Những tội phạm ngu nhất thế giới
Vũ Hải (SGT)
Ngày 4.10.1997 một chiếc xe chở tiền ở North Carolina đã bị đánh cướp và sáu tên trộm đã cuỗm đi một số tiền trị giá đến 17 triệu đô la. Đây là vụ cướp tiền lớn thứ hai trong lịch sử các vụ cướp như thế tại Hoa kỳ. Những tên trộm nói trên đã tưởng rằng từ đó chúng đã có thể hưởng thụ một cuộc đời vàng son trên nhung lụa cho thỏa những ngày ước ao thèm khát. Steven Chambers một tên du thủ du thực chính là đầu lãnh của vụ cướp nói trên cùng với sự giúp sức của mụ vợ là Michelle, 26 tuổi, chỉ qua một đêm đã từ một kẻ khố rách áo ôm trở thành một triệu phú trong giới những kẻ gian hùng vặt ở Hoa kỳ.
Steven Chambers đã nghiên cứu kế hoạch này chừng một tháng trước khi ra tay hành động. Cùng tham gia âm mưu với y là Kelly Campbell 29 tuổi, một cựu nhân viên của công ty chuyển tiền Loomis Fargo, David Ghantt, 29 tuổi cũng là nhân viên của Loomis Fargo. Chính Campbell đã giới thiệu Chambers cho tên Ghantt. Ngay trong buổi gặp mặt đầu tiên Chamber đã chứng tỏ hắn là một tên có tài hùng biện đã thuyết phục được Ghantt cùng tham gia vụ cướp. Luật sư của Chambers là Chris Fialko trong lời biện hộ cho hắn trước tòa đã nói rằng Chambers và những tên tòng phạm trong vụ cướp chẳng qua chỉ là những con người bình thường trong xã hội. Ai ai trong xã hội này cũng có một giấc mơ vàng son rằng một ngày kia mình sẽ bất thình lình vớ được một món bở nào đó và trở thành triệu phú, sống một cuộc đời sang giàu cho bõ những ngày gian khổ.
Trong âm mưu của bọn sáu người nói trên thật ra cũng chẳng có gì ghê gớm lắm.Chẳng qua bọn chúng nắm được chỗ sơ hở của công ty Loomis Fargo và quyết định lợi dụng chỗ sơ hở này. Vì là một quản đốc của công ty Ghantt nắm rõ quy luật làm việc và sau giờ tan sở, hắn ra về và giả vờ quên đóng cửa một kho tiền. Vài tiếng đồng hồ sau đó hắn quay trở lại, sau giờ hành chánh và đường hoàng bước vào nhà kho của công ty này. Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ hắn đã chuyển lên một chiếc xe van 1 tấn rưỡi những bó tiền đã được buộc chặt thành từng khối lớn.Sau đó hắn lái chiếc xe van này ra cổng trước nơi đồng bọn của hắn đang túc trực sẵn. Bọn này gồm Eric Grant, một thằng bạn của Ghantt, Kelly Campbell, và Chambers đang chờ trong một chiếc xe van khác.
Cả hai chiếc xe nối đuôi nhau chạy về hướng một nhà kho khác gần đó nơi tên Eric Payne, một tên tòng phạm khác cũng đang chờ trong một chiếc xe van thuê của một công ty xe hơi. Chính tại nơi đây bọn sáu tên này đã vi phạm những lỗi lầm nghiêm trọng khiến lịch sử sẽ ghi lại tên chúng như những tên tội phạm ngu đần nhất thế giới. Mặc dầu Ghantt đã nhớ tháo hết 16 cuốn băng video thu hình trong nhà kho, nhưng hắn lại để quên hai cuốn băng trên chiếc xe van của công ty sau khi đổi xe. Biết mình sẽ là nghi phạm chính, hắn dùng 50 ngàn đô la trong số tiền chia được trốn sang Mexico làm lại cuộc đời. Trong khi đó số còn lại bận rộn chia tiền và nhét tiền chia được vào những thùng bằng thiếc màu xanh. Vì không mang theo đủ thùng để chứa tiền, cả bọn để lại hiện trường đến 3 triệu đô la không thèm lấy. Sau đó chúng lái xe về căn nhà của Chambers và tại đây mụ vợ Michelle cũng tham gia đếm số tiền vừa cướp được.
Tuy nhiên những lỗi lầm nói trên chỉ là chuyện vặt so với những điều ngu xuẩn khác mà tên Chambers cùng mụ vợ hắn gây ra sau này. Thay vì sống im lặng để nghe ngóng tình hình, một ngày sau vụ cướp hai vợ chồng bỏ vào trương mục của mỗi đứa 5000 đô la. Một tháng sau mụ vợ Michelle ẳm 200 ngàn đô la đến ngân hàng và yêu cầu nhà băng bỏ số tiền này vào trương mục của mụ mà không làm báo cáo nhận tiền. Chỉ trong vòng một tháng gia đình mụ đã di chuyển từ một khu ổ chuột đến một biệt thự rộng 650 mét vuông trị giá 635 ngàn đô la. Cả gia đình sống hoang phí như ông hoàng bà chúa và mua sắm vô số đồ đạc đắt tiền toàn trả bằng tiền mặt. Chỉ riêng tiền mua sắm bàn ghế đã lên đến con số 200 ngàn đô la cộng với 70 ngàn đô la trả cho những nhân viên trang trí nội thất.
Ai đến thăm ngôi biệt thự mới của cặp vợ chồng Chambers cũng trầm trồ về căn phòng ngủ lộng lẫy như cung điện của nữ hoàng Cleopatra và bar rượu của Chambers ở tầng dưới. Tuy nhiên thay vì rượu sâm banh theo đúng tiêu chuẩn của những gia đình giàu có, thì Chambers chất đầy bar rượu của mình bằng những thùng rượu vang và vô số những thùng bia. Hắn lại còn khoe khoang với mọi người là trong bar rượu còn có thêm xì gà Cuba trị giá đến 20 ngàn đô la. Tuy nhiên vì dốt nát, Chambers không biết cách lưu trữ xì gà khiến số thuốc lá quý trị giá 20 ngàn đô la nói trên chẳng mấy chốc biến thành đồ rác rến không hút được. Hầu như ngày nào đám bạn cùng tham gia vụ cướp với Chambers cũng đến tụ tập ngồi bên cạnh dàn truyền hình gồm tám cái khổng lồ để uống bia và chơi cờ bạc trên một chiếc bàn chơi cờ trị giá 10 ngàn đô la.
Trong khi đó mụ vợ Michelle tha hồ mà ăn diện với nhẫn hột xoàn, xe BMW mui trần và ngày nào cũng mua sắm không tiếc tiền tại những trung tâm mua sắm sang trọng nhất. Người vẫn sống im lìm nhất đó chính là tên nữ tòng phạm Kelly Campbell vì mụ này chỉ nghiện cần sa chứ không nghiện mua sắm. Sau này trong khi biện hộ cho Kelly, luật sư của mụ đã cho rằng Chambers dùng cần sa để khống chế Kelly và buộc mụ phải làm theo ý muốn của hắn.
Sau khi trốn khỏi Hoa kỳ sang Mexico, Ghantt sống năm tháng đầu tiên tại một khách sạn gần Cancun. Hàng ngày hắn đi ngoạn cảnh, lặn xem phong cảnh dưới nước và chơi tàu lượn. Khi gần cạn tiền hắn dọn sang một khu nhà trọ và sống tiết kiệm. Cùng lúc Ghantt đau khổ vì xa cách gia đình và chẳng có ai biết tiếng Anh để trò chuyện với hắn cả. Vợ của hắn là Tammy lại chẳng hề hay biết gì về vụ cướp và chỉ sau khi không thấy hắn về nhà mới gọi điện hỏi cảnh sát và hay rằng chồng của mình đã cao chạy xa bay sau khi tham gia một vụ cướp đến 17 triệu đô la.
Trở lại North Carolina, Chambers đang cố gắng làm sao lý giải cho mọi người tin về sự giàu có quá nhanh chóng của hắn. Một mặt hắn phao tin rằng hắn trúng bạc lớn tại Las Vegas, một mặt hắn hô lên rằng hắn là một tay chơi football chuyên nghiệp với số lương bạc triệu. Một mặt khác hắn mua một tiệm bán đồ đạc trang trí nội thất làm ra vẻ tiền bạc có được là nhờ thành công trong kinh doanh. Cuối cùng hắn kéo luôn cha mẹ của hắn là Robert 62 và Mary 57 tuổi vào cuộc chơi với hắn. Hai vợ chồng già này đồng ý đứng ra thuê một hộp an toàn trong ngân hàng để cất giữ đến 466 ngàn đô la tiền mặt. Hai vợ chồng này theo lời dặn của Chambers nhận rằng họ cũng vừa được bạc. Để cám ơn sự hợp tác của cha mẹ, hắn cho hai ông bà 500 đô la tiền mặt và một chiếc computer trị giá 1200 đô la. Trong khi đó hắn chẳng bao giờ chịu trả lời thẳng cho ông bà biết rằng tiền ở đâu mà hắn có nhiều như vậy.
Chỉ vài tháng sau hai vợ chồng già tội nghiệp này bị buộc phải trả lại cho cảnh sát toàn bộ số tiền nói trên. Cả hai bị quản thúc tại gia và phải mang một chiếc còng điện tử nơi chân.Tuy nhiên hai ông bà mừng hú vía vì không phải mang hai cái mạng già vào ngồi tù.
Lỗi lầm cuối cùng của Chambers là có quan hệ với một người đàn ông mà FBI gọi theo bí danh là Ken. Chambers đến gặp Ken nhờ tay này chuyển lậu một số tiền mặt trị giá 2.5 triệu đô la sang đảo Cayman Islands với số tiền lệ phí trả cho Ken là 150 ngàn đô la. Tháng 1.1998 Ken đến gặp FBI và sau khi được hứa số tiền thưởng 500 ngàn đô la từ công ty Loomis Fargo, Ken đồng ý mang máy ghi âm trong người và la cà chơi bời với vợ chồng Chambers.
Lúc 6 giờ sáng ngày 2.3.1998 FBI bất thần tấn công nhà của Chambers và bắt giữ hai vợ chồng. Lập tức cả hai thú nhận tội lỗi. Tiếp đến cảnh sát tóm cổ Ghantt ở Mexico và tên này nhận một án tù 7 năm. Luật sư của Ghantt cho biết thân chủ của ông ta tỏ ra vô cùng hối hận và cuộc sống của thân chủ ông ta cũng giống như trong địa ngục kể từ sau khi vụ cướp xảy ra. Cuộc đổi đời chẳng phải dễ dàng gì đối với Chambers từ voi xuống chó và hắn nhận lãnh bản án dài 10 năm tù giam. Theo luật sư của hắn và viên giám đốc nhà tù Mecklenburg thì bọn tội phạm trong nhà giam được tha hồ cười đùa về sự ngu ngốc của tên Chambers. Trong tù tên Chambers tỏ ra ăn năn, muốn đi cai tật nghiện rượu và muốn được học một nghề nào đó để sau này ra tù làm việc kiếm cơm.
Riêng phần mụ vợ Michelle của Chambers thì đầu tiên mụ được tại ngoại hầu tra. Tuy nhiên sau đó cảnh sát thấy mụ có giao du với bọn đầu trộm đuôi cướp và phát hiện mụ có giấu một số nữ trang, nay mang ra bán lấy tiền tiêu xài. Sau vụ này Michelle bị tống giam và bị kêu án 5 năm tù ở cộng với số tiền phải bồi hoàn là 4.7 triệu đô la. Trong tổng số 17 triệu bị cướp hiện cảnh sát vẫn chưa truy lùng ra 2.5 triệu bị thất thoát không biết ở chỗ nào.
Biệt thự mà Chambers đã mua nay trở thành nhà của nha sĩ Kevin Weiss và vợ là Juli. Cả hai vợ chồng đã trang trí lại căn nhà cho hiện đại hơn nhưng vẫn giữ lại một số hình thức trang trí của Chambers để làm kỷ niệm nhớ đến một vụ cướp và những tên tội phạm thuộc loại ngu đần nhất thế giới. Tất cả những đồ đạc trong nhà của Chambers được mang ra bán đấu giá và hàng trăm người đã đến dự buổi đấu giá vì muốn mua được một món đồ có liên quan đến vụ cướp của công ty Loomis Fargo. Hơn 3000 vật dụng đã được công chúng thích thú giành giật mua về làm kỷ niệm. Nhiều người còn gọi điện thoại cho Chambers trong tù để hỏi xem hắn có thể ký một chữ ký lên các món đồ mà họ đã mua cho thêm phần ý nghĩa hay không. Xem ra huyền thoại về sự ngu ngốc của Chambers sẽ mãi mãi tồn tại trong lịch sử hình sự của Hoa kỳ.
Ngoài ra, thế giới cũng có nhiều tên cướp khác cũng ngu ngốc không kém. Cách đây không lâu, Andrew Buckland bước vào một ngân hàng Anh đưa cho nhân viên một mẩu giấy viết: "Đây là một vụ cướp. Đưa hết tiền trong két cho tao, nếu không tao bắn chết hết". Cuối những dòng chữ này còn được ký tên và viết sau lưng một phong bì thư có tên và địa chỉ của hắn trên đó. Tay nhân viên bảo hắn đợi để nhận tiền và hắn đứng yên đợi đến khi cảnh sát đến mời hắn đi nghỉ mát trong nhà đá. Một tên cướp khác bước vào một ngân hàng với một chiếc bao gối che mặt nhưng không ngờ ngân hàng nay đã biến thành một trung tâm y tế và tên cướp vội vàng tẩu thoát trên một chiếc xe gắn máy.
Ông Chồng Tàn Nhẫn: Bịt Mặt Để Khỏi Nhìn Vợ!
Lấy phải bà vợ có nhan sắc dạ xoa, ông chồng chấp nhận bịt mắt suốt ngày đêm để khỏi phải nhìn mặt vợ!
Suốt thời gian mấy chục năm qua, một người chồng tên là Augie đã chấp nhận sống cuộc sống trong bóng tối suốt cả ngày lẫn đêm chỉ vì ông không muốn mở mắt nhìn thấy bản mặt xấu như dạ xoa của vợ. Ông Augie đã thú thực với phóng viên Joe Berger:
- Tôi biết nói ra thì ai cũng bảo tôi là một thằng đàn ông tàn nhẫn, một người chồng không có tim óc, nhưng thú thực tôi chẳng thể nào chịu đựng nổi mỗi khi nhìn thấy gương mặt xấu xí và hình hài gớm ghiếc của vợ tôi. Ông thấy chắc ông biết, cô ta vừa mập, vừa hôi hám, tóc tai lại bơ phờ, hàm răng chiếc thì rụng, chiếc thì nghiêng ngửa, cằm lại lún phún một đám râu. Đã vậy lại còn một chiếc nốt ruồi to tướng nằm chình ình bên má rồi cô ta lại còn bắt chước đua đòi đeo mấy chiếc vòng bên cánh mũi, trông thật là ghê tởm. Khổ cho tôi hơn nữa là nàng lại thường có thói quen nhâm nhi nhai tỏi sống bất cứ lúc nào kể cả khi ngồi đọc sách trước khi ngủ. Đã vậy, nàng lại chẳng bao giờ chịu đánh răng. Như vậy thì bảo tôi ngắm nghía dung nhan nàng mỗi ngày làm sao được. Tôi biết, chuyện tôi bịt mắt không thèm nhìn nàng là điều tàn nhẫn. Biết vậy nhưng thà như vậy để chung thủy sống bên cạnh nàng còn hơn là hai đứa phải ly dị mỗi đứa mỗi nơi!
Cũng theo lời thú nhận của ông Augie thì kể từ khi bịt mắt cho đến nay, ông đã không một lần nào nhìn dung nhan của vợ. Ông còn cho biết, tuy mấy chục năm qua không nhìn vợ nhưng mỗi lần chỉ cần nghĩ đến hình hài, khuôn mặt của nàng, ông cũng cảm thấy rùng mình rợn tóc gáy!
Tâm sự với phóng viên nhà báo, ông Augie cho biết, khi hai người thành hôn, vợ ông tên là Hallie mới có 20 tuổi. Lúc đó cô còn là một thiếu nữ tuy không xinh đẹp như minh tinh điện ảnh nhưng cũng dễ thương với những đường nét óng ả của một thiếu nữ.
Nhưng sau thời gian hai ba năm chung sống, chẳng hiểu sao đột nhiên Hallie trở nên lười biếng lạ lùng. Đầu tiên là nàng xin nghỉ việc ngân hàng để ở nhà. Nhưng vì cả hai vợ chồng không hề có con nên tuy ở nhà cả ngày, nàng chẳng hề động tay động chân vào bất cứ việc gì trong nhà. Suốt cả ngày lẫn đêm, ngoài thì giờ ngủ một giấc thật đẫy 12 tiếng vào đêm và bốn tiếng vào buổi trưa, còn lại nàng xem TV, video, xem truyện và ăn uống đủ thứ thập cẩm bất kể loại đồ ăn thức uống gì tìm thấy được trong tủ lạnh.
Chỉ trong thời gian ngắn ngủi không đầy mấy tháng trời, Hallie có một thân hình phì nộn gấp đôi, gấp ba ngày cưới. Nhưng như vậy, chưa đủ, nàng còn ăn mặc rất lôi thôi lếch thếch, lười tắm rửa và không bao giờ đánh răng.
Cũng vì đọc ba cuốn sách nhảm nhí, nên đột nhiên, nàng tuyên bố ăn tỏi có thể trừ được bách bệnh kể cả bệnh ung thư. Kể từ ngày đó nàng có thói quen nghiện nhai tỏi sống tựa như người nghiện ăn hạt dẻ.
Ông Augie kể lại nỗi đau lòng của ông như sau:
- Sau nhiều lần thúc dục nàng ăn uống kiêng khem, chịu khó tập luyện và ăn mặc diêm dúa một chút nhưng không kết quả, tôi đành cắn răng chịu đựng. Lúc đó tôi tự nhủ, thôi thì trời thương cho mình lấy được cô vợ xấu thì còn là vợ của mình, còn lấy phải con vợ đẹp nó làm vợ thiên hạ chẳng khổ gấp mấy hay sao? Nghĩ vậy nên tôi thấy an tâm đi làm tối ngày mà không lo chuyện vợ mình mèo mỡ, bồ bịch với ai. Nhưng rồi đến một buổi tối nọ, khi đang ngồi ăn tô súp khoai tây hầm với sốt cà chua, tình cờ tôi ngước mắt lên nhìn thì thấy cô vợ mình đang ngồi bên kia bàn nhìn tôi cười toe toét. Chẳng hiệu sao thấy nụ cười và bản mặt của nàng, tự nhiên tôi thấy miếng súp tôi đang ngậm trong miệng đắng chát và thấy ăn hết ngon. Tôi cố nhịn nhưng rồi chẳng thể nào nhịn được nên tất cả đồ ăn thức uống vừa ăn vào đều bị nôn thốc, nôn tháo ra ngoài. Ngay sau đó, tôi ra phố mua cho mình một miếng vải bịt mắt và kể từ ngày ấy tôi dùng nó bất cứ lúc nào khi có nàng ở cạnh.
Điều lạ lùng là nàng Hallie tuy có thân hình xấu xí và nhan sắc không quyến rũ nhưng lại rất thủy chung và yêu thương chồng. Khi được hỏi cảm nghĩ của nàng như thế nào khi phải sống bên cạnh người chồng có thói quen kỳ quặc như vậy, nàng đã thản nhiên cho biết:
- Mỗi người có một thói quen, một sở thích. Vì vậy khi lấy nhau, mình cũng phải biết tôn trọng những thói quen và những sở thích đó. Em thì em cũng thích anh ấy sống với em mà không bịt mắt để hai vợ chồng vui vẻ nhìn nhau một cách tình tứ. Nhưng nếu anh ta không thích nhìn em thì em cũng đành chịu chứ biết làm thế nào. Dù sao thà anh ấy bịt mắt mà sống bên cạnh em đến trọn đời còn hơn hai đứa phải ly dị.
Trước đây, khi thấy chồng bịt mắt, cô Hallie cũng buồn bã lắm và đã tính đến chuyện đi giải phẫu thẩm mỹ. Nhưng phần vì tiền bạc không có, phần nghĩ thói quen của mình đã vậy có giải phẫu về một thời gian thì cũng lại mập mạp xấu xí như xưa nên cô Hallie dẹp luôn chuyện đó. Mấy tháng sau, cô Hallie có đề nghị với chồng là cô sẽ chùm vải kín mặt nhưng ông Augie không chịu.
Riêng ông Augie cũng xác nhận, mặc dù không cảm thấy hạnh phúc mỗi khi nhìn hoặc nghĩ đến hình hài của vợ nhưng ông tuyệt nhiên không bao giờ nghĩ đến chuyện ly dị. Ông thường tuyên bố với bằng hữu, song thân và các anh chị em trong gia đình ông:
- Trước khi cưới vợ lấy chồng, tha hồ chọn lựa. Nhưng nếu đã lấy nhau rồi thì phải sống với nhau cho đến trọn đời. Còn sống với nhau có điều gì không hạnh phúc thì phải nói thẳng. Nếu cảm thấy không nhìn thấy bộ mặt xấu xí của nhau cuộc sống gia đình có phần hạnh phúc hơn thì cũng nên thẳng thắn làm chứ chẳng cần phải chịu đựng khốn khổ mà làm gì sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc của hai người.
Lạ lùng là suốt thời gian hai người sống chung với nhau, nhất là từ khi ông Augie quyết định bịt mắt không muốn nhìn bản mặt của vợ, cả hai vợ chồng đều không bao giờ to tiếng, cãi cọ nhau. Ngay cả hàng xóm láng giềng, gia đình của cả hai người cũng thừa nhận hai vợ chồng bao giờ cũng giải quyết mọi chuyện xích mích trong sự êm thắm và hiểu biết. Lạ lùng hơn nữa, trong khi Hallie thì uống rượu như hũ chìm bất kể ngày đêm, thì trái lại, ông Augie cả đời chỉ biết uống có nước suối.
Cách đây không lâu, có một thiếu nữ nhan sắc khá xinh đẹp vô tiệm của anh Augie mua cá và đã yêu anh mê mệt. Cô nàng này có gia sản, sự nghiệp vững vàng lại chưa bao giờ có gia đình. Nhưng suốt thời gian hai tháng trời tỏ tình bằng lời, bằng thư và gửi tặng kỷ vật, anh Augie vẫn trước sau một mực từ chối.
Anh Augie mỉm cười kết luận: "Hallie có xấu xí, hình hài có ghê gớm nhưng nàng cũng là vợ tôi. Đâu có phải chỉ vì tôi không muốn nhìn vợ tôi suốt bao nhiêu năm qua là vội vã cho rằng tôi là kẻ trăng hoa thích chuyện lá gió cành chim, đi tìm một người đàn bà khác đẹp đẽ hơn vợ mình. Tôi biết, tôi tuy tàn nhẫn với nàng nhưng tình chồng nghĩa vợ có những điều thiêng liêng, nên tôi đâu có thể bắt chước những thằng đàn ông bê tha vợ nọ con kia, đi bỏ nàng mà theo hình bóng một người đàn bà khác."
Địa đàng không phải ở phương Tây...
Nguyễn Văn Tuấn
LTS: Phát hiện mới nhất về nguồn gốc của heo ở các vùng Nam Đảo vừa được báo chí phương Tây đồng loạt đưa tin, một lần nữa cung cấp thêm bằng chứng khoa học và khách quan cho thấy Đông Nam Á từng là một trung tâm văn minh nông nghiệp. Đây cũng là đề tài mà TS Nguyễn Văn Tuấn nghiên cứu từ nhiều năm qua. Tòa soạn xin giới thiệu cùng bạn đọc
Đông Nam Á là một trong những vùng đất với nhiều sắc dân và nhiều nền văn minh phong phú nhất và cổ nhất của nhân loại. Về mặt địa lý, có hai khu vực riêng biệt: một khu thuộc về đất liền và một khu thuộc về hải đảo. Khu vực đất liền thực ra gồm hai bán đảo: khu rộng lớn bao gồm Myanmar thuộc hướng Đông Bắc, Thái Lan ở giữa, và Lào, Campuchia, và Việt Nam thuộc hướng Đông và Đông Nam; khu nhỏ hơn bao gồm bán đảo Mã Lai, chạy dài từ Thái Lan xuống tận Myanmar.
Thành kiến của giới thiệu nghiên cứu phương Tây
Myanmar có nhiều chùa chiền được kiến trúc một cách phi thường, nhiều lâu đài được chạm khắc rất tinh vi. Ở miền Bắc Thái Lan cũng còn lưu lại nhiều công trình kiến trúc vĩ đại mang đậm ảnh hưởng của Phật giáo. Vịnh Hạ Long thuộc phía Bắc Việt Nam trồi lên những tác phẩm thiên nhiên như được chạm bằng đá vôi, mà có lẽ từng là một vùng lục địa khoảng 10.000 năm trước đây. Cổ Loa, một huyện nhỏ của Việt Nam ngày nay, có lẽ là một trung tâm đô thị (hay một tp) đầu tiên của vùng Đông Nam Á, với niên biểu được ước đoán vào khoảng niên kỷ thứ ba trước Công nguyên. Những công trình kiến trúc ở Huế và Đà Nẵng cho thấy sự tương phản giữa hai nền văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ. Tp Huế, tuy lâu đời hơn, nhưng có nhiều công trình kiến trúc trẻ hơn tp Đà Nẵng, nơi mà nhiều tháp Chăm còn lưu lại như những dấu ấn của văn minh Ấn Độ. Campuchia có đền Angkor Wat nổi tiếng và nhiều dấu vết của một nền văn minh sáng chói trước đây.
Chủ nhân của những công trình này là ai? Sách giáo khoa thường viết rằng chủ nhân hoặc là người Trung Hoa hoặc là người Ấn Độ, chứ không phải người địa phương Đông Nam Á! Quan điểm này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, và đã bám rể vào một bộ phận không nhỏ trong chúng ta.
Với một lịch sử lâu đời và nhiều nền văn minh phong phú như thế, song Đông Nam Á lại không được các nhà sử học để ý đến như các vùng đất khác. Đây là một ví dụ về thành kiến của giới sử học Tây phương. Khoảng 200 năm trước đây, các nhà sử học phát hiện rằng phần lớn hai họ ngôn ngữ Ấn và Âu (Indian và European) thuộc vào một họ ngôn ngữ mà ngày nay chúng ta gọi là nhóm Ấn - Âu (Indo-European language group). Khám phá này được đánh giá như là một thành quả vĩ đại của tri thức vào thời gian đó. Nhưng mỉa mai thay, trước đó vài năm, người ta đã phát hiện một nhóm ngôn ngữ khác, có tên là Austronesian, nhưng phát hiện này chẳng đem lại một sự chú ý nào đáng kể trong giới khoa bảng Tây phương cả! Nhóm ngôn ngữ này rất phổ biến, từ các vùng như Madagascar, Đài Loan, Hawaii và Tân Tây Lan, vượt Thái Bình Dương đến tận Ấn Độ Dương khá lâu, có thể trước khi Phật Thích Ca ra đời.
Sách viết về nguồn gốc văn minh thế giới hoàn toàn không đề cập đến Đông Nam Á. Ngay cả khi đề cập đến khu vực này trong vài năm gần đây, các sách cũng chỉ viết một cách sơ sài vài hàng, với giọng văn thiếu nghiêm túc, nhưng lại tập trung vào hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, nhất là vào khoảng 2.000 năm trước đây. Mãi đến thời gian gần đây, văn minh của Thời đại Đồng thiết Đông Sơn (Bronze Age) và các nền văn hóa trước đó (vào niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên) của Việt Nam mới được công nhận như là văn minh nguyên thủy của khu vực Đông Nam Á.
Nhưng một loạt phát hiện mới trong những năm gần đây cho thấy giả thuyết Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước đã khai hóa hay truyền bá văn minh cho các nước thuộc vùng Đông Nam Á không còn đứng vững nữa. Các phát hiện này cụ thể như sau:
Nguồn gốc lúa nước: Đông Nam Á
Theo Stephen Oppenheimer trong Eden in the East (Địa đàng ở phương Đông, Nxb Lao động, 2005), Đông Nam Á từng là trung tâm của cuộc cách mạng thời đại đồ đá mới (Neolithic Revolution), bắt đầu phát triển kỹ thuật trồng trọt, dùng đá để nghiền hạt lúa, vào khoảng 24.000 năm trước đây, tức là trước cả Ai Cập và Palestine khoảng 10.000 năm.
Thực vậy, phát hiện về hạt lúa ở hang Sakai (miền Bắc Thái Lan) gần đây cho thấy cư dân ở đây đã biết trồng lúa có thể trước cả thời kỳ nước biển dâng cao vào khoảng 8.000 năm về trước, ít nhất là từ thiên niên kỷ thứ 6 hay thứ 7 trước Công nguyên. Hệ thống nông nghiệp được tìm thấy ở Indonesia có niên biểu lâu đời hơn cả thời đại mà những thành tựu được xem là "cách mạng" về trồng lúa ở Trung Quốc. Thực vậy, ở Indonesia, kỹ thuật về trồng khoai lang và khoai nước được ước đoán có tuổi từ 15.000 đến 10.000 năm trước Công nguyên. Ở Việt Nam, phát hiện ở Phùng Nguyên bằng kỹ thuật định tuổi (dùng Carbon-14) cho thấy cư dân ở đây từng trồng trọt ngũ cốc khoảng 5.000 đến 6.000 năm trước đây, tức là còn sớm hơn nhiều niên biểu của những thành tựu của người Trung Hoa. Ngoài ra, nhà khảo cổ học uy tín gốc Mỹ, giáo sư Wilhelm G. Solheim II, trong một loạt nghiên cứu từ năm 1965 đến 1968, cho thế giới thấy nền văn minh Hòa Bình là nền văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới, khoảng 15.000 năm trước Công nguyên. Một nhà khảo cổ học danh tiếng khác người Úc, giáo sư Peter Bellwood, cho rằng quê hương nguyên thủy của cây lúa nước rất có thể là ở chung quanh vùng Đông Dương - Mã Lai - Myanmar, vì ở đây khí hậu nhiệt đới là môi trường thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp.
Di truyền học
Trước và đặc biệt là trong, thời kỳ nước biển dần dần dâng cao (khoảng 8.000 năm trước), người Đông Nam Á di dân đến những vùng đất láng giềng: miền Nam Trung Quốc ngày nay, Ấn Độ, Mesopotamia và vài hòn đảo từ Madagascar đến Philippines, Tân Guinea, và sau này họ chiếm luôn vùng Polynesia cho đến Hawaii và Tân Tây Lan. Các dữ kiện di truyền học chứng minh rằng các sắc dân trong quần đảo như Tân Guinea, Polynesia, Melanesia, v.v... có cấu trúc di truyền tố giống với các sắc dân thuộc vùng Đông Nam Á ngày nay. Gần đây, còn có một số nghiên cứu di truyền học cho thấy người Hán miền Nam Trung Quốc có nguồn gốc từ Đông Nam Á.
Trong quá trình di cư, họ đem theo ngôn ngữ, truyền thuyết, quan niệm tôn giáo, kinh nghiệm thiên văn, yêu thuật và đẳng cấp xã hội đến các vùng đất mới. Thực vậy, ngày nay, dấu vết của cuộc di dân trên vẫn còn ghi đậm trong các quần đảo Melanesia, Polynesia và Micronesia; dân chúng những nơi này nói tiếng thuộc hệ ngôn ngữ Austronesian có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Có lẽ người ta không ngạc nhiên khi thấy trong các dân tộc vùng Đông Nam Á, Trung Đông, Úc châu và Mỹ châu đều có những câu chuyện thần thoại về trận lụt vĩ đại này, và các câu chuyện này có độ tương tự rất cao. Điều này chứng tỏ rằng các sắc dân này xuất phát từ một nền văn hóa nguyên thủy. Có thể người Đông Nam Á, những nhà nông đầu tiên thế giới, chính là những người thầy ở các vùng đất mới, dạy người địa phương những kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi.
Nguồn gốc heo: Đông Nam Á
Trong quá khứ (trước khi công nghệ sinh học ra đời), các nhà khảo cổ học dựa vào những di chỉ khảo cổ học (chủ yếu là xương sọ) được khai quật từ nhiều vùng khác nhau để đặt giả thuyết và tìm câu trả lời về nguồn gốc heo. Theo các di chỉ này, heo được thuần hóa vào khoảng 9.000 năm về trước ở vùng mà ngày nay thuộc miền Đông Thổ Nhĩ Kỳ. Ngoài ra, cũng có các di chỉ khảo cổ học cho thấy (hay được diễn dịch) là heo cũng từng được thuần hóa vào khoảng thời gian này tại Trung Quốc ngày nay.
Nhưng vài thập niên gần đây, với sự phát triển phi thường của di truyền học và sinh học phân tử, giới khoa học đã có một phương tiện mới, chính xác hơn và đáng tin cậy hơn để truy tìm nguồn gốc heo. Phương tiện đó chính là gien, hay nói chính xác hơn là DNA.
Một nghiên cứu quy mô nhất từ trước đến nay về nguồn gốc heo được tiến hành với sự hợp tác giữa các nhà di truyền học Mỹ và Thụy Điển. Qua phân tích xu hướng phân bố và đồng dạng DNA của các giống heo (700 con) trên thế giới, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng tổ tiên của heo ngày nay chính là heo rừng và quê hương của heo rừng nguyên thủy này chính là vùng Đông Nam Á ngày nay. Sau khi được thuần hóa ở Đông Nam Á, heo tản mát theo con người đến các vùng Âu - Á (Eurasia), vượt biển đến Âu châu và ra các bán đảo Thái Bình Dương. Sau khi tản mát ra khỏi Đông Nam Á, heo được tiếp tục thuần hóa nhiều lần ở nhiều vùng tại Trung Quốc, vùng cận đông và Âu châu.
Một nghiên cứu di truyền mới nhất qua phân tích DNA các giống heo thuộc các hải đảo Thái Bình Dương và đặc biệt là heo không lông thuộc đảo Vanuatu, các nhà nghiên cứu Úc và Mỹ khẳng định rằng heo tại các hải đảo này cũng xuất phát và được thuần hóa từ lục địa Đông Nam Á (đặc biệt là từ Việt Nam) khoảng 3.000 năm trước đây. Sau đó, chúng theo con người "di dân" ra khỏi lục địa và đến các hải đảo như Vanuatu và Ryukyu. Ngoài ra, các giống heo tại các hải đảo này cũng có "hồ sơ" DNA rất giống với heo ở Âu châu.
Nguồn gốc gà: Đông Nam Á
Hiện nay trên thế giới, người ta thống kê có tất cả 175 giống gà khác nhau, và tất cả đều xuất thân từ loài chim rừng màu đỏ có tên [tiếng Anh] là Red Jungle Fowl, và tên khoa học là Gallus gallus. Theo các tài liệu khảo cổ học và dựa vào các di vật khảo cổ, giới khoa học cho rằng loài chim này được con người thuần dưỡng vào khoảng 4.000 năm trước đây tại vùng thung lũng Indus (tức Pakistan ngày nay). Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học Trung Quốc dựa vào các di chỉ tìm thấy trong các vùng thuộc sông Hoàng Hà (Yellow River) cho rằng Trung Quốc mới là nơi đầu tiên thuần dưỡng các loài gia cầm như gà và ước tính thời điểm thuần hóa gà xảy ra vào khoảng 6.000 đến 7.500 năm trước đây. Nhưng thời điểm này cũng bị nghi ngờ, bởi vì khí hậu và môi trường miền Bắc Trung Quốc không thể là nơi lý tưởng cho loài gà rừng Red Jungle Fowl được.
Trong hai công trình nghiên cứu quan trọng công bố trên tập san Viện hàn lâm khoa học quốc gia Mỹ, một nhóm khoa học gia Nhật so sánh cấu trúc di truyền của 21 giống gà nuôi thuộc gia đình Gallus gallus từ Thái Lan, Nam Dương, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật, Sri Lanka, v.v... và phát hiện rằng giống gà ở Thái Lan có hệ số phong phú di truyền cao nhất, tức là giống gà ở đây có độ tuổi di truyền cao nhất. So sánh DNA gà Đông Nam Á và DNA các giống gà khác trên thế giới, các nhà nghiên cứu Nhật đi đến kết luận rằng tất cả các giống gà nuôi trên thế giới ngày nay xuất phát từ một giống gà từng sống (hay được thuần dưỡng) tại một vùng đất mà ngày nay thuộc Thái Lan và Việt Nam. Họ còn ước tính rằng thời điểm thuần hóa gà rừng tại Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam bắt đầu vào khoảng 8.000 năm về trước.
Trong cuốn Origin of species, Darwin cũng từng khẳng định rằng tất cả các giống gà nuôi trên thế giới đều có nguồn gốc từ gà rừng Đông Nam Á. Trong một bài viết cho tập san National Geographic, W. G. Solheim II nhận xét rằng Đông Nam Á là nơi phát triển nền chăn nuôi đầu tiên trên trái đất.
Tất cả những bằng chứng này cho thấy Đông Nam Á có thể là một cái nôi văn minh nông nghiệp đầu tiên của con người và cư dân tại đây rất có thể là những người phát minh ra kỹ thuật trồng lúa nước, chăn nuôi và truyền các kỹ thuật này lên phía Bắc (tức miền Nam Trung Quốc ngày nay). Phát hiện mới nhất về nguồn gốc heo và gà (và trước đó, chó) từ Đông Nam Á cung cấp thêm một cơ sở để suy luận rằng trong quá trình định cư và phát triển nông nghiệp, người Đông Nam Á cổ đã thuần dưỡng giống gà rừng và từ đây giống gà này được truyền bá đến miền Nam Trung Quốc và từ Trung Quốc "di cư" sang Âu châu. Những phát hiện này, cộng với những di chỉ khảo cổ học và di truyền học mới nhất củng cố thêm cho giả thuyết Đông Nam Á là một trung tâm văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới.
Địa đàng ở phương Đông (*)
Cuốn sách gây chấn động trong giới nghiên cứu phương Tây. Phải chăng phương Đông, cụ thể là khu vực Đông Nam Á, là cái nôi cổ của văn minh nhân loại?
Bạn đọc đang cầm trên tay một cuốn sách rất quan trọng về lịch sử văn minh và văn hóa Đông Nam Á. Cuốn sách thực chất là một công trình nghiên cứu văn minh và văn hóa thời tiền sử, và có liên quan mật thiết đến Việt Nam. Cuốn sách này đã làm cho Tây phương, và sẽ làm cho bạn đọc, thay đổi cái nhìn cố hữu về văn minh và văn hóa Đông Nam Á. Để làm sáng tỏ hơn câu phát biểu trên, tôi muốn có vài hàng thưa chuyện cùng bạn đọc về những diễn biến dẫn đến sự ra đời và ý nghĩa của tác phẩm này.
Trước thập niên 1960, thế giới nói chung vẫn xem Đông Nam Á là một vùng nước đọng của lịch sử nhân loại, nơi mà các cơn lốc văn minh và văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ, hay thậm chí Đông Âu, đi qua và thỉnh thoảng để lại dấu tích. Một quan điểm gần như "chính thống" của đại đa số giới học giả Tây phương là văn hóa Đông Nam Á chỉ là một sự pha trộn văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa, và văn minh Đông Nam Á chẳng có phát kiến gì đáng kể.
Cuốn sách này sẽ làm cho bạn phải suy nghĩ lại và sẽ thay đổi những định kiến trên. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy người Đông Nam Á có lẽ là một tộc người cổ nhất thế giới và là tổ tiên của người miền Nam Trung Quốc ngày nay. Qua những dữ kiện dồi dào được thu thập một cách công phu từ nhiều ngành nghiên cứu khác nhau được trình bày trong sách, bạn đọc sẽ nhận thức rằng Đông Nam Á là nơi phát triển nền nông nghiệp sớm nhất và có thể là quê hương của kỹ nghệ kim loại đầu tiên trên thế giới. Những kỹ thuật này đã được truyền đi khắp thế giới qua làn sóng di cư vĩ đại xuất phát từ Đông Nam Á. Những khám phá mà nói theo nhà khảo cổ học danh tiếng người Mỹ, Wilhelm G. Solheim II, làm cho người ta phải suy nghĩ lại vai trò và vị trí của người phương Tây trong quá trình tiến hóa của văn hóa thế giới, bởi vì có nhiều bằng chứng cho thấy một cách hùng hồn rằng Đông Nam Á (chứ không phải Trung Quốc hay Ấn Độ) có thể là nơi đã đặt một số nền tảng đầu tiên cho văn minh của nhân loại.
Người viết lời giới thiệu này có may mắn đã đọc Eden in the East và đã có dịp giới thiệu cuốn sách đến bạn đọc Việt Nam qua Tạp chí Tia Sáng. Nay, có cơ hội viết lời giới thiệu cho bản tiếng Việt của một cuốn sách viết bằng tiếng Anh là một vinh hạnh cho người viết, bởi vì tôi thấy những câu trả lời khoa học của cuốn sách đã vượt biên giới quốc gia, âu cũng là một ước muốn của tác giả và những người tổ chức dịch và xuất bản cuốn sách này sang tiếng Việt. Trước khi viết những dòng giới thiệu này, người viết đã đọc hết bản dịch và người viết rất phấn khởi thấy bản dịch có chất lượng cao, vì người dịch tỏ ra trân trọng với tiếng Việt và cẩn thận với các thuật ngữ chuyên môn. Cuốn sách quả xứng đáng có trong tủ sách văn minh và văn hóa của bạn đọc.
Nguyễn Văn Tuấn
Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn (Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Úc)
(*) Tác giả: Stephen Oppenheimer. Lê Sĩ Giảng, Hoàng Thị Hà dịch từ nguyên tác tiếng Anh: Eden of the East.
|