tin không chính xác về Lê Thị Công Nhân. Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng cười:Lần sau, các ngài muốn có thông tin chính xác, cứ qua đây, chúng tôi cung cấp hết...".
(http://www.cand.com.vn/vi-VN/thoisu/2008/6/92519.cand).
Nhưng chỉ khoảng 5 ngày sau, tôi được đọc một bản tin đăng trên báo điện tử Đối Thoại, ghi lại nội dung cuộc phỏng vấn giữa ông David Kramer, trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ với phóng viên của đài Á Châu Tự Do (RFA), sau khi ông trở lại Hoa Kỳ. Trong đó có đoạn đề cập đến chi tiết xin lỗi đoàn Việt Nam nói trên của ông đại sứ Michael Michalak:
- RFA: Báo Công an Nhân dân ở Việt Nam đăng tải rằng trong buổi đối thoại này, phái đoàn Hoa Kỳ đã xin lỗi Việt Nam vì một số thông tin không chính xác. Thực hư việc này ra sao, thưa ông?
- David Kramer: "... Việc này liên quan đến nội dung thảo luận về thời điểm nào trong thời hạn thụ án thì tù nhân tại Việt Nam có thể được hưởng ân xá. Theo thông tin chúng tôi ghi nhận được thì một người tù có thể được hưởng đặc xá sau khi đã thi hành 1/3 bản án. Tại buổi họp chúng tôi được họ cho biết là phải sau 2/3 thời gian thụ án mới được ân xá. Sau đó, chúng tôi có nghiên cứu lại thông tin dựa trên quyết định đặc xá của chủ tịch nước và dựa trên luật pháp của Việt Nam, thì quả đúng là sau 1/3 thời gian chấp hành án thì tù nhân có thể được ân xá.
Như vậy, thông tin chúng tôi đưa ra ngay từ đầu là đúng, nhưng chúng tôi đã tôn trọng phản biện của Hà Nội khi họ khẳng định là phải 2/3 thời gian thụ án.Sau cuộc đối thoại, chúng tôi đã gửi văn bản khẳng định rằng những thông tin chúng tôi ghi nhận qua các tài liệu của nhà nước Việt Nam cho thấy thời điểm có thể được đặc xá là sau 1/3 thời hạn thụ án. Tóm lại, cho dù trong buổi gặp gỡ chúng tôi có nói rằng nếu chúng tôi có nhầm lẫn trong vấn đề cụ thể này thì chúng tôi xin lỗi, nhưng hoá ra chúng tôi đã đúng. Chúng tôi đang chờ hồi âm của phía Hà Nội về việc này ra sao...".
Từ những dữ kiện trên, tôi xin được nêu lên một số ý kiến sau đây:
1) Về phía đoàn Hoa Kỳ:
a) Nếu đúng như những gì mà tác giả Nguyễn Như Phong đã thuật lại thì hãy tạm gác qua một bên việc làm rõ xem những người mà ông David Kramer đề nghị phía Việt Nam cho đặc xá lần này, xem họ là những tù nhân chính trị hay hình sự. Điều đáng quan tâm ở đây là tinh thần trách nhiệm trong công việc của ông, khi ông được chính phủ Hoa Kỳ tin tưởng giao phó, xem ông đã làm tròn nó hay chưa? Nếu sự thật là như vậy thì rõ ràng là ông David Kramer đã thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc. Vì sao? Bởi vì ông là người lãnh đạo một phái đoàn ngoại giao, đại diện cho phía Hoa Kỳ để đối thoại về nhân quyền với phía Việt Nam. Chính ông cũng là người chủ động đưa ra ý kiến đề nghị phía Việt Nam hãy đặc xá cho một số tù nhân, trong đó có nữ luật sư Lê Thị Công Nhân. Thế mà ông lại không nhớ rõ cô ấy bị tuyên án mấy năm tù. Mà cô ấy lại là một tù nhân nổi tiếng, được ông nêu tên đầu tiên trong danh sách đề nghị phía Việt Nam đặc xá, chứ không phải là tù nhân bình thường.
b) Ông David Kramer cũng không hề có phản ứng nào khi ông Nguyễn Văn Hưởng, người vừa tỏ ra ngạc nhiên về sự nhầm lẫn của ông, thì chính ông Hưởng ngay sau đó cũng lại phạm phải nhầm lẫn, khi nói rằng: linh mục Nguyễn Văn Lý, cũng là một tù nhân nổi tiếng khác bị kết án 10 năm tù (thay vì chỉ có 8 năm như bản án đã tuyên ngày 30/3/2007, tại tòa án Huế). Vì vậy, nếu ai chỉ được đọc bài báo của ông Nguyễn Như Phong sẽ dễ đưa ra một nhận xét đầy cảm tính rằng: dường như ông trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ nói riêng và đoàn Hoa Kỳ nói chung đã bị mất đi sự tự chủ cần thiết trong cuộc đối thoại ấy, trước một "chính khách thượng thặng" là ông thứ trưởng công an Việt Nam đầy chủ động, tự tin kia mất rồi!
c) Tuy nhiên, việc ông David Kramer trả lời phỏng vấn đài Á Châu Tự Do nhằm làm rõ lý do của chuyện xin lỗi ấy. Việc phía Hoa Kỳ sau buổi đối thoại đã nghiên cứu lại thông tin mà phía Việt Nam phản biện, sau đó khẳng định: thông tin ban đầu mà phía Hoa Kỳ đưa ra là hoàn toàn đúng, còn phần phản biện của phía Việt Nam là hoàn toàn sai. Và việc phía Hoa Kỳ đã gửi văn bản cho phía Việt Nam và đang chờ hồi âm,... tất cả đã chứng tỏ tinh thần làm việc có trách nhiệm, thể hiện tính công khai, minh bạch của họ. Nhưng sẽ là có trách nhiệm hơn nữa với chính phủ, nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân Việt Nam nếu như ông David Kramer và đoàn Hoa Kỳ theo dõi cho đến cùng chuyện có hay không sự hồi âm từ phía Việt Nam. Đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng đối thoại nhân quyền Việt -- Mỹ ở những lần sau.
Ngược lại, nếu như phía Hoa Kỳ không làm đến nơi đến chốn được điều này thì những cuộc đối thoại tương tự về sau sẽ rất dễ gây phản ứng ngược. Thậm chí là có hại cho nhân dân Việt Nam, cho chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ và có hại cho uy tín của chính đoàn Hoa Kỳ vừa qua. Theo kinh nghiệm của những người dân Việt Nam thì trong những trường hợp "khó nuốt" như vậy, các vị "chính khách thượng thặng" ở Việt Nam thường có cách ứng xử là cứ phớt lờ đi. Hoặc xét thấy không thể trốn tránh, thoái thác được thì họ sẽ trả lời qua quýt, ngụy biện cho xong chuyện mà thôi. Tôi không biết là những người Mỹ có nắm được rõ tính "đặc thù Việt Nam" này không?
2) Về phía đoàn Việt Nam:
a) Theo như những gì ông David Kramer trả lời đài Á Châu Tự Do thì nguyên nhân xin lỗi của đoàn Hoa Kỳ rõ ràng là hoàn toàn khác với ông Nguyễn Như Phong đã viết. Một đằng là chuyện ông David Kramer "... tưởng là Lê Thị Công Nhân chỉ bị kết án 1 năm tù", khi hỏi ông Nguyễn Văn Hưởng và được ông Hưởng trả lời là 3 năm (số tuyệt đối, áp dụng cho một tù nhân cụ thể là nữ luật sư Lê Thị Công Nhân). Còn một đằng là 2 đoàn đang trao đổi nhằm làm rõ quy định để được xét đặc xá tù nhân, theo luật pháp Việt Nam là 1/3 hay 2/3 thời hạn thụ án của họ (số tương đối, áp dụng cho mọi tù nhân Việt Nam).
Như vậy phải chăng lý do xin lỗi của phía Hoa Kỳ đã bị ông Nguyễn Như Phong ma mãnh đánh tráo để đánh lừa độc giả Việt Nam rằng: lại thêm một lần nữa "Ta thắng, Mỹ thua"? (việc luôn tìm cách để chích doping vào dân tộc một cách rất bất lương như thế này thì nhân dân Việt Nam cũng nào có xa lạ gì!). Và nếu như sự đánh tráo trên cũng được sự đồng tình của ông Nguyễn Văn Hưởng thì không nói. Nhưng nếu giữa 2 ông lại có sự khác biệt thì theo tôi, các ông rất cần và rất nên ngồi lại mà đối thoại với nhau, theo tinh thần: "Vì có khác biệt cho nên cần trao đổi để hiểu nhau hơn"!
b) Việc những người Mỹ nói về một quy định nào đó của luật pháp Việt Nam và bị một ông thứ trưởng Bộ công an Việt Nam phản biện lại, thì phản xạ tự nhiên của họ là sẽ dễ tin vào sự phản biện ấy. Đây là điều hoàn toàn có thể thông cảm và sự xin lỗi của họ theo phép lịch sự ngoại giao cũng là điều bình thường. Thế nhưng, điều chớ trêu sau đó là ở chỗ: dường như phần đúng trong trường hợp này lại thuộc về phía đoàn Mỹ. Vì vây mà họ đã gửi văn thư yêu cầu phía Việt Nam trả lời và đang chờ hồi âm. Họ đến từ phía bên kia bán cầu nhưng lại tỏ ra nắm luật pháp Việt Nam chắc hơn là ông thứ trưởng Bộ công an Việt Nam kia. Thật vậy, Điều 58, nói về việc "Giảm mức hình phạt đã tuyên" của Bộ Luật Hình Sự nước CHXHCN Việt Nam hiện hành nêu rõ: "... Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 1/3 thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù từ 30 năm trở xuống, 12 năm đối với tù chung thân,...". Xét trường hợp cụ thể của Lê Thị Công Nhân thì:
- Bị công an Việt Nam bắt giam ngày 6/3/2007.
- Phiên tòa xử phúc thẩm ngày 27/11/2007 tuyên án cô là 3 năm tù (thuộc loại hình phạt tù từ 30 năm trở xuống, theo Điều 58 -- BLHS nêu trên).
Do đó, tính đến ngày 30/5/2008 là ngày mà ông David Kramer đề nghị phía Việt Nam đặc xá thì cô ấy đã thụ án được gần 15 tháng (6/3/2007 -- 30/5/2008). Thời gian đó so với bản án tuyên 3 năm là đã vượt tỷ lệ 1/3 thời hạn thụ án để được xét đặc xá. (15 tháng/36 tháng > 1/3). Trường hợp của luật sư Nguyễn Văn Đài bị bắt và bị tuyên án cùng ngày với Lê Thị Công Nhân, với thời hạn tù 4 năm thì cũng chỉ còn hơn 1 tháng nữa là đủ thời gian được xét đặc xá (16 tháng/48 tháng = 1/3).
Ngoài ra, ông Nguyễn Văn Hưởng lại còn thêm một lần nữa tỏ ra nắm không chắc luật pháp Việt Nam, khi ông cho rằng thời điểm để tính thời gian thụ án của một tù nhân bắt đầu từ ngày tòa án Việt Nam tuyên án: "...Còn mấy trường hợp kia thì Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân đang thụ án. Nhân bị 3 năm tù, nhưng mới tuyên án cuối năm 2007 như vậy chưa được một năm...". Về điểm này, Điều 33 -- BLHS quy định như sau: "... Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 1 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 1 ngày tù,...". Nếu không tin vào điều này, xin mời ông Nguyễn Văn Hưởng hãy đọc lại cả 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm mà tòa án Hà Nội đã tuyên vào các ngày 11/5/2007 và 27/11/2007. Trong đó quy định rõ thời điểm để tính thời gian chấp hành hình phạt tù của cả 2 luật sư Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài là kể từ ngày 6/3/2007.
c) Điều đáng kinh ngạc đối với những độc giả có được những thông tin đa chiều là ở chỗ: Tại sao ông Nguyễn Văn Hưởng lại có thể "chủ động, tự tin" trong cuộc đối thoại nhân quyền Việt -- Mỹ kia, trên "nền tảng" của việc ông không hề nắm chắc về cả số liệu lẫn luật pháp Việt Nam đến vậy? Đoàn Hoa Kỳ, mặc dù đã được chuẩn bị kỹ càng trước đó, nhưng trước một thái độ quá ư "tự tin" của ông, để rồi trở nên bị lúng túng và rồi cuối cùng đã phải xin lỗi ông. Điều trớ trêu ở đây là: người đúng lại phải đi xin lỗi người sai! Vì vậy, một câu hỏi đặt ra nữa là: liệu rằng những người Mỹ kia cùng với những người yêu chuộng lẽ phải, sự thật trên cõi đời này có thể tin vào lời ông Hưởng: "...Lần sau, các ngài muốn có thông tin chính xác, cứ qua đây, chúng tôi cung cấp hết..." (?!)
Đỗ Nam Hải (Phương Nam)
Thành phố Sàigòn - Việt Nam, tháng 6/2008.
------------------------------------------------
Đính kèm:
* Bài viết trên báo An Ninh Thế Giới CSVN của tác giả Nguyễn Như Phong
- Vì có khác biệt cho nên cần trao đổi để hiểu nhau hơn...
04/06/2008
(Lược thuật buổi làm việc của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Thứ trưởng Bộ Công an với ngài David Kramer, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ)
Chiều ngày 30/5, tại Hà Nội, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Thứ trưởng Bộ Công an đã có buổi làm việc với ngài David Kramer, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ về nhân quyền và tôn giáo. Theo lịch đã định thì 15h30 sẽ bắt đầu, nhưng vào lúc 15h, đoàn Mỹ thông báo xin đến muộn vào lúc 15h45, còn chúng tôi, vẫn có mặt từ trước đó. Nhưng rồi chả hiểu sao, đoàn Mỹ lại đến sớm và thế là họ phải chờ cho đến đúng giờ.
Cùng đi với ngài Trợ lý, có Đại sứ Mỹ Michael Michalak. Chào hỏi nhau xong, ngài Đại sứ vui vẻ:
- Thưa ngài Thứ trưởng, lâu quá rồi chúng ta mới gặp. Lần trước hẹn nhau cùng đi ăn tối, nhưng không được...
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng cười:
- Bởi vì ngài Đại sứ toàn chờ lúc tôi đi vắng mới mời. Hình như ngài theo dõi tôi rất chặt.
Nghe câu nói đó, tất cả mọi người đều cười vui.
Ngài Đại sứ nói:
- Tôi nghe nói là Thượng tướng có một thú vui là chăm sóc cây cảnh vì thế tôi xin tặng ngài một quyển ảnh của Nhật. Trong này có rất nhiều cây đẹp.
- Xin cảm ơn ngài Đại sứ. Mà này, ngài có để ý cái chậu cây cảnh bên ngoài Đại sứ quán Hoa Kỳ không? Chúng vẫn đẹp đấy chứ?
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng nói xong và đề nghị ngay:
- Bây giờ chúng ta làm việc với nhau. Tôi với ngài Đại sứ thì gặp nhau nhiều lần rồi, và xem ra, những vấn đề các ngài định trao đổi hôm nay chắc cũng chẳng có gì mới. Tôi muốn nghe ngài Trợ lý Ngoại trưởng.
Nếu như ngài John Hanford, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đã làm việc mấy lần với Thứ trưởng Nguyễn Văn Hưởng luôn luôn tỏ ra lịch lãm, mềm mỏng với nụ cười thường trực, thì David Kramer lại tỏ ra khô cứng. Quả nhiên, không có một lời rào đón mang tính "ngoại giao", ông vào đề luôn:
- Tôi cảm ơn ngài Thượng tướng đã tiếp tôi. Tôi tin là ngài đã đọc bản nội dung cuộc đối thoại của chúng tôi với một số cơ quan của Việt Nam. Chúng tôi đã đề cập đến một loạt vấn đề về tự do kinh tế, tự do báo chí, vấn đề tôn giáo và tù nhân chính trị... Chúng tôi cũng đã trao đổi với Bộ Tư pháp về xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, Luật Hình sự Việt Nam...
Tôi cho rằng các cuộc đối thoại là thẳng thắn, cởi mở và hai bên có thể thảo luận bất cứ vấn đề gì, kể cả tác nhân da cam. Hôm nay, chúng tôi muốn trao đổi thân tình, đặc biệt là tới đây sẽ có nguyên thủ Việt Nam sang thăm Hoa Kỳ cho nên chúng tôi muốn có môi trường tốt. Chúng tôi muốn trao đổi về một số trường hợp cụ thể.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng ngắt lời:
- Ngài nói luôn đi.
Vẫn với vẻ lạnh lùng, ngài Trợ lý nói:
- Về trường hợp hai luật sư đang bị giam giữ, đến nay họ đã có đủ tiêu chuẩn để đặc xá, đó là Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài. Tôi hy vọng là hai trường hợp này sớm được giải quyết và chúng tôi coi đó là tín hiệu tích cực của phía Việt Nam.
Ngoài ra, còn bà Bùi Kim Thành. Bà ta bị đưa vào viện tâm thần, cho nên chúng tôi muốn tới thăm. Chúng tôi có thể cho bà ấy được định cư tại Hoa Kỳ, theo quy chế người tị nạn, nhưng chúng tôi phải gặp để tìm hiểu xem bà ta có đủ tiêu chuẩn hay không.
Về ông linh mục Nguyễn Văn Lý, cũng mong phía Việt Nam giải quyết sớm. Ngoài ra, còn hai trường hợp khác là Lê Quốc Quân và Phạm Hồng Sơn. Lê Quốc Quân thì vừa đi học ở Mỹ về và bị bắt rồi bị quản thúc tại gia; còn Phạm Hồng Sơn, ông ta được trả tự do từ năm 2006, nhưng cho đến nay chưa được cấp hộ chiếu. Ông Sơn đã được chọn sang Hoa Kỳ để học vào cuối năm nay...
Còn hai trường hợp nữa là hai nhà báo mới bị bắt vì đưa tin chống tham nhũng. Tôi hy vọng ngài Thượng tướng xem xét cho họ vì họ chỉ là người đưa tin mà thôi. Tham nhũng là vấn đề nhạy cảm của mọi quốc gia. Ở Hoa Kỳ, báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc phơi bày các góc tối của chính quyền. Tổng thống Nixon đã phải từ chức vì bị báo chí phanh phui các việc làm sai của ông ta.
Tôi hiểu là không ai được miễn trách nhiệm về hành vi mình đã làm, nhưng tôi vẫn hy vọng hai trường hợp này sẽ được xem xét.
Ngài trợ lý nói đến đó thì ngừng lời.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng nói thong thả:
- Tôi xin cảm ơn ngài đã nêu ra các vấn đề, tuy chẳng có gì mới. Chúng tôi hiểu là quan hệ giữa hai quốc gia đang có những phát triển mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, văn hóa, xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong nhiều cuộc họp cấp cao trước đây và chuyến đi sắp tới của lãnh đạo Việt Nam, đã khẳng định sự phát triển này. Ngài Đại sứ đã có những đóng góp hết sức tích cực vào tiến trình chung. Trong khi chúng ta có quan điểm chung là phải làm thế nào để cùng nhau phát triển vì lợi ích của hai quốc gia thì cũng có những vấn đề khác biệt. Chúng tôi cho rằng, sự khác biệt đó là tất nhiên, đó là các quan niệm về đạo đức, về tôn giáo, về luật pháp...
Xã hội khác nhau thì cái nhìn về các vấn đề cũng khác nhau. Ví dụ như vấn đề chất độc da cam chẳng hạn. Việt Nam có rất nhiều người là nạn nhân của chất độc dioxin do quân đội Mỹ ném xuống trong chiến tranh, nhưng cho đến nay, phía Mỹ vẫn chối bỏ trách nhiệm.
Chúng ta hợp tác trong đấu tranh phòng chống tội phạm nhưng cũng có vấn đề không thống nhất. Ví dụ, chúng tôi nhìn nhận tổ chức Việt Tân đang cư trú tại Hoa Kỳ là tổ chức khủng bố, nhưng phía Hoa Kỳ lại bảo đó là "bất bạo động". Ở Hoa Kỳ thì họ "bất bạo động", nhưng về Việt Nam thì họ khác. Họ cho người đem thuốc nổ, đem thiết bị về chèn phá sóng Đài Tiếng nói Việt Nam...
Luật pháp Việt Nam khác Hoa Kỳ nhiều điểm, nhưng có một điểm chung là tất cả những hành vi xâm hại an ninh quốc gia đều phải bị xử lý. Nhà báo của Hoa Kỳ cũng không phải là "vùng cấm". Nếu họ đưa tin sai sự thật, xâm hại tới lợi ích của tổ chức, cá nhân thì Hoa Kỳ cũng xử lý. Hoa Kỳ có nhiều trại giam trên thế giới để giam các nghi can khủng bố, gần đây, nhiều quốc gia, tổ chức đòi Hoa Kỳ phải minh bạch, nhưng vì lợi ích an ninh, Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều biện pháp quản lý công dân cựu binh chặt chẽ. Tất cả đều xuất phát từ lợi ích của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ cũng đã vi phạm nhiều điểm mà luật pháp quốc tế hoặc nhiều quốc gia cấm... như Hoa Kỳ có đạo luật cho phép nghe trộm điện thoại. Nhưng Việt Nam thì không được nghe trộm điện thoại của công dân. Chúng tôi tôn trọng luật pháp Hoa Kỳ nhưng vì có những khác biệt nên chúng ta cần tăng cường trao đổi để hiểu nhau hơn.
Về các trường hợp cụ thể mà ngài Trợ lý đã nêu thì trừ việc 2 nhà báo còn 5 trường hợp kia, tôi và ngài Đại sứ đã gặp nhau nhiều lần để trao đổi... Ngài đại sứ ấy đã đi thăm ông Lý, ngài Hanford, cũng đã đi thăm ông Lý và nhận xét là hình như thần kinh ông ta có vấn đề...
Hôm nay tôi mới được biết ngài Trợ lý, nhưng tôi thấy thông tin ngài đưa ra là không chính xác. Tôi đề nghị các ngài nên kiểm tra, phân loại thông tin và phải biết phân tích. Ai cung cấp thông tin đó, họ tới là từ đâu...! Tôi biết các ngài lấy thông tin từ những người chống đối Chính phủ Việt Nam, những người thiếu ý thức xây dựng... Chúng ta phải biết tin ở nhau, nếu không thì khó hợp tác lắm.
Hôm nay, có ngài Đại sứ ở đây chúng ta cần thống nhất với nhau về một vấn đề là không nên có cụm từ "tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị". Điều đó làm cho người Việt Nam hiểu là Hoa Kỳ là quốc gia hay can thiệp vào công việc người khác. Chúng tôi không thể bắt ai nếu như họ không vi phạm pháp luật... Chúng ta cần phân biệt rạch ròi: là công dân Hoa Kỳ thì phải chấp hành luật pháp Hoa Kỳ và phải tuân theo, ủng hộ các chủ trương, mục tiêu của Chính phủ Hoa Kỳ đề ra, người Việt Nam thì cũng phải vậy thôi.
Với những trường hợp cụ thể mà ngài Trợ lý đưa ra, nếu họ chấp hành tốt luật pháp, có thái độ cải tạo tốt thì sau 2/3 thời gian thụ án, họ sẽ được xem xét để đặc xá. Trước đây chúng tôi cũng đã tha trước thời hạn một số người, nhưng với điều kiện Hoa Kỳ phải nhận họ, như trường hợp Phan Văn Bàn. Còn mấy trường hợp kia thì Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân đang thụ án. Nhân bị 3 năm tù, nhưng mới tuyên án cuối năm 2007 như vậy chưa được một năm...
Ngài Trợ lý giơ tay:
- Thưa ngài Thứ trưởng, tôi tưởng là Lê Thị Công Nhân chỉ bị kết án 1 năm tù.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng ngạc nhiên:
- Ngài lấy ở đâu ra thông tin này... Lạ thật, ngài tin chúng tôi hay tin vào những thông tin từ đâu đó. Đây... ngài xem... Lê Thị Công Nhân bị tuyên án vào ngày 27/11/2007 với mức án 3 năm tù và 3 năm quản chế. Nguyễn Văn Lý thì bị án 10 năm. Như vậy việc ngài đặt ra là tha họ thì không thể. Ngay khi họ đủ tiêu chuẩn đặc xá, họ sẽ được tha, chẳng cần phải ai can thiệp. Còn nếu các ngài sẵn lòng nhận họ, chúng tôi xem xét ngay.
Về bà Bùi Kim Thành, tôi đã nói với ngài Đại sứ lần thứ ba rồi. Bà ta bị tâm thần... nếu ngài Trợ lý cần đi thăm, chúng tôi tạo mọi điều kiện. Bệnh viện đã có kết luận. Có điều là nếu bà ta chửi Mỹ thì chắc các ngài không quan tâm đâu. Các ngài nhận, chúng tôi cho xuất cảnh ngay. Tôi cũng mong các ngài giúp đỡ bà ta vì y học của Hoa Kỳ tiên tiến hơn Việt Nam, chắc sẽ chữa được bệnh tâm thần.
Ngài Đại sứ:
- Tôi cũng nghĩ bà ta bị tâm thần. Chúng tôi đưa bà ta đi khám xem sao?
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:
- Đồng ý! Trường hợp Phạm Hồng Sơn, anh ta bị quản chế sau khi ra tù 3 năm, nhưng nay mới được 1 năm. Khi nào hết hạn quản chế thì cứ việc sang Hoa Kỳ mà học. Tôi biết trường hợp này, các ông quan tâm lắm (!). Tháng 9/2009, anh ta mới hết hạn quản chế.
Còn Lê Quốc quân... chả hiểu các ngài lấy thông tin ở đâu mà bảo ông ta bị quản thúc, bị sách nhiễu... Ngài Đại sứ đã gặp ông ta rồi đấy thôi. Còn việc ông ta sang Hoa Kỳ, bàn bạc với Việt Tân để về Việt Nam làm gì, chúng tôi biết cả. Bản thân ông ta cũng đã khai nhận thành khẩn. Xét thấy việc làm của ông ta chưa nguy hiểm nên chúng tôi không bắt.
Còn về 2 nhà báo bị bắt hôm 12/5, họ tên là Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến. Bản chất của vấn đề là họ đã đưa tin sai sự thật... Nhưng báo Thanh Niên, báo Tuổi Trẻ lại đưa tin vì họ chống tham nhũng mà bị bắt...! Từ trước đến nay, Đảng, Chính phủ Việt Nam rất ủng hộ báo chí tham gia chống tham nhũng và coi báo chí là kênh thông tin quan trọng để chống tham nhũng có hiệu quả.
Nhưng vấn đề là thông tin nhà báo đưa ra phải trung thực, khách quan và phải biết đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên hết. Họ bị bắt vì đã đưa thông tin bịa đặt, gây ảnh hưởng tới uy tín và danh dự của tổ chức, cá nhân... Nếu các ngài quan tâm, chúng tôi cử cán bộ cung cấp thông tin cho các ngài. Việt Nam là đất nước có chủ quyền và có pháp quyền. Có phải cứ nghi ai phạm pháp mà muốn bắt thì bắt đâu. Phải có đủ chứng cứ!
Ngài Trợ lý:
- Chúng tôi không muốn can thiệp quá sâu... nhưng chúng tôi mong ngài nên xử lý sớm và minh bạch.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:
- Đúng rồi, chúng tôi cũng rất muốn xử lý sớm và minh bạch. Tôi rất cám ơn ngài Trợ lý. Nhưng tôi cũng mong muốn Hoa Kỳ đừng có can thiệp quá sâu vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Thấy Thượng tướng sắp xếp tài liệu. Ngài Trợ lý và các thành viên hiểu thời gian buổi gặp đã hết và cũng chẳng còn gì để hỏi thêm. Sau một thoáng im lặng, ngài Đại sứ nhã nhặn:
- Thưa ngài Thứ trưởng, tôi xin lỗi ngài vì đã đưa ra những thông tin không chính xác về Lê Thị Công Nhân.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng cười:
- Lần sau, các ngài muốn có thông tin chính xác, cứ qua đây, chúng tôi cung cấp hết. Còn về bữa ăn tối, xin ngài Đại sứ... đừng mời tôi vào lúc tôi đi công tác nhé
Nguyễn Như Phong
*Các bài phỏng vấn trên đài RFA liên quan cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ:
- RFA: Nội dung Đối thoại Nhân quyền Việt-Mỹ.
Richard Finney & Trà Mi, RFA - 2008-06-05.
Cuộc đối thoại thường niên về Nhân quyền giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã diễn ra hôm cuối tháng Năm vừa qua tại Hà Nội. Kết quả ra sao? Nhận xét của Washington về cuộc gặp năm nay như thế nào?
Theo đánh giá của chính phủ Mỹ, Việt Nam đã có một số tiến bộ về tự do tôn giáo trong thời gian qua. Thứ trưởng đặc trách về dân chủ, nhân quyền, và lao động của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, ông David Kramer, người dẫn đầu phái đoàn Mỹ đến Việt Nam tham gia đối thoại, đã dành cho đài Á Châu Tự Do buổi trao đổi đặc biệt sau khi ông hoàn tất chuyến đi.
Tiếp chuyện với phóng viên RFA hôm 4-6, ông David Kramer cho biết: "Trong ba năm liên tiếp gần đây, Hoa kỳ có các cuộc đối thoại nhân quyền thường niên với Việt Nam, vốn bị đình hoãn từ năm 2002 và tới năm 2006 thì đôi bên quyết định tái tục hoạt động này. Điều này cho thấy tín hiệu của sự cải thiện và phát triển bang giao song phương giữa Hà Nội và Washington.
Cuộc gặp năm nay với Thứ trưởng Bộ Công An Nguyễn Văn Hưởng diễn ra nguyên cả ngày 29/5/2008, bàn về nhiều vấn đề kể cả những vấn đề nhạy cảm. Tôi hoan nghênh phía Việt Nam đã tiến hành cuộc đối thoại này trong tinh thần xây dựng và thẳng thắn, không có vấn đề nào gọi là "quá giới hạn cho phép thảo luận.". Có những lĩnh vực đôi bên hứa hẹn sẽ thực hiện và chúng tôi đang chờ đợi những điều cam kết sẽ đựơc tiến hành trong vài tháng tới.".
Các vấn đề Hoa Kỳ quan tâm:
RFA: Ông có thể cho biết những mối quan tâm chính mà phía Hoa Kỳ nêu lên trong kỳ gặp gỡ năm nay và phản hồi của phía Việt Nam ra sao?
Thứ trưởng David Kramer: Những vấn đề nêu lên trong nghị trình làm việc bao gồm tự do tôn giáo, tự do báo chí, tù nhân lương tâm, luật pháp, và các lĩnh vực hợp tác quốc tế. Phía Việt Nam thì đề cập đến vấn đề chất độc màu da cam.
Ông David Kramer, Đặc sứ nhân quyền của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ:
Liên quan đến tự do báo chí thì chúng tôi cũng đề nghị Việt Nam cho phép phóng viên hoạt động tại TPHCM và nhận đựơc tín hiệu rằng điều này có thể xảy ra. Chúng tôi cho rằng đây là một bước tiến tích cực của phía Việt Nam. Chúng tôi cũng có đề cập đến trường hợp của hai nhà báo mới bị bắt giam vì các bài viết phanh khui vụ scandal tham nhũng vì chúng tôi cho rằng trường hợp của hai phóng viên này có thể sẽ gây nên ảnh hưởng không tốt cho giới báo chí tại Việt Nam vốn chỉ được tường trình trong khuôn khổ nhà nước cho phép.
RFA: Trước khi phái đoàn Bộ ngoại giao Hoa Kỳ khởi hành chuyến đi đối thoại nhân quyền với Việt Nam, một số tổ chức tranh đấu dân chủ của người Việt hải ngoại đã tiếp xúc với đại diện Bộ Ngoại giao để trình bày thông tin cũng như đưa ra những đề nghị. Những mối quan tâm ấy có được đặt lên bàn thương thuyết với Hà Nội không, thưa ông?
Thứ trưởng David Kramer: Đây là một điều thông thường. Chúng tôi cũng gặp gỡ với các phái đoàn đấu tranh dân chủ cho Trung Quốc trước khi chúng tôi đến Bắc Kinh đối thoại nhân quyền. Và chúng tôi cũng làm điều tương tự trước khi đi Việt Nam và tôi nghĩ rằng thật hữu ích khi các điều quan ngại ấy được nêu lên.
Phản hồi của Việt Nam:
RFA: Phản hồi của phía Việt Nam năm nay có gì khác hơn so với những năm trước hay không, có đáp ứng sự kỳ vọng của phía Mỹ, hay có gì bất ngờ ngạc nhiên hay chăng, thưa ông?
Thứ trưởng David Kramer: Tôi không tham dự các buổi đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ các năm trước đây nên tôi khó mà so sánh được. Tuy nhiên, tôi nhận thấy rằng chính phủ Việt Nam tỏ ra rất cộng tác trong các vấn đề đưa ra thảo luận. Và họ cũng cam kết sẽ nghiêm túc xem xét danh sách các tù nhân lương tâm mà chúng tôi đưa ra. Theo tôi, đó là những bước rất đáng khích lệ. Thủ tướng Việt Nam dự định thăm Hoa Kỳ trong thời gian tới, và chúng tôi khuyến khích Hà Nội nên có những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền trước chuyến đi này. Đây không phải là điều kiện của chuyến đi, mà dĩ nhiên nó sẽ tạo điều kiện cho một chuyến công du tốt đẹp hơn.
RFA: Về mặt cải thiện luật pháp, Hà Nội có ý mời chuyên gia hay cố vấn từ Hoa Kỳ hỗ trợ trong công tác này hay không?
Thứ trưởng David Kramer: Tôi cho rằng điều cả đôi bên đang hướng tới có lẽ là trao đổi quan điểm ở cấp chuyên gia, qua đó, Hoa Kỳ có thể tư vấn, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho phía Việt Nam. Thế nhưng chúng ta cũng cần phải lưu ý đến các điều kiện đặc biệt của Việt Nam. Cho nên đây không phải là điều mà chúng tôi kỳ vọng áp đặt lên Hà Nội mà chỉ có thể trao đổi kinh nghiệm và tư vấn hữu ích cho họ mà thôi.
RFA: Ủy ban Hoa Kỳ về tự do tôn giáo quốc tế đang kêu gọi mạnh mẽ việc đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo. Ý kiến của ông như thế nào?
Thứ trưởng David Kramer: Đại sứ Hoa Kỳ đặc trách về tôn giáo, John Hansford, không cùng tham dự cuộc đối thoại nhân quyền tại Việt Nam với tôi, nhưng chúng tôi đã thảo luận với nhau về chuyến đi này và ông có gửi đại diện của văn phòng ông đi Việt Nam với tôi trong cuộc đối thoại này.
Theo tôi, về mặt tự do tôn giáo, trong những năm qua, Việt Nam đã thể hiện vài tiến bộ. Nói như vậy không có nghĩa là tình trạng tự do tôn giáo của Việt Nam đã hoàn thiện, nhưng với những tiến bộ đó, tôi nghĩ rằng Việt Nam xứng đáng được bỏ tên ra khỏi danh sách này. Tôi cho rằng văn phòng của đại sứ Hansford đã quyết định đúng. Chúng ta cần phải công nhận những tiến bộ đã đạt được.
Đại diện Hoa Kỳ xin lỗi Việt Nam?
RFA: Báo Công an Nhân dân ở Việt Nam đăng tải rằng trong buổi đối thoại này, phái đoàn Hoa Kỳ đã xin lỗi Việt Nam vì một số thông tin không chính xác. Thực hư việc này ra sao, thưa ông?
Thứ trưởng David Kramer: Việc này liên quan đến nội dung thảo luận về thời điểm nào trong thời hạn thụ án thì tù nhân tại Việt Nam có thể được hưởng ân xá. Theo thông tin chúng tôi ghi nhận được thì một người tù có thể được hưởng đặc xá sau khi đã thi hành 1/3 bản án. Tại buổi họp chúng tôi được họ cho biết là phải sau 2/3 thời gian thụ án mới được ân xá. Sau đó, chúng tôi có nghiên cứu lại thông tin dựa trên quyết định đặc xá của chủ tịch nước và dựa trên luật pháp của Việt Nam, thì quả đúng là sau 1/3 thời gian chấp hành án thì tù nhân có thể được ân xá.
Như vậy, thông tin chúng tôi đưa ra ngay từ đầu là đúng, nhưng chúng tôi đã tôn trọng phản biện của Hà Nội khi họ khẳng định là phải 2/3 thời gian thụ án.
Sau cuộc đối thoại, chúng tôi đã gửi văn bản khẳng định rằng những thông tin chúng tôi ghi nhận qua các tài liệu của nhà nước Việt Nam cho thấy thời điểm có thể được đặc xá là sau 1/3 thời hạn thụ án.
Tóm lại, cho dù trong buổi gặp gỡ chúng tôi có nói rằng nếu chúng tôi có nhầm lẫn trong vấn đề cụ thể này thì chúng tôi xin lỗi, nhưng hoá ra chúng tôi đã đúng. Chúng tôi đang chờ hồi âm của phía Hà Nội về việc này ra sao.
RFA: Xin chân thành cảm ơn ông David Kramer, Thứ trưởng Trưởng đặc trách về dân chủ, nhân quyền, và lao động Hoa Kỳ đã dành cho đài Á Châu Tự Do buổi nói chuyện đặc biệt này.
***
- RFA: Phản ứng đối với Báo Công An Nhân dân phản biện đặc sứ Mỹ.
Trà Mi, phóng viên đài RFA - 2008-06-06
Những nhà dân chủ trong vòng cương tỏa của luật pháp Việt Nam phản ứng trước nhan đề "Hoa Kỳ không nên can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam" từ báo Công an Nhân dân. Cuộc đối thoại thường niên giữa Hà Nội và Washington về vấn đề nhân quyền của Việt Nam năm nay diễn ra hôm 29/5 là một sự kiện được giới yêu chuộng dân chủ trong và ngoài nước hết sức chú ý. Truyền thông trong nước không bàn nhiều về sự kiện này, ngoài hai bài báo của Công an Nhân dân và An ninh Thế giới, nhưng những thông tin được trình bày khiến những người quan tâm không khỏi nghi vấn, đặc biệt là bài viết đăng trên tờ Công an Nhân dân Online số ra ngày 31/5/2008.
Với nhan đề: "Hoa Kỳ không nên can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam", bài viết của tác giả Bảo Sơn đăng trên báo điện tử Công an Nhân dân không nhằm mục đích tường trình diễn tiến, nội dung, hay kết quả cuộc đối thoại song phương về tình hình nhân quyền của Việt Nam, mà chủ yếu nhấn mạnh vào những phản biện của Hà Nội trước những vấn đề mà Hoa Kỳ nêu lên, để chứng minh rằng những thông tin Washington đưa ra không chính xác.
Thứ trưởng Ngoai giao Mỹ David Kramer xác minh lại thông tin về khả năng hưởng đặc xá của nhà dân chủ Lê Thị Công Nhân. AFP PHOTO
Bài báo trích dẫn lời Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam trong buổi đối thoại khi đáp lại mối quan tâm của Hoa kỳ về trường hợp của các tù nhân lương tâm bị giam giữ chỉ vì bất đồng chính kiến: "Việt Nam là một nước có chủ quyền và luật pháp, không phải chúng tôi muốn bắt ai thì bắt." Lời phát biểu này đã gây bức xúc cho nhiều người, nhất là những nạn nhân trực tiếp, những người dám đấu tranh cho dân chủ-nhân quyền trong nước.
Các nhà dân chủ phản biện lập luận của nhà nước:
- Nhà dân chủ Đỗ Nam Hải, một tiếng nói khẳng khái được nhiều người biết đến, bày tỏ sự bất bình: "Đây là một trong những thủ đoạn của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trong những lần đối thoại với quốc tế. Cái điều mà họ thường quy cho những người đấu tranh là phạm điều 88 của Bộ luật Hình sự, tức là tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam, nhưng bản thân điều luật này rất lơ mơ, chung chung, và họ căn cứ vào đó để có thể bắt bất cứ ai họ muốn.".
- Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, ngừơi từng bị tù tội vì các hoạt động cổ võ dân chủ sau đó được giảm án nhờ sự can thiệp của quốc tế, và hiện đang bị quản thúc tại gia ở Hà Nội, góp lời:
"Đứng về mặt luật pháp mà nói thì đúng là pháp luật không cho phép làm việc đó, muốn bắt ai thì bắt, nhưng thực tế hiện nay pháp luật ở Việt Nam không đựơc bảo vệ. Cho nên những cơ quan thi hành pháp luật sẵn sàng làm việc không theo pháp luật, không dựa vào luật, như trường hợp của cá nhân tôi, việc bắt giam và cáo buộc tôi cũng không theo pháp luật.".
Trong số các luận điểm phản bác lại Washington, Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam, ông Nguyễn Văn Hưởng, cũng nhấn mạnh rằng: "Ở Việt Nam thì không được phép nghe trộm điện thoại của công dân." Quả thật luật Việt Nam không cho phép điều này, nhưng hầu như mọi người đều biết rõ rằng việc cơ quan chức năng nghe lén hoặc thu âm cuộc điện đàm của công dân là "chuyện thường ngày ở huyện", nhất là đối với những thành phần bất đồng chính kiến. Là nạn nhân thường xuyên của tình trạng này, nhà dân chủ Đỗ Nam Hải khẳng định: "Ví dụ như chính tôi đây luôn luôn bị nghe trộm điện thoại, bị cắt điện thoại, bị cắt internet, và luôn bị đọc trộm thư, thậm chí trong những lần công an làm việc với tôi tại đồn công an, họ đã in ra một loạt thư điện tử của tôi và đưa lên bàn làm việc cho tôi xem luôn.".
Các biện pháp an ninh đi ngược lại pháp luật:
Hỏi chuyện một người có thân nhân làm việc trong ngành bưu điện, đài Á Châu Tự Do được biết thêm: "Những thông tin mình biết được từ người quen làm bên bưu điện họ cho biết những tin nhắn của khách hàng điện thoại di động, họ sẽ lưu trong vòng 1 tháng, áp dụng cho tất cả các thuê bao điện thoại di động tại Việt Nam. Còn riêng những số máy nào có yêu cầu của cơ quan an ninh thì họ sẽ ghi âm lại tất cả cuộc gọi của máy đó. Họ còn có thể xác định đựơc vị trí của người đang sử dụng điện thoại đó hiện ở đâu nữa kìa. Luật ở Việt Nam thì không đựơc phép xâm phạm về vấn đề thư tín, nhưng cái luật bất thành văn ở Việt Nam thì nó lại khác như vậy.". Ngoài ra, theo bài báo này, Hà Nội cũng phủ nhận quan ngại của Washington về trường hợp bị quản thúc, bị sách nhiễu của luật sư Lê Quốc Quân, người từng bị chính quyền Việt Nam bắt giam sau khi hoàn tất chương trình nghiên cứu sinh của Cơ quan hỗ trợ dân chủ NED Hoa Kỳ.
Để tìm hiểu thực hư, chúng tôi hỏi thăm chính luật sư Quân và được anh cho biết:
"Những gì tôi chịu đựng trong thời gian ngắn vừa rồi quả thật là những vấn đề rất lớn lao, ví dụ như chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi họ không trao trả lại cho tôi. Rõ ràng điều đó là sai và hoàn toàn có ảnh hưởng đến cá nhân tôi. Thứ hai là việc tôi đi xuất cảnh, đi ra nước ngoài là có những khó khăn. Thế còn trong phiên xử phúc thẩm luật sư Đài, tôi bị người ta bóp cổ thêm một tí nữa là ngạt thở, rồi tôi bị 4,5 người đánh tôi trong vụ Toà khâm sứ. Thứ ba nữa là việc tôi biểu tình vụ Hoàng Sa-Trừơng Sa đều có những vấn đề cả. Thì thế nào là sách nhiễu thì cũng là một vấn đề không dễ trình bày ra, nhưng tôi xác nhận về mặt pháp lý thì tôi không bị quản thúc."
Vẫn theo báo Công an nhân dân, khi phía Hoa Kỳ đề cập tới trường hợp của luật sư Bùi Kim Thành, một tên tuổi được đông đảo dân oan khiếu kiện đất đai trong nước yêu mến, thì phía Việt Nam khẳng định đây là lần thứ 3 bà bị tâm thần, và nếu Hoa Kỳ quan tâm đưa bà đi Mỹ định cư thì Việt Nam sẽ tạo điều kiện ngay. Trong khi đó thì bà con dân oan, những người từng đựơc luật sư Thành trợ giúp pháp lý trên con đường đấu tranh vì công bằng, lẽ phải, thì xác nhận rằng: " Rõ ràng đây là việc chụp mũ bà Kim Thành và nói sai sự thật. Bà Thành đã giúp dân oan đi khiếu kiện đòi lại công bằng. Bà là một người bình thường, không có gì để gọi là tâm thần cả. Nếu một người tâm thần thì không thể nói những tình hình của đất nước rất rõ ràng như vậy. Bà con dân oan lên nhiều lần nhờ bà Thành tư vấn dùm, người ta rất tin tưởng. Sự giúp đỡ của bà qua những đơn từ, và những hướng dẫn của bà rất có hiệu quả.".
Thứ trưởng Mỹ xác minh thông tin về bản án của LS Lê Thị Công Nhân:
Bài báo cũng viết rằng phái đoàn Hoa Kỳ đã đưa ra thông tin sai lệch rằng luật sư Lê Thị Công Nhân chỉ bị án phạt tù 1 năm. Tác giả trích lời Thứ trưởng Nguyễn Văn Hưởng rằng những tù nhân lương tâm mà Washington đề cập trong đó có luật sư Công Nhân, "muốn đựơc hưởng chế độ đặc xá, phải chấp hành án phạt được 2/3 thời gian." Rồi phần kết luận cuối bài có đoạn nguyên văn như sau: "Trước khi chia tay, ngài đại sứ đã xin lỗi thựơng tướng Nguyễn Văn Hưởng về một số thông tin đưa ra không chính xác.".
Khi tìm hiểu việc này trong cuộc phỏng vấn đặc biệt với ông David Kramer, Thứ trưởng đặc trách về dân chủ, nhân quyền, và lao động Hoa Kỳ, người dẫn đầu phái đoàn ngoại giao Mỹ đến Việt Nam đối thoại nhân quyền hôm cuối tháng 5 vừa qua, chúng tôi đựơc ông xác minh: "Việc này liên quan đến nội dung thảo luận về thời điểm nào trong thời hạn thụ án thì tù nhân tại Việt Nam có thể được hưởng ân xá. Theo thông tin chúng tôi ghi nhận được thì một người tù có thể được hưởng đặc xá sau khi đã thi hành 1/3 bản án. Tại buổi họp chúng tôi được họ cho biết là phải sau 2/3 thời gian thụ án mới được ân xá.
Sau đó, chúng tôi có nghiên cứu lại thông tin dựa trên quyết định đặc xá của chủ tịch nước và dựa trên luật pháp của Việt Nam, thì quả đúng là sau 1/3 thời gian chấp hành án thì tù nhân có thể được ân xá. Như vậy, thông tin chúng tôi đưa ra ngay từ đầu là đúng, nhưng chúng tôi đã tôn trọng phản biện của Hà Nội khi họ khẳng định là phải 2/3 thời gian thụ án.
Sau cuộc đối thoại, chúng tôi đã gửi văn bản khẳng định rằng những thông tin chúng tôi ghi nhận qua các tài liệu của nhà nứơc Việt Nam cho thấy thời điểm có thể được đặc xá là sau 1/3 thời hạn thụ án. Tóm lại, cho dù trong buổi gặp gỡ chúng tôi có nói rằng nếu chúng tôi có nhầm lẫn trong vấn đề cụ thể này thì chúng tôi xin lỗi, nhưng hoá ra chúng tôi đã đúng. Chúng tôi đang chờ hồi âm của phía Hà Nội về việc này ra sao."
|