Tháng Sáu nhớ... bài ca không quên
Phan
Tháng Sáu. Đơn giản là sáu tháng đầu năm đã qua mà vẫn chưa làm được gì. Sáu tháng cuối năm sẽ làm được gì đây? Hay rồi cũng như sáu tháng đầu năm! Thời gian cứ lặng lẽ đánh cắp tuổi đời của chúng ta đi, có phiền trách thì nó trả cho mớ tóc bạc để ngồi bàn trưởng thượng trong những cuộc họp mặt thân quyến. Mới ngày nào, trong nhà đám giỗ, tôi thuộc loại coi xe hay chạy đi mua nước đá cho người lớn uống bia. Bây giờ đã có cháu gọi bằng ông Uốt. Bọn nhỏ lăng xăng như tôi ngày xưa, bao giờ chúng gọi nhau về ăn giỗ ông Uốt?!
Sáng nay thức dậy, ngồi với ly cà phê thường ngày. Sáng tháng Sáu chưa gì đã hâm hấp nóng. Hệ thống tưới cỏ tự động, làm công việc của nó đúng giờ như một người công nhân gương mẫu. Nhờ hơi nước bay bay mà nghe mát mẻ, tinh thần sảng khoái. Tháng Sáu với tôi nhiều kỷ niệm vì tôi có nhiều người bạn cùng sinh tháng Sáu. Trừ tôi ra, những người sinh tháng Sáu đều trai tài; gái sắc. Tháng Sáu có ngày Father's Day (Ngày của Cha). Tôi ngồi nghe những âm xưa trong tiếng lá xào xạc với chút gió đầu hè sáng sớm. Chợt nhớ hai câu: Tâm dụ phụ thân sinh bất lão/ bất ly phụ tử khả vô sầu. Muốn viết hai câu nữa cho thành bài tứ tuyệt, nhưng tới đó bí... và đã hơn hai mươi năm. Phải chăng khi cảm xúc qua rồi thì cảm tác cũng khó! Ngồi đọc lại đoản văn cũ mà tôi đã viết năm 1982 về người cha không còn nữa trong cảm nhận về ơn nghĩa sinh thành.
Đêm. Tôi vô bệnh viện với cha tôi đã nằm trong đó cả tháng nay. Làm vệ sinh cho cha tôi xong. Cho ăn, uống thuốc... báo cáo tình hình gia đình, đài BBC nói gì... Cha tôi yên giấc trong tấm đắp phập phồng làn hơi yếu ớt. Nhìn mấy ông già tỉnh lẻ chung quanh thiếu người chăm sóc, còn thảm thương hơn, khó ai cầm lòng cho đặng. Tôi giúp người này, lại không bỏ được người kia. Hỏi han người nọ... cuối cùng mệt phờ, mới hiểu sao y tá ở bệnh viện Việt Nam ít cười! Tôi đi tìm không khí để thở.
Ngoài trời đã tối đen như mực, mặt trời lặn tự bao giờ? Màn đêm buông xuống phố phường một màu đen ảm đạm, những bóng me cổ thụ rộng tàn đu đưa tí gió đêm trên tầng cao. Không gian ngộp thở của đường phố đã trở lại yên ắng phần nào cho những sinh hoạt về đêm của lề đường không đèn. Những cô gái ăn sương tề tựu dưới hàng me đêm. Nói cười, chửi rủa nhau ơi ới... Vài chiếc xích lô đạp tạt qua - chóng vánh rồi đi. Tôi ngồi trên lan can lầu một của bệnh viện vì trong phòng mùi ê-te nồng nặc, mùi bệnh nhân nằm lâu - ít tắm, mùi toilet thiếu nước dội và người lau chùi, mùi nước tiểu nồng nặc hơi thuốc tây... thật khó phân biệt sinh khí và tử khí nơi đây.
Nhưng cũng không bằng tiếng rên rỉ của những người già bệnh hoạn nghe quá thê lương so với tuổi đời quá trẻ của tôi. Thần Chết cứ lởn vởn đâu đây để cắp đi những sinh linh thừa thãi trong cuộc sống bon chen từ miếng ăn, giấc ngủ... từng ngày.
Tôi nghĩ dại. Chết như mấy người lính trong phim Thế chiến thứ hai: băng ngang giao thông hào, trúng viên đạn rồi lăn ra chết vậy mà khoẻ hơn chết già, chết bệnh... chết trong cô đơn như ông Tư đêm qua. Con gái ông tên Lựa (chả biết ông Tư lựa kiểu gì mà cô con gái đen nhẻm như Miên). Lựa nhờ tôi coi chừng ông Tư cho cô ấy về quê ở Rạch Sỏi, lấy thêm tiền lên mua thuốc, tiền ăn ở, tiền viện phí... Chắc nhà không có tiền sẵn nên cô ấy phải chờ gia đình xoay xở. Ở đây ông Tư đi lặng lẽ không người thân. Tội nghiệp hết sức. Tôi lại nhớ Sư cô ngoài Chùa sư nữ mà mẹ tôi ưa đi. Sư cô nói: "Sự chết thanh thản hay vật vã là bằng chứng của sự sống lương thiện hay gian ác!" Sư cô nói lúc tôi còn nhỏ nhưng nhớ lắm, vì lần đó ông Hai Dữ trong xóm làm nghề thọc tiết heo. Ông rống lên như heo bị thọc tiết mấy ngày mà không chết được. Người ta phải lấy con dao hai lưỡi mà ông đã thọc tiết heo cả đời, giả bộ thọc sát bên cổ ông, lưỡi dao cắm xuống giường. Hứng cái xô đựng tiết dưới giường, y như ông đã giết những con heo trong suốt đời ông. Khi đó ông Hai Dữ mới chết được. Gia đình ông thôi làm nghề ấy nữa.
Tôi suy ra ông Tư là một người hiền. Chiều qua tôi xả khăn ướt lau mình cho ông, xin thay tấm trải giường, nhưng người ta nói chưa tới ngày thay. Hình như nơi đây, khi bệnh nhân chết rồi, người ta mới thay tấm trải giường luôn thể, cho người mới bớt sợ! Tôi thay đồ sạch cho ông Tư, cho uống thuốc... Ông không ăn bữa chiều của bệnh viện. Tôi linh cảm ông khó qua được đêm nay. Tôi khuấy cho ông ly sữa, là tôi ăn cắp của một bệnh nhân khác - vào đây đã dăm hôm nhưng chưa chào hỏi ai một câu - gần đất xa trời rồi. Gia đình ông ta người Tàu, chắc có tiền, nhưng người thân sợ lây nhiễm nên không ai vào chăm nom. Cứ bỏ cho y tá với ít tiền "bồi dưỡng" như mướn con ở. Họ lấy tiền tươi rói - xỉa xói ai hay? Người nhà quay lưng với người thân thì họ cũng quay lưng với bệnh nhân. Sống chết mặc bây. Lương y như từ mẫu. Mà "từ" là "bỏ".
Nói đến sữa thời ấy là một thứ xa xỉ, đắt đỏ. Không phải ai cũng có tiền mua. Trộm cắp như rươi trong bệnh viện. Gặp hoài hình ảnh một người già đi không vững trên đôi chân, vịn thành giường lần từng bước vào toilet nhưng nách không rời hộp sữa đặc có đường. Chẳng phải đem vào pha chế gì trong đó. Chỉ vì để ngoài thì hộp sữa không cánh mà bay. Trộm cắp nơi nơi. Cả nước ăn trộm. Tôi cũng là một thằng ăn trộm làm nhơ danh Lương Sơn Bạc. Dù không trộm cho mình, trộm của người giàu dư giả chia cho người nghèo thiếu thốn - theo luật 108. May là cha tôi ở tù về, cha tự khẳng định mình: "Tau thuộc thành phần không thể cải tạo... nên chỉ uống cà phê đen. Đời đen như mõm chó rồi con ạ! Uống sữa chỉ thêm trắng lòng."
Ông Tư uống ly sữa tôi ăn cắp được và pha cho ông như Phan Thanh Giản uống thuốc độc, thều thào dặn tôi nói lại với con cháu ông: "Ráng đưa ông về quê chôn cất". Ông đi theo Phật lúc nửa đêm lặng lẽ. Tội nghiệp cho một đời người nông dân hiền lành. Lúc nhắm mắt cô quạnh không thân nhân, một thằng bá vơ - tôi, nhỏ giọt nước mắt cho phận người hơn là tình thân tôi có với ông.
Đêm nay về khuya lành lạnh, lại một người ra đi. Mấy người y công đẩy một bệnh nhân vừa chết xuống nhà xác. Tôi đứng nghiêm, cúi đầu, tiễn biệt người quá cố. (Một thói quen từ bài Công dân giáo dục lớp ba.) Người trung niên ngoài ba mươi đi sau lặng lẽ, nấc lên tiếng lòng thê thiết: "Má ơi..." nghe não lòng. Không biết là vợ hay em gái anh ta đi sau, chị cúi đầu chào lại và cám ơn tôi đã trang nghiêm và thành kính chào tiễn biệt má của chị. Tiếng chị văng vẳng theo hành lang xa dần: "Thôi anh! (đừng khóc nữa) Bình tĩnh đi để lo đưa má về chôn cất". Cũng ngộ - hai người này: Nữ bình tĩnh hơn nam. Tôi giả tưởng nếu là cha tôi... Tôi đang ở đây một mình. Rồi trách mình nghĩ dại. Nhưng nếu là mẹ tôi... Tôi cũng như anh kia thôi. Con gái thương mẹ kiểu chia sẻ, con trai thương mẹ thầm lặng hơn. Tiếng lòng con trai đã ứa ra là hết rồi.
Hành lang bệnh viện về khuya, sương đêm rờn rợn da người. Khơi khơi tôi nghĩ về bà già mới chết. Một mẹ cùng hai con. lê la trên đường mòn... Bây giờ chỉ còn hai con. Mồ côi liếm lá đầu đường. Nghĩ về người mẹ di cư của tôi - canh cánh bên lòng quê cha đất tổ - mù khơi. Nghĩ về người-mẹ-Việt-Nam. Tôi chẳng thấy người mẹ nào sung sướng. Toàn những người mẹ âm thầm theo cách riêng của mình để nuôi dạy đàn con. Khi con lớn thì mẹ đã già. Sống như cái bóng không còn che mát được cho ai nên ưa bị bỏ quên theo năm tháng. Chợt một ngày biếng ăn, lười nói... Mẹ thầm lặng ra đồng coi như xong một kiếp người không may - trời sinh ra làm Mẹ. Đời người phụ nữ quê tôi. Không nghĩ thì thôi. Nghĩ đến là muốn ứa nước mắt.
Ngoài bờ tường bệnh viện nhộn nhịp sự sống về đêm. Những câu thô lỗ giọng nam, giọng nữ cứ réo rắt như bản tình ca hè phố rồi theo màn sương đêm lắng dịu. Tiếng con nít khóc khàn do đói và vòi mẹ làm tôi chú ý. Ở gốc me, người mẹ trẻ đang ngã giá với khách hàng là tên ma cô đầu đường xó chợ nào đó. Sự thoả thuận miễn cưỡng diễn ra chóng vánh, họ tự nhiên hành lạc như thú hoang lạc đàn. Đứa bé cứ khóc, bò quanh chân họ. Tên ma cô đá nó, nó khóc ré lên. Mẹ nó xô tên ma cô ra, cãi vã... Hai bên lại xáp vô bản hợp đồng theo luật cung cầu của Tạo hoá trừng phạt con người. Đứa bé cứ khóc, bò quanh như người giám thị tinh tường. Một chứng nhân lịch sử của nước mất nhà tan. Thời kỳ quá độ của Sàigòn đổi chủ. Phất phơ lá cờ máu trong sương đêm bên ngôi nhà ai vừa bị đánh tư sản hay đã vượt biên gì đó. U hoài.
Tôi ngồi nhìn sinh hoạt nửa đêm dưới lề đường Xã hội chủ nghĩa và viết đúng lý thuyết đã học: "Văn học phải phản ánh trung thực đời sống. Văn học phải phục vụ đời sống của nhân dân lao động..." Tôi viết:...
Người mẹ đĩ da xanh tóc rối Xoã xuống đời bóng tối mây mưa,
Lấm thân còn bị lọc lừa,
Nhân danh thời cuộc có chừa ai cho
Mẹ ngồi đón khách co ro
Đêm về ong bướm tò mò tìm hoa
Thượng vàng hạ cám trẻ già. Cung cầu theo luật được là trao tay
Bằng lòng kẻ được người may. Phải đứa mặt dày ăn quỵt còn la.
Nhân gian một cõi ta bà
Mẹ ngồi câu độ canh tà hiện sinh
Lẳng lơ cúc áo vô tình
Hay là cố ý khoe bình sữa tươi? Thương người mẹ đĩ đôi mươi.
Bỏ con không nỡ nên người bán thân
Von bò con khóc quẩn chân
Ma cô tức giận bớt phần tiền chơi
Chửi nhau rân một góc trời
Dù má đù mẹ đã đời thằng coi
Tính không ra kẻ thiệt thòi! Mai đứa bé lớn có đòi được không?
Vì ai mẹ đĩ chổng mông
Thiên hạ là chồng con cái không cha
Màn trời chiếu đất không nhà.
Bán trôn nuôi miệng nghĩa là vinh quang
Phất phơ cờ đỏ sao vàng
Dật dờ váy đĩ cởi nàng bán trôn
Gió lên thốc mộ oan hồn
Âm binh các đảng thả hồn nỉ non
Người coi con mắt mỏi mòn.
Kẻ mua chung cuộc thấm đòn giang mai.
Chúa Trời, Đức Phật là ai?
Bỏ người mẹ đĩ bên ngoài vọng môn
Lời ru đêm vắng mỏi mòn.
à ơi! con ngủ cho tròn tuổi thơ.
Mẹ ngồi thân xác vật vờ
Bên đời hiu quạnh bóng mờ ôm con
Lòng đêm ôm ấp Sàigòn
Bút bi bơm mực mất còn giấy thô
Đường về âm phủ mơ hồ
Chữ nghiêng chữ ngả cơ đồ Việt Nam.
Hiện thực hiện lên trang giấy của tôi. Tôi đang suy nghĩ về tính hiện thực Xã hội chủ nghĩa trong văn thơ cách mạng, trong ký sự của mình. Tiếng ồn bát nháo đánh thức không gian yên ắng về sáng. Chiếc xe vận tải cũ kỹ mang hàng chữ: "Xí nghiệp quốc doanh vận tải số 5", chạy ì ạch trên đường như chuyến xe đời từ từ thắng lại. Công an từ trên thùng xe nhảy xuống. Tiếng la hét khủng bố hoà vào tiếng hét la bị khủng bố. Người người chạy tán loạn. Mẹ đĩ bật dây từ gốc me bên đường, bị kẹt đứa con nên không nhanh chân được. Bị tóm cổ, tống lên thùng xe. Công an cộng sản không bắt con nít theo Hiến pháp Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà bắt chút tiền bán trôn nuôi miệng đang ở trong lưng quần mẹ đĩ. Con nít không có và giữ tiền, bắt nó làm chi. Tiếng gào khóc thất thanh của mẹ đĩ từ van nài đến khóc lóc "con tôi". Cuối cùng là chửi rủa khi người ta bị ức hiếp đến đường cùng. Chửi rủa làm cản trở nhân viên công lực đang thi hành nhiệm vụ là phản động. Mẹ đĩ bị đánh một cái bá súng AK vào lưng. Mẹ oằn người như con chó trúng cây đòn gánh của bà bán rong, rên ử ử... rồi im bặt trong thùng xe khi bị tống vào như người công nhân vệ sinh ném con mèo chết bởi xe cán vào chiếc xe ba gác be ván ép cao đến Thiên đình - cuối thế kỷ 20 - chỉ có ở Việt Nam. Chiếc xe chạy đi như xe bắt chó mới tóm được vài con, phải ra Ông Tạ gấp cho kịp chợ. Đứa bé khóc thất thanh khi bị dứt ra khỏi hơi ấm của mẹ. Nó bò lên Niết bàn hay bò về Âm phủ?! Nó bò tìm hơi ấm và lời ru của mẹ với giấc mơ làm người không thành. Gốc me già không ôm ấp nó nữa vì thần me đã vượt biên nên nó khóc. Bơ vơ. Lạc loài.
Chiếc loa phóng thanh trên cột đèn trong bệnh viện báo sáng bằng giọng hát Cẩm Vân: "...Có một bài ca không bao giờ quên, là lời đất nước tôi chẳng phút bình yên... có một bài ca không bao giờ quên, là lời mẹ ru con đêm đêm... bài ca tôi không quên tôi không quên... tháng ngày vất vả..."
Loa phát thanh chuyển sang phần tin tức buổi sáng - chả có gì đáng quan tâm. Những đồng nghiệp của mẹ đĩ sau một hồi chạy tán loạn đã trở về chốn cũ. Người đàn bà nào đó ẵm đứa bé tội tình trong muôn lời rủa xả bọn công an. Nó biết điều và thân phận nên rúc vào ngực người đàn bà tìm hơi ấm. Nó ngủ ngoan trên tay người đàn bà ấy - chờ sáng. Nhưng mặt trời không bao giờ mọc cho tương lai của nó, dù sáng mai mẹ nó sẽ được thả ra sau khi người ta đã lấy hết những đồng tiền bán trôn nuôi miệng, nuôi con của mẹ đĩ. Những đồng tiền dơ bẩn mà linh thiêng, lẽ ra để mua gì ăn cho nó và mẹ nó. Những người công an béo tốt được nuôi sống bằng vốn trời cho của mẹ đĩ, là Hiện thực Xã hội chủ nghĩa. Từ "vĩ đại" đi kèm với tên lãnh tụ, lẽ ra phải nhường cho mẹ đĩ. Người mẹ vĩ đại nhất trong tư duy hai mươi tuổi của tôi.
Xét về mặt xã hội thì không ai coi trọng mẹ đĩ, nhưng có mắt thấy tai nghe thì mới thấy sự vĩ đại của tình mẫu tử. Mẹ đĩ có thể không biết cha của đứa bé. Nhưng nó. Đứa con thơ là núm ruột của mình nên yêu thương bằng tình mẫu tử thiêng liêng. Hơn những người giàu có, trí-thức-thời... tư bản đỏ mới lên ngôi ở Sàigòn - thời ấy. Cho con đi du học Đông Âu, lấy tiếng có con du học nước ngoài để loè thiên hạ, khẳng định mình thuộc giới thượng lưu đỏ Sàigòn, hơn là thật sự chăm lo cho tương lai con cái.
Cha tôi rọ rạy trong phòng. Tôi vô giúp ông đi tiểu, uống nước. Trở ra với những dòng chữ rất thật của tôi trên tờ giấy mềm vì ướt hơi sương. Trời hừng đông như không có gì đêm qua. Tôi cất mảnh giấy vào túi áo và đến trường. Những nụ cười trên môi của mấy cô bạn học - lạt nhách. Sau khi điểm danh theo thông lệ, tôi trốn lên thư viện. Ngủ không được, viết không được. Viết thật như tờ giấy trong túi áo tôi thì không được chấp nhận, thậm chí còn bị đi tù. Nhưng viết láo toét thì lương tâm để đâu? Sống trong thời buổi lương tâm không bằng lương thực. Nhiều thầy cô đáng kính trước đây đã phải vứt lương tâm vô thùng rác vì miếng cơm manh áo. "Người dạy học phải có cái tâm nhân ái, dạy văn là dạy làm người - học văn là học làm người." Nguyên tắc giáo dục là thế! Nhưng người dạy Văn nay đâu? Người học văn mai đây không thoát vượt biên thì tương lai vô định. Nghĩ đến hai chữ "tương lai" mà ngán ngẩm.
Nhiều năm qua rồi. "Dòng đời" là từ ngữ vừa hay vừa đúng trong tiếng Việt. Dòng đời trôi chảy mãi với tháng năm. Tôi vẫn cất giữ những năm tháng dại khờ, trong đó có Mẹ đĩ như một kỷ niệm không quên. Cất giữ tiếng hát Cẩm Vân với "bài ca không quên". Người ca sĩ có gương mặt buồn như thời đại và đất nước Việt Nam sau "giải phóng".
Nơi này, người ta nghĩ ra Mother's Day (Ngày của Mẹ) để vinh danh, tưởng niệm... người Mẹ - một hành vi nhân bản của loài người tiến bộ. Từ ngữ cộng sản mà lại đúng trong xã hội tư bản. Tôi không quên được người mẹ vĩ đại mà ít nhất một lần tôi đã gọi người là Mẹ đĩ.
Mỗi năm trên quê hương của sự tôn trọng phụ nữ và con nít, ngày Mother's Day lại nhắc nhở tôi chốn quê nhà: Không biết người Mẹ đĩ năm xưa có còn trên cõi đời, vì hành nghề ấy thì làm sao tránh khỏi những căn bệnh xã hội - chết người. Đứa bé năm xưa đã bò được tới đâu trong xã hội "bottom line" (dưới đáy) của nó? Lịch sử rồi qua đi, con người, thời đại cũng qua đi. Tôi lỡ mang ký ức một "chứng nhân lịch sử". Hy vọng tôi là chứng nhân cuối cùng của lịch sử tối đen nơi quê nhà.
Mỗi năm. Nhìn, nghe các con tôi rù rì rủ rỉ trong phòng - khoá cửa, để bất ngờ đem ra cho mẹ một món quà. Tôi thầm cảm ơn Thượng đế đã ban phát ân sủng xuống gia đình tôi. Hạnh phúc nhỏ nhoi của một gia đình tha phương cầu thực. Người chủ gia đình vẫn còn âm ỉ trong sâu xa một ký ức không quên. Ký ức của một chứng nhân lịch sử. Tháng Sáu cho cha tôi chỉ là đọc lại một thời đã qua. Tôi có người cha: "Đời đen như mõm chó rồi con ạ! Uống sữa chỉ thêm trắng lòng."
Phan
Gương xưa tích cũ: Làm sao em dám
Mõ Sàigòn (SGT)
Du Cẩn Am, là con nhà dòng dõi ở Thuận yên, có dịp vào kinh đô chơi nên trọ ở ngoại thành, thường gặp một thiếu niên ở trước cửa, dáng người tuấn tú thanh cao, nên đem lòng cảm mến, bèn nhân buổi trời trong gió lặng, mà nói với thiếu niên ấy rằng:
- So về niên kỷ, thì huynh nhiều tuổi hơn. Vậy sao không kết nghĩa đệ huynh cho tình thêm gắn bó?
Thiếu niên từ tốn đáp:
- Đệ thuộc hàng dân dã, trong khi huynh xuất thân từ dòng dõi thế gia. Mần răng cân xứng?
Cẩn Am cười vang nói:
- Là người. Quý ở cái tình cái nghĩa. Chớ nào phải ở cái lợi cái danh. Sao đệ lại chấp vào cái... hư nhiều đến thế?
Thiếu niên lí nhí đáp:
- Chim cùng lông thì bay cùng đàn. Lẽ tự nhiên thường ra vẫn thế. Nay huynh tự ý bỏ đàn của mình, để kết bạn với se sẻ bồ câu, thì đệ nhứt định phải choàng tay ra đón.
Rồi giới thiệu là người ở Kim lăng, tên là Tuấn Cửu, đoạn kéo nhau vào quán lẩu kế bên để hàn huyên cho sướng. Qua ngày mai, Am đến nhà trọ của Cửu để đáp tình chủ khách, thời thấy thư phòng gọn gàng, bếp sạch như lau, bèn ngạc nhiên hỏi:
- Nhà không có nô bộc, lại thiếu cả tiểu đồng, mà ngăn nắp được như ri. Thiệt khiến cho huynh phải nổi lên điều thắc mắc!
Cửu dõi mắt nhìn vào trong, rồi chậm rãi đáp:
- Những gì huynh nhìn thấy, là... công trình muội của đệ. Chớ tự sức lực của bản thân, đệ không thể ngon lành y như thế!
Đoạn quay mặt vào trong. Lớn tiếng nói:
- Tố Thu. Mau ra hành lễ với đại ca, và phải nhớ mang chung trà ra để huynh đây tỏ lòng hiếu khách.
Rồi một thiếu nữ khoảng mười sáu tuổi bước ra, tóc chấm ngang vai, trắng nõn trắng nà, tay bưng tách trà mời khách, khiến Am mới liếc nhìn đã rúng động tâm can. Thảng thốt nói:
- Nội trợ ngon lành, lại thùy mỵ đoan trang, thêm hiền ngoan ít nói. Thiệt là phước đức cho ai được cùng muội kết chữ phu thê, dài lâu gắn bó.
Thu nghe vậy, bỗng nở nụ cười tươi. Nhỏ giọng hỏi rằng:
- Sao đại ca lại thêm chữ... ít nói vào ở trong đó, là nghĩa làm sao?
Am mừng rỡ đáp:
- Sức mạnh của người phụ nữ nằm ở chỗ... nói nhiều. Nay bớt đi một chút. Lẽ nào không khoái mà tin được hay sao?
Từ đó thường qua lại với nhau, tưởng như thân yêu còn hơn ruột thịt, đôi khi Am muốn Cửu ngủ lại chỗ trọ của mình, nhưng Cửu nhất mực từ chối, lại còn nói với Am rằng:
- Em đệ đang còn nhỏ, ở một mình không tiện. Nếu lỡ xảy ra chuyện gì, thì trước mặt của tông môn. Mần răng ăn nói?
Ngày nọ, Am tính chuyện về quê, mới gọi Cửu đến mà nói rằng:
- Hiền đệ ở xa quê hàng nghìn dặm, không có lấy một tiểu đồng đần đỡ sớm hôm, mà hai anh em lại yếu ớt thì làm sao sống nổi? Chi bằng về Thuận thiên với huynh. Ở đó có căn nhà nhỏ, có thể ở tạm. Chẳng hay ý đệ thể nào? Cứ tình thiệt tỏ ra. Chớ đừng bụng, miệng, khác nhau mà lòng huynh đau xót!
Cửu tươi hẳn mặt mày. Sảng khoái đáp:
- Cung kính không bằng tuân mệnh. Tuy nhiên, trước khi theo huynh về Thuận thiên, đệ muốn mời huynh một bữa. Trước là đáp tạ ơn sâu, sau nghĩa đệ huynh mới trào dâng chắc cú.
Mấy hôm sau, Cửu tự thân mời Am sang nhà mình trò chuyện. Am với tay xách chai rượu với con khô. Cửu gạt tay đi, nói:
- Tố Thư đã sửa soạn chén rượu nhạt và mồi. Xin huynh để lại đây. Đừng thất ý nó!
Đoạn kéo Am qua nhà. Lúc tới nơi, Tố Thư chạy ra thăm hỏi, rồi quay vào bếp. Một lát bưng hai xị bách nhật ra, cùng dĩa cua rang muối. Am lật đật đứng dậy, đỡ lấy mâm cơm, lại mau miệng nói:
- Để muội phải vất vả như vầy. Ai mà yên tâm được?
Tố Thư cười đi vào. Lát sau lại mang ra hai mâm đồ ăn nữa. Lúc ấy, Am mới nghiêm mặt hỏi rằng:
- Anh, tuấn tú phong nhã. Em, công dung ngôn hạnh có thừa, mà vẫn chưa vợ chưa chồng, là cớ làm sao?
Cửu lặng người đi một chút, rồi nặng nhọc đáp:
- Cha mẹ đột ngột mất đi, khiến cửa nhà sa sút, nên chuyện trăm năm chậm trễ là vì duyên cớ đó.
Am lại nói:
- Vợ ta là Hàn thị, mà dòng họ Hàn nội ngoại rất đông. Ta sẽ cố tìm cho hiền muội một tấm chồng xứng đáng.
Lúc ấy Tố Thư đang ở sau rèm, nghe đến chuyện hôn nhân, bèn khe khẽ bước ra. Ngập ngừng nói:
- Một tấm chồng xứng đáng, là nghĩa làm sao?
Am cẩn trọng đáp:
- Là trước giờ rước dâu, phải treo trong phòng ngủ hai câu: Thứ nhất. Vợ không bao giờ sai. Thứ hai. Nếu nghĩ rằng vợ sai, thì phải đọc lại câu thứ nhất. Đơn giản là vậy, nhưng hạnh phúc trăm năm, lại nằm im trong đó.
Mấy ngày sau huynh muội lên đường. Lúc đi đến Quế sơn, chẳng may con ngựa của Am gặp rắn liền nhảy dựng lên, khiến Am rơi tòm xuống đất, đến độ gãy cả tay, nên Tuấn Cửu phải cõng Am tìm đại phu cho sớm. Từ đó cho đến lúc về tới Thuận thiên, Am phải tập làm mọi chuyện với bàn tay trái. Đã vậy còn nói với Cửu rằng:
- Huynh từ ngày lọt lòng mẹ đến nay, có hai tay mà xài. Thét rồi tưởng đó là chuyện đương nhiên. Chẳng màng chi để ý. Bây giờ... liệt mất một em, mới hiểu thấu được ơn điển của Trời cao ban phát.
Tố Thu đang ngồi sắc thuốc bên cạnh, nghe chuyện hơi kỳ kỳ, bèn ráng ngửng cổ lên. Thắc mắc nói:
- Đại ca có thế tán rộng đôi hàng cho muội hiểu được chăng?
Am gật gật mấy cái, rồi chậm rãi đáp:
- Có tay để xài, có chân để đi, trông thật bình thường, nên chẳng mấy khi ưu ái nó cho đúng phần đúng sức. Chừng trục trặc xảy ra, mới hiểu được sự quý giá thì có phần hơi muộn. May mà đại ca còn có thể chuộc lại sơ sót của mình. Chớ lỡ... như cánh vạc bay, thì thiệt không biết sẽ nuối tiếc thế nào đây nữa?
Tố Thu từ nhỏ bị bệnh đậu mùa, may mà không vết thẹo, nhưng trí óc vì đó mà chậm lụt ra, thành thử tuy nghe nhưng chưa hiểu rõ ngọn nguồn, bèn chăm bẳm nói:
- Muội nhờ đại ca tán rộng, mà đại ca tán... hẹp kiểu này, thì trước là ấm ức trong tâm. Sau hiểu biết cũng kém phần thông suốt!
Am! Ngước mắt nhìn lại, thấy Tố Thu mồ hôi nhễ nhại bên bếp lò, bèn động mối thương tâm. Trong bụng nghĩ thầm: "Không biết, mà nhận mình không biết, rồi còn cố sức để học hỏi điều hay, thì so với hạng tự phụ kiêu căng, cũng là hơn lắm!". Nghĩ vậy, liền phấn khích đáp:
- Ta bị gãy tay. Tuy rằng công việc thường ngày hơi lộn xộn, nhưng chỉ mười bữa mấy trăng, thì tất cả sẽ trở về chốn cũ. Còn có những việc. Vì quan tâm không đủ, săn sóc không đầy, đến một lúc mất đi, thì vĩnh viễn không bao giờ lấy lại được. Nghĩ xa hơn một chút, như Lý tưởng của đời người. Lỡ sơ suất bị lạc điệu bay đi. Chừng tỉnh thức nhìn lại, thì trước là hoàn cảnh đã đổi thay, sau tuổi tác không còn ủng hộ, thì cho dù có thang thuốc đầy bàn, hoặc lò đặt chung quanh, cũng không thể nào cứu đặng. Hiểu được như thế, nên từ nay ta tâm nguyện: Sẽ yêu quý những gì ta đang có. Dẫu vui buồn hay nhọc cực tấm thân, thì cũng hết sức mở lòng ra đón đợi. Chớ nhất quyết không tà tà như trước, để mai này phải hối hận rồi... đau, thì cả kiếp ni uổng đi nhiều đó vậy!
Lúc về đến Thuận thiên, Cẩn Am sai dọn nhà riêng cho ở, còn sai một nữ tỳ đến phục dịch. Vợ của Am là Hàn thị, rất mến Tố Thu, nên thường mời hai anh em lên ăn cùng mâm cho tình thêm tươi mát.
Ngày nọ, Cửu vào núi bẫy chim bị rắn độc cắn. Lúc khiêng được về đến nhà thì đã sùi bọt mép. Biết là qua không khỏi, Cửu mới nắm tay của Am mà nói rằng:
- Hai chúng ta tình như ruột thịt, nhưng không phải họ hàng. Đệ tự nghĩ sắp chết đến nơi, nên gắng sức thốt ra điều tâm nguyện: Tố Thư nay đã lớn, lại được chị thương yêu. Huynh hãy nhận nó làm lẽ cho đời thêm ấm áp.
Am nghiêm mặt đáp:
- Tuy rằng không thân thuộc họ hàng, nhưng đã coi nhau như tình máu mủ. Lẽ nào làm vậy mà coi được hay sao?
Cửu, từ nào tới giờ cứ nghĩ đến câu: "Con chim sắp chết cất tiếng bi ai, con người sắp chết nói lời nói phải.", mà nay lại bị từ chối cái rầm, bèn máu dội về tim. Đau đớn nói:
- Tẩu tẩu đối với Tố Thư tình thâm nghĩa mặn. Nay chung một mái nhà, thì lẽ ra huynh phải mừng vui mới đúng. Sao lại không vô?
Am đảo mắt một vòng. Khi chắc chắn là chẳng có ai, bèn nhỏ giọng nói:
- Tình thâm nghĩa nặng là khi còn người dưng. Chớ một mai chung một tấm chồng, thì chẳng những tình cảm mất đi, mà không khéo lại sinh thù hằn ra nữa. Vả lại, tẩu tẩu đối với mọi chuyện đều lấy lượng bao dung ra mà xử. Duy có chuyện phu thê thì một ly còn không chịu nhịn. Huống hồ tiêu nửa ông chồng, thì lẽ nào không... dao kéo mà tin được hay sao?
Rồi nhìn thẳng vào mắt của Cửu. Tha thiết nói:
- Chuyện trăm năm của muội. Huynh hết dạ lo toan. Đệ cứ yên tâm mà về nới chín suối!
Lúc tang lễ đã xong. Am mới gọi Thu đến mà nói rằng:
- Trước kia ta muốn tìm chồng cho muội ở chỗ thế gia, nhưng Tuấn Cửu không chịu. Nay Cửu đã về với tổ tiên, thì ý muội thế nào? Cứ tình thiệt tỏ ra để đại ca bàn, binh cho đúng!
Tố Thu ngượng ngùng đáp:
- Huynh thác chưa được trăm ngày mà tính chuyện phu thê. Làm sao em dám?
|