banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Hoàng Khởi Phong và Hai người đội mũ

 

Sơn Trung

Tên thật tác giả là Nguyễn Vinh Hiển, sinh năm 1943 tại Hải Dương, định cư tại Hoa Kỳ từ 1975. Chủ nhiệm tạp chí Văn Học, Hoa Kỳ (1989-1992).
Tác phẩm đã xuất bản:
thơ
Mặt Trời Lên (Đại Nam Văn Hiến 1967)
Phục Hồi Quyền Chức Làm Người (1970)
truyện
Trong Hoàn Cảnh Khác (1972)
Ngẩng Mặt Nhìn Trăng Sáng chung với Hoàng
(Chính Nghĩa, Bố Cái,1978)
Ngày N + (hồi ký, Văn Nghệ 1988)
Thư Không Người Nhận (Tân Thư &Thời Văn 1991)
Hai người đội mũ (1996) là một truyện ngắn, viế t về hai thương phế binh, một chàng đội mũ lưỡi trai, một chàng đội mũ tai bèo. Hai chàng cùng trú ngụ tại nghĩa trang đường Nguyễn Kim, Sàigòn và cùng gặp nhau, chuyện trò với nhau. Chiến tranh là phi lý, là bất công, là lừa dối tàn nhẫn. Trong cuộc chiến Việt Nam, phe quốc gia thất bại, tan nhà nát cửa, phải làm thân nô lệ đã đành, mà anh chiến binh cộng sản cũng trở thành phế nhân trong khi bao tư bản đỏ sống huy hoàng.
Anh thương binh cộng sản bị mù mắt, ra khỏi bệnh viện được ban Quân quản cho ở một chỗ tạm nuôi cơm ngày hai bữa. Một số thương binh bỏ ra ngoài ăn xin vì cơm trong trại quá tệ... Anh nhập cuộc với họ... Một hôm trong lúc anh vắng mă.t...toàn thể thương binh trong trại được đưa lên xe tống về ngoài Bắc hết.... Nhiều năm nay, anh đầu đường xó chợ, Anh tưởng rằng đã hy sinh một phần thân thể cho chiến thắng sau cùng thì anh phải được đãi ngộ đền bù xứng đáng với phần thân thể anh bỏ lại nơi chiến trường. Mãy năm gần đây... anh bị công an áo vàng xua đuổi như những con chó ghẻ. Khi chiến tranh đã tàn, thì cái mũ tai bèo và một vài huân chương đeo trên ngực, làm cho anh được nể nang phần nào...Thế rồi càng ngày, mọi chuyện càng tồi tệ hơn. Tiền tháng dành cho một thương binh chỉ ăn thôi cũng không đủ.
Tác giả đã đưa một giải pháp: cả hai là nạn nhân của chiến tranh, cả hai muốn cộng tác để sinh tồn:
Tôi với anh bạn cùng cần sống hợp lực lại thì dễ hơn là lầm lũi một mình.
Cả hai hợp tác bằng cách anh mũ lưỡi trai hát, anh mũ tai bèo đánh đàn. Đó là một dự định. Trong thực tế, cả hai đã hợp tác bằng cách sống chung hòa bình.
Lưỡi trai và Tai bèo bây giờ ở chung trong một cái nhà mồ, nhường một cái nhà mồ cho một gia đình mới đi kinh tế về.. Không ở chung cũng chẳng được nào vì ban ngày cả hai đi kiếm ăn, cần phải có một người trông nhà, không sẽ bị người khác chiếm chỗ.
Người nào cũng thích chủ nghĩa nhân đạo và thích đoàn kết, xóa tan hận thù. Đa số nhân dân ta yêu chuộng hòa bình nhưng cộng sản thì không bao giờ muốn hòa bình. Nhưng từ bao lâu con người đã nhân danh công bằng, tự do, dân chủ mà tàn sát con người. Quan điê? m của Hoàng Khởi Phong là nhân đạo nhưng đi sâu vào thực tế Việt Nam, chúng ta không khỏi thấy những điều chua chát. Biế t bao giờ người Việt Nam mới trở lại quân bình, Bắc Nam mới thực sự thống nhất? Phải có ngày đó nhưng bây giờ thỉ chưa. Người cộng sản muốn một mình cai trị quốc gia, đất nước là của riêng đảng cộng sản, không bao giờ cộng sản san sẻ quyền hành cho nhân dân, cho nên đừng nghĩ đế n hòa hợp, đoàn kế t dân tộc, tự do, và đa đảng. Cộng sản muốn bóp cổ nhân dân, không cho nhân dân có tự do, cho nên không bao giờ có sự hòa hợp, hòa bình. Hòa bình thật sự là khi hết cộng sản, có tự do bầu cử, có hiến pháp công nhận quyền tự do của nhân dân. Những lời nói hòa hợp hòa giải chỉ là đầu môi chót lỡi cũng như Hồ Chí Minh trước đây hô hào ''Đoàn kế t! Đoàn kế t! Đại đoàn kế '' nhưng liền lúc đó ông cho bộ hạ giế t bao lãnh tụ tôn giáo, chính trị và các đảng viên các đảng phái quốc gia. Chúng ta không thể tin các lãnh tụ cộng sản, và cũng khó tin ở một số cựu chiến binh cộng sản dù họ nay đứng đối lập hay bỏ ra nước ngoài bởi vì vi trùng cộng sản đã ăn sâu tâm can tì phế họ.
Chúng ta yêu nước Việt Nam nhưng Việt Nam có ba hạng người.
- Hạng thứ nhất là cộng sản gộc
- Hạng thứ hai là đảng viên cộng sản hay dân chúng theo ý thức cộng sản
- Hạng thứ ba là dân chúng tiến bộ, sáng suốt thấy rõ dã tâm của cộng sản.
1. Hạng thứ nhất là cộng sản gộc
Họ nay thành tư bản đỏ, có vốn hàng triệu, hàng tỷ đô la Mỹ. Hạng này muốn ngồi mãi để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ sẵn sàng bỏ lương tâm, đạo lý và lý tưởng cộng sản mà họ đã tuyên truyền lúc trước. Bao lâu nay họ trộm tài sản nhân dân, tham nhũng, hối lộ, và bán nước cho Trung Cộng để cầu sự bảo hộ của Trung Cộng. Họ đã đem dân đen đi bán khắp nơi trên thế giới, để cho nam thì thành nô lệ, còn phụ nữ thì thành gái giang hồ. Cộng sản chủ trương độc tài, độc đảng để bè đảng của họ một mình hưởng lợi., không bao giờ chia phần cho nhân dân, mà trái lại là bóc lột nhân dân, cướp tài sản nhân dân và tài sản nông dân. Vụ Dân Oan ở Hà Nội, Sàigòn và Hâu Giang là những minh chứng cho lỏng gian tham và phản quốc của cộng sản. Võ Văn Kiệt và bọn trung ương đảng dã đưa ra nghị quyế t đánh phá hải ngoại. Bao nhiêu sư sải, linh mục quốc doanh hoặc bọn công an cộng sản giả danh người tu hành để kêu gọi về nguồn, cứu trợ, hòa hợp hòa giải cũng chỉ là để vơ vét tiền bạc ở hải ngọai đem vê dâng cho chủ nhân của chúng. Trong khi Hòa thượng Thích Quảng Đô, hòa thượng Thích Huyền Quang, linh mục Nguyễn Văn Lý bị giam cầm hoặc quản thúc thì lại có một số tu sĩ lại được ra ngoại quốc là tại sao? Họ chính là nhũng tay sai cộng sản ra ngoài để thực hiện việc thu tiền bạc cho cộng sản và tuyên truyền cho những việc lừa đảo đối trá của họ.
2. Hạng thứ hai là cán bộ hoặc dân chúng bị nọc độc cộng sản tuyên truyền.
Bọn này căm thù chính thể quốc gia và người quốc gia. Hạng này còn khinh miệt người quốc gia vì họ cho họ là đỉnh cao trí tuệ, bách chiến bách thắng. Hạng này gồm những người dân hay đảng viên, trong đó có những văn thi sĩ. N hư Dương Thu Hương từng kết tội biệt kích cộng hòa giết hại phụ nữ miền Bắc. Khi vào trong Nam bà ca tụng chủ trương kinh tế mới của cộng sản, và mai mỉa những phụ nữ son phấn, những người làm nghề sơn móng tay... Nay bà đã sang Pháp, và khi về Việt Nam, chắc bà cũng thấy Việt Nam bây giờ ăn mặc như thế nào. Và nếu bà sang Trung Cộng hoặc đọc tin tức quôc tế thì bây giờ các nhà tư bản đỏ cũng ham các kiê? u cách thời trang, thích vàng ngọc, châu báu, còn đàn ông thí thích những cửa hàng Âu châu tại Hoa Lục với màn ''nhất dạ đế vương''. Không biế t sau bao năm mở cửa và bao lượt ra ngoại quốc, bà có bớt lòng căm thù người quốc gia, bọn tư sản, bọn Mỹ ngụy? Cha con Vũ Thư Hiên bị cộng sản bắt giam, và ông tố cáo Hồ Chí Minh làm bao việc gian ác, trong đó có vụ giế t hai chị em Nông Thị Xuân nhưng Vũ Thư Hiên vẫn cho rằng Hồ chí Minh là người tốt, Đảng Đại Việt, Quốc Dân đảng là kẻ thù, và chủ nghĩa cộng sản vẫn có ý nghĩa nhân bản. Về phía nhân dân miền Bắc, khi họ đào thoát sang Hồng Kông lại tổ chức kỹ niệm ba mươi tháng tư và đánh người Nam tại đây? Tại sao từ bỏ ngục tù cộng sản mà lại kỷ niệm chiến thắng Mỹ? Phải chăng họ chỉ là những gián điệp của cộng sản gửi ra nước ngoài, hoặc họ chỉ là những kẻ đi ra nước ngoài vì kinh tế chứ không vì ý thức chính trị. Nói lên điều này chúng ta phải nhìn vào thực tại chứ không phải mơ mộng hay tung sa mù như Hoàng Khởi Phong và bao nhiêu kẻ khác. Không phải riêng Hoàng khởi Phong, miền Nam cũng có nhiều người hiền lành và thông minh sau 1975 đã chủ trương hòa hợp, hòa giải, cùng anh em thân thích miền Bắc lập hợp tác xã để kinh doanh, và nhờ anh em cán bộ ngoài đó đứng tên mua nhà cửa. Không đầy vài tháng các anh em miền Nam mới thấy rõ việc hòa hợp hòa giải với anh em miền Bắc là một điều phiêu du vì tiền bạc và nhà cửa đều mất sạch. Nhiều người đi ra nước ngoài trước 30-4-75 nên không hiểu cộng sản trong đó có Hoàng Khởi Phong..
3. Hạng dân chúng tiế n bộ. Hạng này cũng là nạn nhân cộng sản và cũng có liên hệ anh em, bạn bè với người quốc gia thì may ra có thể hòa họp hòa giải. Nhưng thông cảm và hòa hợp 30%, 40%, 60% hay 80%? Chỉ có thực tế mới trả lời vấn đề này.
Có lẽ Hoàng Khởi Phong quá lạc quan mà cũng quá bí quan. Ông lạc quan khi ông chủ trương hòa hợp hòa giải, nhưng ông bi quan khi viế t về thân phận người phế binh cộng sản. Có lẽ một vài người phế binh cộng sản phải ăn xin, nhưng đa số thì không đến nỗi. Cộng sản là một tổ chừc Mafia. Họ lợi dụng người chiến binh khi mạnh khỏe, và khi người chiế n binh què cụt hay chết đi, họ cũng lợi dụng đưọc.Tại Sàigòn, sau 30-4, có những đoàn xe bộ đội trùm kín xe, chở nặng, trên xe các thương binh trí đại liên đứng thủ. Vùng Tân Sơn Nhất là giang sơn của phe bộ đội, mặc tình mở sóng bài, chiếu phim sex, và bia ôm, càfé ôm, công an không dám động chạm đến. Nơi đây, các thương phế binh được tận dụng. Xe lửa Việt Nam trong khoảng 1975- 1995 là phương tiện chuyên chở hàng hoá của thương phế binh đỏ, dọc ngang tung hoành, không ai dám đương cự. Như vậy thì phe bộ đội cũng ngon lành, công an là tỷ phú thì bộ đội cũng triệu phú hay chuẩn tỷ phú chảng phải chơi! Công an ăn ở thành phố, kiểm soát ngân hàng, các rạp hát, các nhà hàng, các quán cà phê, tiệm phở, còn bộ đội thì lấy núi rừng làm vương quốc riêng của họ, họ đốn gỗ xuất cảng, buôn lậu qua biên giới cũng ngon lành lắm! Có gì hiê? m nguy thì đưa mấy thương phế binh lãnh đạn là xong! Dẫu sao, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, bộ đội được tuyên dương là anh hùng, thì thương phế binh cũng chưa đến nỗi ăn mày! Vả đa số anh hùng bộ đội CS thường tự hào trí tuệ và bách chiến bách thắng, khi thành thương phế binh, e không coi thằng phế binh ngụy là bạn đâu! Sự kết đoàn, sự hòa hợp của Hoàng Khởi Phong trên lý thuyế t có thể là tốt nhưng đàng sau là gì. Viên thuốc bọc đường ngọt ngào là thần được hay thuốc độc? Theo kinh nghiệm thực tế thì đó là thuốc độc sản xuất từ một công ty mạo hóa.
Sơn Trung

 

 

Gương xưa tích cũ: Chạy được sao em?

Mõ Sàigòn (SGT)

Ngụy vương một hôm lâm triều để bàn việc quốc gia, mới hỏi triều thần rằng:
- Ngoại công, nội kích, cái nào quan trọng hơn?
Tể tướng Vương Bưu đang đứng ở đầu hàng, thấy câu hỏi quá dễ ăn, bèn vọt miệng thưa:
- Muôn tâu! Ngoại thì xa, nội thì gần. Xem như thế đủ biết nội nguy nhiều hơn ngoại, nên chiến trận mau hơn. Nhấp nháy đã biết phần thua, thắng.
Ngụy vương hớn hở mặt rồng. Vuốt râu nói:
- Được! Được! Theo tin tình báo gởi về, thì nước Kinh mỗi ngày một suy yếu. Phần thì mùa màng thất bát, phần thì nhảy nhót quanh năm, phần thì công bộc lo vui chơi mà không thèm trách nhiệm. Nay ta muốn tận dụng cơ hội trời cho để mở mang bờ cõi, đem sự yên lành đến cho bá tánh muôn dân, hầu gom về một mối, thì phải làm sao?
Vương Bưu vòng tay đáp:
- Hoàng hậu nước Kinh là Trịnh Tụ, nổi tiếng về ghen. Nay đánh vào chỗ đó thì bình tâm chắc cú.
Ngụy vương nghệch mặt ra một chút, rồi tức tốc nói:
- Trịnh Tụ nổi tiếng về ghen. Do đâu mà ngươi biết?
Vương Bưu sảng khoái thưa:
- Mùa đông năm trước, bệ hạ có sai hạ thần đi sứ sang Kinh để tỏ tình hòa hiếu giữa hai nước. Lúc đến nơi, thấy kinh thành nhộn nhịp, lại giăng đèn kết hoa. Hạ thần lấy làm lạ, bèn hỏi vị quan coi nhà quốc khách: "Bây giờ là mùa đông. Tiết trời không thuận lợi cho việc tổ chức hội hè, mà nước của ngươi cũng đã có hoàng hậu. Nay lại giăng đèn kết hoa, là nghĩa làm sao?". Vị quan ấy đáp: "Liễu Thanh, là ái phi được vua yêu chiều thương mến, bỗng chợt nhớ mùa xuân, nên thần dân phải vắt giò lên cổ là vì duyên cớ đó.". Mấy ngày sau, bao nhiêu hoa hòe hoa sói đều bị dẹp hết ráo. Thần lấy làm lạ, hỏi: "Hôm trước thì nhộn nhịp. Nay lặng yên như tờ, là cớ làm sao?". Vị quan ấy nhìn quanh một vòng, khi chắc là chẳng có ai, liền nhỏ giọng đáp: "Lấy cớ là tiêu xài hoang phí, lại vong động lòng dân, nên Trịnh Tụ hoàng hậu đã xử Liễu Thanh phải về nơi thôn xóm, mà vua chẳng dám làm gì hết cả!". Xét như thế thì vua thua hoàng hậu, mà một khi vua thua hoàng hậu - thì chỉ cần đụng đến một chữ ghen - ắt cõi giang san sẽ vào nơi giông tố.
Ngụy vương suy nghĩ một chút, rồi ưu tư nói:
- Nếu muốn vua Kinh say đắm, và Trịnh Tụ phải ghen, thì người con gái đó ngoài cái đẹp, còn phải biết hát ca, thêm ít mánh để hớp hồn người hơn nữa, mà ta nhìn qua ngó lại, trong đám cung phi. Thiệt chẳng có một em nào khấm khá!
Vương Bưu vội vã thưa:
- Triệu An Thương, là con gái út của Triệu viên ngoại. Chẳng những am tường đàn ca hát múa, lại còn chuyên trị vũ ba lê. Thiệt là hết ý!
Ngụy vương mát lòng mát dạ, bèn cho vời An Thương đến hậu cung, mà nói rằng:
- Giặc đến nhà đàn bà phải đánh. Ngươi chưa phải đàn bà, nên phải qua tận nước của người ta, để phòng xa cho sớm.
Rồi ngẫm nghĩ một chút, đoạn từ tốn nói:
- Cha ngươi là Triệu viên ngoại. Từ nay ta thăng lên làm Triệu viên... nội, thì tên họ của dòng tộc nhà ngươi, sẽ ngàn sau ghi nhớ.
Rồi lớp thì chọn ngày. Lớp thì trang điểm. Lớp thì trang phục xuân, đông, khiến An Thương tối ngày không kịp thở.
Ngày nọ, vua Kinh được tin có mỹ nữ của Ngụy vương kính dâng, bèn hồi hộp đứng trên lầu Vọng cảnh nhìn xuống. Lúc đoàn tùy tùng đến nơi, Ngụy vương thấy một tà áo trắng bay lượn, dáng mềm mại như bông, khiến cõi lòng rung động. Thảng thốt nói:
- Vợ ta mà được phân nửa dáng đi này, thì dù có phải đổi nửa giang sơn, cũng nhào vô chơi tới!
Từ đó, vua Kinh mê mẫn bên người đẹp, đến độ lũ lụt thiên tai, cũng không màng ngó đến. Phần Trịnh Tụ, một hôm giở sổ ra, chợt phát giác đã quá hai trăng mà hoàng thượng chưa ngự, bèn gọi Hoàn Yên là nữ tỳ thân tín vô. Bực tức nói:
- Vợ chồng như chim liền cánh, cây liền cành, mà đứt đoạn hai trăng, là cớ làm sao?
Yên ú ớ đáp:
- Chim bỏ cánh. Cây bỏ cành, là vì có cái... đã hơn mà thay thế. Chỉ có vậy thôi!
Tụ nghe vậy, mặt mày bỗng đanh lại. Vung tay hét:
- Đồ mới đến hồi nào? Sao ta lại không biết?
Yên rụt rè thưa:
- Chúa thượng đưa tân nhân về Vọng nguyệt cung. Tối ngày lòng vòng trong đó, chẳng bước chân ra ngoài, lại con ban mật lịnh không được kể lại cùng ai, nên đến nay nô tỳ mới biết là vì duyên cớ đó.
Trịnh Tụ! Phần giận chồng giấu diếm, phần tự ái bị tổn thương, nên nghiến răng kèn kẹt. Tức tối nói:
- Ta mà không xử đẹp... con này, thì thề không làm hoàng hậu nước Kinh thêm ngày nào nữa cả!
Rồi ào ào chạy ra phòng ngự thiện tìm dao. Yên hoảng hốt nói:
- Xử tình địch mà mất chồng, ấy là hạ sách. Xử tình địch mà giữ được chồng, ấy là trung sách. Xử tình địch mà chồng vẫn nghĩ mình là người rộng lượng bao dung, rồi sinh lòng hối hận, đến nỗi tự nguyện với bản thân sẽ không màng đến chuyện gió trăng, mới là thượng sách. Nay nô tỳ có một cách. Chẳng những mang được hoàng thượng về bên cạnh nương nương, mà cho tới chết vẫn cảm phục nương nương là người tuyệt diệu...
Trịnh Tụ. Máu đang bốc là vậy, bỗng nghe câu chồng quay lại í ơi, thời cơn giận đã bay gần phân nửa, liền dịu giọng nói:
- Ta cần chồng chớ không cần tiền. Nếu ngươi đưa được hoàng thượng về bên cạnh của ta, thì cả đống trong lu coi như là của ngươi vậy.
Yên rạng rỡ mặt mày, bèn ghé miệng vào tai của Trịnh Tụ mà hót. Chẳng biết Yên hót gì, nhưng sắc mặt của Tụ từ tái ra tươi, từ tươi chuyển qua những nụ cười thích thú.
Một hôm. Trịnh Tụ tự thân đến Vọng nguyệt cung, tha thiết mời vua Kinh và tân nhân tối mai đến cung mình dự tiệc. Kinh vương thấy vậy, mới bụng bảo dạ rằng: "Cây kim giấu trong bọc lâu ngày cũng lòi. Hà huống nguyên mạng người như thế này. Lẽ nào giấu mãi mà êm được hay sao? Chi bằng cứ gật đầu ưng chịu, rồi tùy theo hoàn cảnh mà nặng nhẹ tính sau, thì mới yên chí mà sống đời vui được.". Nghĩ vậy, liền gật đầu cái rụp. Lúc Trịnh Tụ đi rồi, An Thương mới lắp bắp nói:
- Tiện thiếp ở đây chỉ có một mình bệ hạ là người thân. Nếu xảy ra chuyện gì, thì không biết thần thiếp sẽ giải quyết làm sao đây nữa?
Kinh vương với tay kéo An Thương ngã nhẹ vào lòng. Âu yếm nói:
- Giang sơn lỡ mất đi, vẫn có ngày khôi phục. Chớ mỹ nữ mất rồi, thì dù có cả... trái đất này, cũng chẳng thể nào kiếm lại được đâu! Vậy, nếu Trịnh Tụ để yên, thì vẫn tiếp tục làm hoàng hậu. Cầm bằng như đụng chạm đến nàng, thì chẳng những ngôi vị mất đi, mà còn không được ở nơi đây phút giây nào nữa cả!
Đến giờ hẹn. Xa giá đưa Kinh vương với An Thương đến nơi, đã thấy Trịnh Tụ ở thềm mau đón tiếp, rồi nào đàn nào nhạc, nào rượu ngọt món ngon, nào không khí tươi vui khiến Kinh vương nhất mực hài lòng, bỗng Trịnh Tụ nghiêng người qua cười với An Thương. Roi rói nói:
- Muội về đây mang lại sinh khí cho bệ hạ. Tỷ rất đổi vui mừng, bởi lá vàng cứ theo mùa rơi rụng, mà tỷ lại kém tài, nên không thể giúp hoàng thượng vơi bớt nhọc nhằn trong tâm tưởng. Nay nhờ muội tiếp tay, khiến tỷ trong phút chốc tan đi nỗi lo nằm trong gan ruột, nên mượn tạm cuộc vui này, để trước là tỏ lộ thành tâm, sau có ít gấm quý tặng cho người ơn nghĩa.
Rồi hướng vào trong vỗ tay một cái. Thế là hoa gấm lần lượt đi ra, khiến An Thương rạng ngời trên nét mặt. Còn Kinh vương nhè nhẹ vuốt râu. Sảng khoái nói:
- Phu nhân biết ta đem lòng yêu mến tân nhân, mà cũng lại đem lòng yêu mến tân nhân nữa, khiến ta vô vàn cảm động, xao xuyến từng cơn. Thiệt là tôi trung thờ vua cũng khó tâm thành cao hơn thế!
Đoạn, ngửa cổ ra mà ực. Lúc trở về tới hậu cung, mới ngã người vào An Thương. Cao hứng nói:
- Trịnh Tụ chẳng những không ghen với ái khanh, mà con đem lụa là dâng biếu. Vậy mối lo gan ruột của khanh từ nay không còn phải lo nữa!
An Thương cảm như nở từng khúc ruột. Mau mắn nói:
- Vậy trong tháng ngày tới. Thiếp phải làm sao?
Kinh vương khoan khoái đáp:
- Giữ tình hòa hiếu với Trịnh Tụ. Nếu không làm lớn lên được thì cũng đừng làm nó nhỏ đi. Cứ như thế thì duyên nợ hai ta sẽ ngàn hôm gắn bó.
Khoảng thời gian sau, khi trải qua không biết bao nhiêu là... tình cảm chị em. Tụ đã tạo được niềm tin trong lòng của An Thương, khiến An Thương mất đi lòng cảnh giác. Lúc ấy, Tụ mới gọi Hoàn Yên đến mà nói rằng:
- Quân tử mười năm trả thù cũng chưa muộn. Ta không phải là quân tử, nên không thể chờ đến mười năm. Vậy làm sao chơi tới?
Hoàn Yên nhỏ giọng đáp:
- Xúi nó đào lỗ tự chôn mình, thì tâm ý của nương nương, vẫn ngàn năm che dấu!
Tụ gật gù cho là phải. Một hôm, Tụ mời An Thương đến chơi, rồi nghiêm mặt nói rằng:
- Hoàng thượng yêu mến muội lắm, nhưng ghét cái mũi của muội. Vậy từ nay mỗi lần kề cận bên vua, muội phải cố hết sức che mũi mình mới được.
Mấy ngày sau, Kinh vương đến nơi Trinh Tụ chơi, bất ngờ nói:
- Tân nhân trông thấy ta mà cứ che mũi, là nghĩa làm sao?
Trịnh Tụ từ tốn đáp:
- Thiếp nghe An Thương nói: "Hơi thở của bệ hạ có mùi nặng. Không thể chịu nỗi, nên phải che mũi là vì duyên cớ đó!".
Kinh vương bỗng phừng phừng lửa giận, bèn cho gọi tả hữu đến. Tức tối quát:
- Lôi ra ngoài thành. Xẻo mũi nó đi đặng làm gương cho bá tánh!