banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Dưới đường dây cao thế

 

Phan

Sau kỳ khủng bố ở Nữu Ước, tôi bị thất nghiệp hết ba tháng rồi xin được việc làm lại ở hãng khác. Đây là điều may mắn trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế ở Mỹ. Mẹ sắp nhỏ cúng kiếng tươm tất để tạ ơn bề trên...
Từ khi mọi sinh hoạt trong nhà trở lại bình thường như cũ, tôi đỡ bực mình hơn thời kỳ thất nghiệp là muốn xài gì cũng phải đắn đo, cân nhắc với thu nhập chỉ còn 70% lương mà lại không có thu nhập phụ trội từ overtime (làm thêm giờ) gì nữa. Người bạn đồng hành của tôi cho rằng cuộc sống gia đình được bình thường là do ơn trên đã không quên người thành tâm khấn nguyện.
Không biết với thu nhập ở Mỹ thì người ta phải dành ra bao nhiêu phần trăm cho bề trên để được quan tâm. Hình ảnh của mẹ tôi qua đôi vai người vợ sì sụp lạy lại hiện về. Ngày xưa mẹ tôi cũng buôn thúng bán bưng, vất vả tối sớm và dè sẻn từng đồng để có chút đỉnh mua hương hoa, nhang đèn, bánh trái mà lễ Phật và thần linh các cấp, cầu che chở cho cha tôi trong khói lửa chiến tranh. Chắc mẹ quên nguyện cầu cho phe cha tôi thắng trận nên sự trả thù thời hậu chiến ở những nơi cải tạo sau hoà bình lại trở thành lý do cho mẹ tôi khấn tiếp...
Có lần tôi hỏi cha: "Nghe mẹ nói, cha chở mẹ ra chùa rồi đi uống cà phê với bạn chứ đâu vô chùa..." Cha tôi nói: "Mẹ mày vượt suối băng rừng đem cho tao hũ mắm ruốc xào sả, bánh thuốc lào... Bà ấy là Quan âm của tao rồi. Tượng trong chùa không biết đắng cay ở trần gian này đâu!" Cha con tôi ít nói chuyện với nhau nhưng hiểu nhau bằng tần số thì phải! Nhưng hai người phụ nữ mà tôi gần gũi nhất, đại diện cho hai thế hệ phụ nữ Việt Nam thời chiến và lưu vong, cùng tin tưởng ở những thế lực vô hình. Suy ra, bề trên bất tử, không có luân hồi ở thế giới siêu nhiên. Mẹ tôi ngày xưa, vợ tôi bây giờ thường nói: "Có tin có lành". Điều này đã từng song hành với hưng phế của lịch sử nhân loại, sẽ đi về đâu?
Tôi nghĩ, đời sống ở Mỹ ngoài việc thay cho tôi cái áo lành lặn hơn, bữa ăn hàng ngày nhiều chất đạm hơn so với hồi còn trong nước là cái được, và cái mất là nó thay đổi cả suy nghĩ trong tôi theo thời gian. Tôi đi làm công việc thứ bao nhiêu trong đời đi làm thuê đã có cái bao tử nhớ rõ hơn khối óc. "Khi đói, bộ óc người ta tuột xuống cái bao tử để chỉ nghĩ đến cái ăn." Câu văn tôi thích nhất trong những gì đã đọc được ở hải ngoại. Trong một hoàn cảnh nhất định là thê lương của người tù cải tạo, ông Lâm Chương đã nhìn thấu được lẽ sinh tồn của con người ở bề mặt và bản chất thật nhất của con người ở bề sâu. Ba tháng trước, tôi không ngớt lo cho cái bao tử gia đình chứ đâu có đầu óc nào mà ngồi nghĩ vớ vẩn thế này! Nay, ngoài tiền lương đủ sống, còn có cả bảo hiểm sức khoẻ cho mình và gia đình nên tinh thần lại lạc lối, mông lung.
Hôm tôi nói chuyện với ông mục sư Tin lành: "Tôi có cần phải đi tìm một niềm tin để điền vào chỗ trống và những hư hao tâm linh của một chứng nhân lịch sử?", ông đã trả lời tôi rất vừa đủ: "Việc ăn hiền ở lành trên dương thế mới chỉ là miếng giẻ rách trước cửa thiên đàng. Con người phải nghĩ cho ra, tìm cách nào để quan hệ lại với Thượng đế sau tháng năm con người đã dựa vào thành tựu của khoa học kỹ thuật và từ bỏ đức tin." Tôi suy nghĩ về điều ông mục sư nói rất thành tâm.
***
Một công việc mới không làm khó được người chuyên đi làm thuê như tôi, nhưng một tập thể mới thì không dễ gì hoà nhập được trong một sớm một chiều. Tôi rất lạc lõng trong lòng mình nên nhớ đến một chuyện ngụ ngôn trong kinh Phật: "Kẻ giết người cướp của rất hung dữ nhưng anh ta không thọc được lưỡi dao vào mình người khất thực vì ánh mắt nhân từ đã chế ngự được u mê. Lời nói nhân bản đã thuyết phục được bạo lực. Đức Phật nói với kẻ cướp: "Trong bể khổ trầm luân, ta càng bơi càng xa bờ. Nếu quay lại thì sẽ thấy bến bờ ngay." Kẻ cướp đã dừng gây oan nghiệp và theo thầy để kết cuộc có một Đại Đức lìa trần trong tiếc thương chứ không phải kẻ cướp đã chết trong vui mừng của lương dân. Tôi đi tìm đức từ bi khất thực và hoằng pháp ấy, chứ không phải những bức tượng vàng và nơi chứa tượng nguy nga. Sau hai ngàn năm trăm năm mươi hai năm thời gian, Ngài đã hoá thân để nói với tôi rằng: "Anh thiếu một đức tin trong đời sống nên ưa hoang mang. Tốt nhất là đừng gieo vào đầu óc con cái những tư tưởng vô thần của anh". Tôi lại trằn trọc với phán xét xanh rờn của Phật hoá thân. Nhưng bảo hoà nhập vào dòng người đi lạy, đi quỳ ở những nơi tôn nghiêm thì bình an không đến bằng ngõ đó, thanh thản không hiện về dễ ợt với một người ưa đặt câu hỏi như tôi. Tôi là con đẻ của cha tôi - có thực mới vực được đạo - người ta không thể sống bằng bánh vẽ. Hoá ra Phật của tôi là người lau khăn nóng cho một thằng bệnh; lau khăn lạnh cho một thằng say; lau nước mắt cho một thằng vô tổ quốc...
Trở lại với đời phàm, nói hòa nhập vào nhóm Mỹ thì sợ mang tiếng với nhóm Việt Nam; ngược lại, tôi cũng không thích những gièm pha, đố kỵ vô căn cứ ngay trong những người cùng tiếng nói với mình. Sau một thời gian, tôi trở thành cái đích của những gièm pha từ chính những người đồng hương. Tuy nhức nhối, nhưng qua kinh nghiệm bản thân, tôi biết tốt nhất là không phản ứng thì mọi người sẽ bỏ qua cho tôi. Tôi không tìm đến những thế lực siêu nhiên để được che chở hay giúp đỡ vì chẳng ai bỏ thời gian quý báu trong cuộc sống ngắn ngủi để đi sinh sự với một kẻ không chống đối. Không ai đi tìm chiến thắng từ đối phương mạnh hơn mình. Người ta chỉ tạo ra xung đột để đào thãi bớt kẻ yếu, một cách chọn lọc tự nhiên trong quá trình tiến hoá của con người ở mức khốc liệt với nạn nhân mãn hiện nay - ở một đơn vị tính nhỏ hơn là người nhiều mà việc làm ít.
Từ một nơi chốn bình yêu là hãng cũ với những đồng nghiệp biết nhau rõ như lòng bàn tay, một tập thể đã đạt được những thoả thuận ngầm sau những đụng chạm là cơm ai nấy ăn, hồn ai nấy giữ, và nhờ đó, quan hệ con người trở nên vô cùng tốt đẹp. Nhưng sự tiến hoá có nguồn gốc phát sinh từ mâu thuẫn. Đời sống mà không có những đổi thay ngoài ý muốn thì con người không bước thêm được bước nào trong tư duy cá nhân và thăng tiến tập thể.
Tôi đã lên kế hoạch cho gia đình sau khi tôi vô nhà thương điên. Những suy nghĩ cuối cùng của cái đầu còn tỉnh - tôi đi nhặt những miếng gỗ vứt đi trong hãng và đóng thành băng ghế. Tôi kê dưới gốc cây, bên ngoài cửa hậu của xưởng tôi làm việc. Tất cả những giờ nghỉ giữa buổi, đầu giờ, tôi đều ra đó ngồi một mình. Thời gian cứ âm thầm đi qua đây với bốn mùa thay lá trên cây sồi. Những chú chim non chờ mẹ cha mớm mồi chí choé như trẻ con ngóng mẹ về chợ. Chúng lớn nhanh bằng sự già mau của cha mẹ chúng vất vả đi tìm mồi. Chúng thực hiện những đường bay ngắn khi đã mọc lông cánh như người ta chập chững vào đời với những háo hức tuổi trẻ. Khi chúng cất được tiếng hót đầu tiên để tự khẳng định mình thì chúng bay xa hơn. Khi đôi cánh đã đủ sức mang thân vào đời, tiếng hót đã gây được chú ý của đồng loại thì chúng không về nhà nữa - như tôi đã bỏ lại quê nhà một khoảng đời. Lũ chim con bây giờ, với sự cứng cáp của cái mỏ kiếm mồi đã dư ăn, sự hùng mạnh của đôi cánh đã dư bay, lại vướng vào sai lầm nghiêm trọng nhất của động vật là ý nghĩ cần sao chép (copy) lại sự hoàn-thiện-tự-nghĩ của chính mình. Và sự tự tin không tư duy là mầm móng của khổ đau. Nhu cầu được tôn vinh trong đồng loại là thước đo nham hiểm của muôn loài. Khi đã đủ lông đủ cánh thì thích che chở cho kẻ yếu hơn, thuần phục để được tôn vinh - như tôi là chủ một gia đình do chính tôi gầy dựng nên từng thành viên và nhu cầu phát sinh của họ. Tôi tự ý đi vào con đường hủy diệt do mình kiến tạo.
Nơi tôi ngồi cách xóm nhà ở một đường dây điện cao thế nên đồng trống. Có đường xi-măng dành cho người đi bộ và xe đạp; có cái đường rầy xe lửa đã hoen gỉ, không còn sử dụng. Nghe những ông Mỹ già trong xưởng nói: Thời Đệ nhị Thế chiến, xe lửa chạy ngày đêm để chuyển than đá về những xưởng làm quân xa, quân dụng quanh đây. Tôi tự hỏi đã bao nhiêu tham vọng của con người biến thành sức nặng đè nén lên đường rầy xe lửa! Tham vọng đi về đâu? Đường rầy cũ mòn cùng mưa nắng đến bao giờ? Người ta không biến một ước mơ nào thành hiện thực bất vụ lợi. Người Mỹ không tham chiến khơi khơi để hao tài tốn của, nhưng bao giờ cũng được che đậy bằng những từ ngữ thân thiện đến mọi người tưởng là thật. Quân đội Đồng minh là cứu tinh của nhân loại trước ách diệt chủng của phe phát xít. Thế là Mỹ lãnh đạo Đồng minh chống phát xít đến toàn thắng. Nhưng phe Đồng minh sau đó không phú cường, giàu mạnh bằng riêng nước Mỹ. Quá trình thực hiện tham vọng một cách tinh xảo đó đã để lại trên mặt đất một đường ray, nhiều đường ray ghi dấu một thời. Đến bao giờ, mặt đất này chằng chịt những đường ray - không còn sử dụng; lòng người chằng chịt những mâu thuẫn - vô phương. Ngày tận thế.
***
Từng cá nhân mang vào đời những tham vọng nhỏ để gộp chung thành tham vọng con người lớn hơn trái đất chứa họ. Hai đứa bé đạp xe đạp rất thân thiện - nhưng đó là chuyện ba năm trước. Bây giờ, chúng dáo dác nhìn quanh trước khi đặt lên môi nhau nụ hôn vĩnh biệt tuổi thơ mà chúng tưởng là bắt đầu một thời kỳ thơ mộng.
Hai người đã vĩnh biệt tuổi thơ để cùng săn sóc cho một bào thai trong bụng người nữ. Người nam dùng sự cứng cỏi của mình cho người nữ dựa giẫm những bước chân thể dục buổi chiều để dễ sanh khi lâm bồn. Không lâu sau, họ đã dạo chơi trên đường đời với cái xe đẩy - hệ quả tình yêu của họ.
Nhưng đời vốn không như là mơ, đôi trẻ không còn đạp xe bên nhau và hôn lén khi trời chạng vạng. Chúng chia tay để đi vào tuyệt lộ riêng tư hay tham vọng hai lối - không muốn đương đầu? Hai người trưởng thành không chung đường nữa! Người nữ đẩy xe con nít một mình trong âu lo đã quầng trên khoé mắt cho đến khi đứa con biết đạp xe đạp - có hai bánh phụ thì người đàn ông khác đi bên cạnh; người mới bị vợ bỏ từ một nơi xa nào đó vừa về đây chung vui. Em cùng mẹ khác cha của đứa bé đạp xe một mình kia đang chuẩn bị ra đời để tiếp tục những điều vô lý mà loài người đã hết quan tâm.
Đôi vợ chồng già lại mâu thuẫn khác nữa! Đã bảo là đi chung cho đến cuối đường đời. Nhưng cụ ông bây giờ ngồi nghỉ chân, hút thuốc. Hút thuốc như tàu hoả trên đường ray đang tải nặng, đang lên dốc... Hút thuốc có hại cho sức khoẻ thì lại chết sau người ưa ngăn cản người hút thuốc. Thật là buồn khi nhìn ông cụ ngồi hút thuốc mà bà cụ ưa cằn nhằn đã bỏ đi trước để ông nối điếu này qua điếu kia không cần quẹt.
Chỉ có đường dây cao thế trên cao vẫn âm thầm chuyển tải năng lượng cho cuộc sống tiếp diễn những nghịch lý. Có phải đó là thái độ cần thiết của tư duy hậu hiện đại. Hãy hoàn tất sự ngu xuẩn trong vinh quang - con đường ngắn nhất đưa ta tới giải thoát.
Tôi cầm tờ giấy bị thôi việc, bước ra khỏi hãng, rất bình an. Chỉ có vợ tôi chú ý đến lá thơ giới thiệu tôi với những hãng khác - có chữ ký ông chủ như một an ủi trong đời Tổng thống thứ 43 của Mỹ. Lá thơ nôm na: Kính gởi những hãng xưởng bạn. Vì hãng chúng tôi hết việc nên tạm thời cho nghỉ một số công nhân. Xin giới thiệu đến quý hãng người công nhân ưu tú, xuất sắc của chúng tôi. Chúng tôi thiết nghĩ sẽ gọi anh ta là người đầu tiên trở lại công việc khi chúng tôi có việc làm lại. Trong thời gian khó khăn này, nếu qúy vị có việc làm cho anh ta thì xin nhận người công nhân gương mẫu, này... Với lòng biết ơn. Kính thư. Giám đốc (ký tên).
Tôi thấy Quan âm khóc lặng lẽ hơn lần trước tôi thất nghiệp vì việc làm ngày càng khó kiếm hơn.
Phan

 

 

 

Quán cơm xã hội

Topa

Chiếc phi cơ boeing 747- 400 của hãng hàng không quốc gia Suriname lại đảo thêm một vòng nữa rồi mới chịu hạ cánh từ từ xuống phi trường quốc tế J. A. Pengel của thủ đô Paramaribo.
Đây là lần thứ hai tôi đến thủ đô này của quốc gia Suriname vào những ngày đất nước này đang bị thiên tai lũ lụt, và lần này tôi đi chỉ có một mình. Lần trước, cách đây hơn một năm, tôi và một người bạn Việt Nam đã đến thăm quốc gia Suriname này rồi, một nước có diện tích một trăm sáu mươi ba ngàn tám trăm hai mươi ki lô mét vuông (163. 820km2) với dân số hiện có hơn nửa triệu người và ngoài ra còn có khoảng ba trăm năm mươi ngàn người Suriname đến sinh sống tại quốc gia Hoà Lan, nước từng cai trị Suriname một thời gian dài.
Quốc gia Suriname, phía Bắc giáp biển Đại Tây Dương, phía Nam giáp nước Ba Tây và hai nước Guyana, French Guiana nằm hai bên Đông và Tây vì vậy người dân có làn da màu đen và quốc gia này vẫn còn đang trong thời kỳ phát triển. Quốc gia Suriname có rất nhiều sông rạch và rừng rậm hoang sơ nên cảnh vật rất đẹp và thơ mộng. Đa số người dân vẫn còn sống cuộc sống nghèo nàn, nhất là ở những vùng ngoại ô.
Anh bạn người bản xứ đã có mặt ở phi trường trước khi phi cơ đáp một tiếng đồng hồ để đón tôi ngay khi tôi vừa nhận xong hành lý. Anh và tôi quen nhau năm năm về trước, và khi ấy anh đang theo học luật tại đại học mở Amsterdam. Sau khi anh tốt nghiệp anh đã trở về quê hương mở văn phòng luật ngay tại thủ đô Paramaribo. Văn phòng luật sư Rud Van der Valkenburg và đó cũng là tên của anh.
Vì đang là giữa trưa, anh Valkenburg muốn đưa tôi đến ăn ở một nhà hàng rất nổi tiếng ở thủ đô, trước khi về nhà.
Trên đường đi, khi xe ngừng ở một ngã tư để chờ đèn xanh báo hiệu cho phép xe chạy, tôi nhìn thấy một nhà hàng rất lớn bên kia đường mà bề ngoài của nhà hàng trông rất sang trọng và đang có rất đông thực khách. Tôi quay qua anh bạn vừa chỉ tay về phía nhà hàng vừa nói:
- "Nhà hàng bên kia đường có đông khách, theo tôi nghĩ có lẽ nơi đó bán thức ăn ngon nên được nhiều người chiếu cố đến, tại sao hai anh em mình không vào đó ăn thử?Tôi còn thời gian nhiều ở đây, tôi muốn biết nhiều nơi và cũng muốn tìm hiểu những sinh hoạt của dân tộc anh. "
Anh Valkenburg nhìn tôi với ánh mắt có vẻ ái ngại nhưng anh cũng cho xe chạy chậm lại và đồng thời anh giải thích cho tôi biết:
- "Đó không phải là nhà hàng bình thường mà đó là quán cơm xã hội. Tôi nghĩ anh chưa biết qua quán cơm xã hội là gì đâu. Quán cơm xã hội do chính phủ lập ra để giúp đỡ dân nghèo và người lao động có thu nhập thấp đến ăn. Tôi nghĩ... anh sẽ cảm thấy khó chịu vì không thích hợp khi ăn trong quán cơm đó. "
Nghe anh bạn nói đó là quán cơm xã hội thì ký ức của những ngày xa xưa lại quay về trong đầu tôi. Anh Valkenburg có biết đâu quán cơm xã hội cũng đã từng hiện diện trên quê hương miền Nam của tôi từ năm mươi năm trước, và hiện diện được khoảng gần năm năm. Tôi muốn biết quán cơm xã hội của quốc gia Suriname tổ chức ra sao, tôi nhìn anh và nói thật chậm rãi:
- "Anh bạn thân mến của tôi ơi, tôi nghĩ tôi sẽ không cảm thấy phiền hà gì cả nếu cả hai anh em mình cùng vào đó ăn bữa trưa hôm nay vì tôi thật sự muốn xem cho biết tận mắt chính phủ Suriname đã và đang làm gì cho người dân... đen cùng khổ. Nếu anh không thấy thích... "
Anh Valkenburg liền đưa hai tay lên cao với vẻ mặt rạng rỡ ngắt ngang lời tôi:
- "Anh là khách quý của tôi!Khách là vua, mà vua muốn gì thì... tôi phải chìu theo chứ, nhưng tôi nói trước cho anh biết là ồn ào lắm và thức ăn thì dĩ nhiên là... không xứng với vua đâu. "
Nói rồi anh bạn tôi ngoác cái miệng ra cười lên rổn rảng rất tự nhiên, nhìn anh khi đó khó ai có thể nghĩ anh đang là vị luật sư khả kính và có tiếng tăm ở thủ đô.
Quán ăn rất lớn và rất sạch sẽ. Hai người tiếp viên một nam và một nữ với bộ đồng phục màu xanh nước biển luôn luôn nở nụ cười trên môi chào đón khách từ ngay ngoài cửa dù, theo lời anh bạn Valkenburg, đây chỉ là những người khách thuộc thành phần lao động nghèo khổ.
Vừa bước chân vào bên trong quán cơm, tôi đảo mắt nhìn một vòng thật nhanh và ghi nhận đúng như lời anh bạn tôi đã nói, thực khách ở đây đều là những người lao động nghèo nên khung cảnh cũng không được yên tĩnh như những nhà hàng sang trọng trong thủ đô, nhưng quán cơm xã hội này rất sạch sẽ và thoáng mát. Mọi thực khách đều có ý thức cao nên không một ai bỏ những thức ăn thừa và khăn giấy (napkin) xuống dưới nền nhà. Hoàn toàn không có bất cứ một vật gì rơi rớt xuống nền nhà. Nền nhà bóng loáng như vừa mới được lau.
Anh Valkenburg và tôi trước hết ghé lại một cái quầy nhỏ để mua phiếu mà giá chỉ bằng ba đô la và ba mươi cent Mỹ mà thôi ($3, 30) Nhận phiếu xong, hai chúng tôi đến một quầy cũng ngay cạnh bên, quầy này trưng bày rất nhiều món ăn sau một tủ kiếng trong sáng và rất sạch sẽ. Khi chúng tôi đưa phiếu cho một cô tiếp viên trẻ có nụ cười rất đẹp, có lẽ cô tiếp viên này nhận ra chúng tôi không phải là thực khách quen và thường xuyên của quán nên cô tỏ ra rất chân tình, cô vừa cười vừa giới thiệu các món ăn:
- Chào hai ông! Mỗi phiếu ăn hai ông được chọn bốn món ăn gồm có một món súp, một món thịt, một món cá và một dĩa rau cải tươi. Hôm nay chúng tôi chỉ có một món súp bí đỏ nấu với thịt heo bằm. Món thịt có ba món là thịt heo xào cải xanh, thịt bò nấu với đậu trắng và thịt trừu nướng với củ hành tây. Món cá thì cũng chỉ có một loại cá chiên. Khi nhận phần ăn xong, hai ông bước qua quầy bên cạnh đây và nhận mỗi phần một hộp cơm, cơm hai ông muốn ăn bao nhiêu cũng được miễn là không mang ra khỏi quán. Nước uống miễn phí là nước trà lạnh. Chúc hai ông một bữa ăn thật ngon miệng, ngoài ra nếu hai ông cảm thấy có điều gì đó làm hai ông không vừa lòng thì xin hai ông điền vào tờ giấy cũng sẽ được gởi kèm theo với hộp cơm."
Thật quá chu đáo và đúng là: vui lòng khách đến vừa lòng khách đi!
Hộp cơm rất lớn, quá lớn, hột cơm màu trắng tinh. Anh Valkenburg và tôi ăn chỉ có một hộp cơm mà vẫn không sao hết được dù lúc đó cả anh và tôi đều đang rất đói.
Tôi có cái lỗi lớn là hay xem thường những người da đen. Hình như trong con người tôi cũng có mang một chút tính kỳ thị thì phải, nhưng hai lần đến quốc gia da đen này tôi hoàn toàn ngưỡng mộ cung cách của người dân bản xứ khi đối xử với nhau và đối xử với những người xa lạ như tôi. Tôi đã bị chinh phục bởi cung cách lịch sự và quý khách của người da đen nên tôi tự hứa là từ nay tôi sẽ thay đổi lại cách suy nghĩ. Tôi chợt nhớ ra câu danh ngôn của ai đó mà tôi quên tên: "bất cứ nguời nào tôi gặp cũng có điều hay hơn tôi mà tôi cần phải học hỏi" đồng thời tôi cũng nghĩ là có thể, rất có thể thế giới sẽ có một người da đen trong năm nay lên làm Tổng thống của cường quốc giàu mạnh và văn minh nhất trên quả địa cầu này.
Trong khi ăn, anh Valkenburg nói cho tôi biết:
- "Quán cơm xã hội này là một trong sáu quán mới có độ chừng hai năm nay thôi. Mục đích khi mở những quán này là chính quyền muốn giúp đỡ cho số dân lao động và dân nghèo có những bữa ăn ngon hợp với túi tiền của họ. Theo ông cảnh sát trưởng ở đây cho biết, cũng nhờ những quán ăn này mà số người phạm tội ăn cắp vặt và những tội thuộc các tệ nạn xã hội khác đã giảm xuống một cách thật rõ rệt. So với những quán ăn bình dân của tư nhân, vào quán này sẽ tiết kiệm được đến tám mươi phần trăm số tiền phải chi ra ở những quán ăn của tư nhân. Tôi lập lại để anh nhớ là giảm đến tám mươi phần trăm. Về phẩm chất và số lượng thì vì được chính phủ trợ cấp nên có phần trội hơn những quán ăn của tư nhân. Những nhân viên phục vụ tại những quán cơm xã hội đều phải trải qua một khóa huấn luyện nên cung cách phục vụ không có gì để những thực khách đến đây phải than phiền. "
Tự nhiên tôi như bị mắc nghẹn. Tôi vội cầm lon bia lên uống một hơi như đang khát từ lâu lắm. Nhìn những thực khách đang thưởng thức bữa ăn trưa làm tôi nghĩ về quê hương tôi và những người đồng hương trẻ tuổi đang sinh sống ở hải ngoại. Có lẽ các bạn trẻ này sẽ không biết hoặc nghe nói đến cái quán cơm xã hội mà có một thời ở miền Nam cũng đã có, và có rất nhiều, nhưng chắc chắn một điều là các bạn cũng đã từng ít nhất một lần được nghe hoặc được đọc tin trong nước về những quán cơm tù đã hành hạ đã bóc lột những thực khách nghèo lỡ đường và những quán cơm tù này vẫn còn đang hiện diện rải rác ở quê nhà.
Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã cho lập lên gần khắp cả Sàigòn Chợ Lớn và Gia Định nhiều quán cơm xã hội để giúp người dân lao động và người nghèo mỗi ngày có được hai bữa ăn khá ngon miệng và no nê nhưng chỉ trả với một số tiền nhỏ tượng trưng mà thôi.
Trong một bài "Công Dân Giáo Dục"lúc nhỏ tôi đã đọc qua cũng thấy có ghi: "Trên đường Cộng Hoà (bây giờ là đường Nguyễn văn Cừ) có một quán cơm xã hội, mỗi ngày hai lần vào buổi trưa lúc mười một giờ và buổi chiều lúc bốn giờ quán cơm được mở ra và luôn có rất đông những bác phu xe xích lô và xe ba gác... "
Những quán cơm xã hội mà một thời đã hiện diện ở miền Nam Việt Nam ngày trước được tổ chức hoàn toàn giống nhau. Quán cơm thường là một gian nhà khá rộng rãi và thoáng mát. Giữa nhà ăn có kê nhiều dãy bàn thật dài, hai bên cạnh bàn là hai dãy ghế dài đặt theo chiều dài của cái bàn, mỗi đầu bàn có đặt một thùng bằng nhôm cao lớn để chứa cơm. Bên cạnh thùng cơm có hai thùng cũng bằng nhôm cao lớn, một chứa nước trà nóng và một chứa nước trà đá. Khi thực khách vào ăn, trước tiên thực khách cũng sẽ ghé lại một cái quầy để mua phiếu ăn đồng giá là năm đồng (thời điểm năm 1960). Cầm phiếu ăn đưa vào một quầy để nhận thức ăn được tự chọn gồm ba món là món canh, món xào và món mặn. Canh thì mỗi ngày chỉ nấu một thứ canh. Món xào và món mặn thì mỗi ngày có ba món, thực khách được chọn một món xào và một món mặn. Nhận phần ăn xong, thực khách đi lại bàn ăn và tự động lấy cơm. Cơm muốn ăn bao nhiêu cũng được và, dĩ nhiên là không được mang ra khỏi quán ăn.
Hình ảnh quán cơm xã hội của những ngày xa xưa ấy có lẽ sẽ chỉ còn trong kỷ niệm mà thôi. Trong thời Đệ Nhị Cộng Hoà các quán cơm xã hội cũng đã tan biến theo với chế độ đã tạo dựng ra nó.
Sau ngày quê hương ngưng tiếng súng, nhà cầm quyền cũng có lập ra những quán ăn... nhậu gọi là " cửa hàng ăn uống ". Có hai loại cửa hàng ăn uống, một cho người ít tiền và một cho người có nhiều tiền và bảng hiệu đã ghi thật rõ để người ít tiền không lẫn lộn được đó là "cửa hàng ăn uống giá cao. "Trong những cửa hàng ăn uống... giá không cao tuy có rẻ hơn những hàng quán của tư nhân rất nhiều nhưng thực chất lúc đó không phải là nhà cầm quyền chủ trương lo cho dân nghèo mà vì nhà cầm quyền chỉ muốn thâu tóm trong tay tất cả mọi sinh hoạt kinh doanh lớn nhỏ của thủ đô Sàigòn cũ với mục đích để người dân không còn có thể buôn bán "linh tinh" nữa và rồi phải tự nguyện xin đến những vùng hoang vắng trong rừng sâu sinh sống mà nhà cầm quyền lúc đó gọi nơi đó là vùng kinh tế mới.
Thời gian trước khi tôi ra hải ngoại sinh sống, tôi cũng đã có rất nhiều lần vào cửa hàng ăn uống giá cao và giá bình thường và tôi cũng rất thường phải đón nhận những thái độ hách dịch bất cần khách của các nhân viên bán hàng.
Hiện nay dân số Sàigòn đã hơn sáu triệu người mà người lao động, người nghèo luôn chiếm đa số và vì là nước đang phát triển với dân số mỗi ngày mỗi tăng tại các thành phố từ Nam ra Bắc;số người lao động của mỗi tỉnh thành chắc chắn là nhiều mà thu nhập thì còn giới hạn nên tôi nghĩ nếu nhà cầm quyền cho thành lập quán cơm xã hội ở mỗi quận, huyện ít nhất một quán thì chắc chắn sẽ được người lao động hưởng ứng nhiều. Đừng nghĩ là các quán ăn bình dân hiện nay giá cả cũng không có gì là mắc mỏ lắm và có nhan nhản ở khắp mọi nơi.
Lập ra những quán cơm xã hội sẽ có lợi điểm là bảo đảm vệ sinh và sức khoẻ cho người lao động vì có thể luôn được giám sát bởi những người có trách nhiệm nơi có quán cơm xã hội.
Giải quyết những khó khăn cho người lao động và người nghèo được những bữa ăn hằng ngày.
Nghĩ như vậy... cho vui thôi chứ tôi biết quán cơm xã hội sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn có mặt trên quê hương tôi nữa.
Tất cả chỉ còn là kỷ niệm!Tất cả chỉ còn có trong mơ mà thôi!. /.
Topa